MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản vô giá trong kho tàng lịch sử tư tưởng Việt Nam. Đó
là tư tưởng của “Người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất”, người chiến
sĩ lỗi lạc của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,
người thầy vĩ đại, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc và cách mạng Việt Nam.
Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng
và kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta và của cách mạng Việt Nam.
Việc nghiên cứu, làm sáng tỏ hơn nữa tính cách mạng và tính khoa học sâu sắc cũng
như giá trị to lớn, nhiều mặt của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam
trước đây cũng như trong giai đoạn hiện nay là đòi hỏi cấp thiết có ý nghĩa thời đại to
lớn.
Lương tâm, trách nhiệm, lòng kính yêu lãnh tụ và tinh thần khoa học đã và đang cuốn
hút hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài nước say mê nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Trong di sản tư tưởng phong phú và vô giá của Hồ Chí Minh có tư tưởng: Phát triển
con người toàn diện, một tư tưởng nhân văn rất đặc sắc. Đây là sự tiếp nối và nâng cao
những giá trị tinh túy nhất tư tưởng nhân văn của truyền thống Việt Nam và thế giới. Đây
cũng là sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng con người của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh đã góp phần to lớn vào việc
đào tạo cho dân tộc Việt Nam những người con ưu tú, đủ sức đưa dân tộc Việt Nam vượt
qua muôn vàn khó khăn, thử thách hiểm nghèo, liên tục giành được những thắng lợi ngày
càng to lớn, làm thay đổi tận gốc địa vị của dân tộc Việt Nam trên chính trường thế giới.
Thực tế vinh quang đó đến nay đang được nghiên cứu và tổng kết.
Hồ Chí Minh là bậc “Đại trí, đại nhân, đại dũng”, là điển hình của con người phát triển
toàn diện về thể lực, đạo đức. trí tuệ, tài năng, là hình mẫu sinh động của con người hiện
tại và tương lai.
Cho nên nghiên cứu, giới thiệu, phổ biến tư tưởng phát triển con người toàn diện, của
một người thực sự đã phát triển mọi mặt cá nhân mình là điều cực kỳ lý thú, bổ ích. Việc
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu từ
lâu, đặc biệt là sau Đại hội lần thứ II (6- 1991) của Đảng cộng sản Việt Nam. Nhà nước
đã thành lập Hội đồng quốc gia nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhiều đề tài khoa học
cấp Nhà nước về tư tưởng Hồ Chí Minh đã được nghiệm thu.
Trong lĩnh vực tư tưởng nhân văn, trong vấn đề con người, nhiều nhà nghiên cứu đã
công bố những công trình khoa học có giá trị.
Liên quan trực tiếp đến vấn đề giáo dục, đào tạo, phát triển con người của Hồ Chí
Minh. GS Vũ Khiêu có bài: “Trồng cây và trồng người”. Tạp chí Triết học số 4/1990,
PGS Song Thành có bài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và chiến lược trồng
người”, Tạp chí Công tác khoa giáo số tháng 12/1997; GS.TS Phạm Minh Hạc trong
phần III cuốn “Phát triển giáo dục phát triển con người, phục vụ phát triển xã hội - kinh
tế, Nxb KHXH - 1996 cũng đã đề cập một cách khá sâu sắc tư tưởng giáo dục, đào tạo
của Hồ Chí Minh. Gần đây nhất (năm 2001), PGS. TS Thành Duy đã cho ra mắt công
trình “Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam phát triển
toàn diện”.
Những công trình này đã nêu lên và khát quát được những nét lớn, chủ yếu trong tư
tưởng giáo dục, đào tạo, phát triển con người của Hồ Chí minh. Một số bắt đầu đi vào
khai thác, nghiên cứu những khía cạnh cụ thể của tư tưởng đó và cũng đã nêu lên những
ý kiến đặc sắc.
Song nhìn chung, các công trình nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục đào tạo phát triển con
người của Hồ Chí Minh chưa nhiều, còn thiếu những công trình quy mô, xứng đáng với
tầm vóc của vấn đề này trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Hơn nữa, do khuôn khổ
chung của việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, hoặc do giới hạn của một bài nghiên
cứu, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về con người nói chung và giáo dục đào tạo,
phát triển con người nói riêng vẫn còn nhiều mặt, nhiều nội dung chưa được đề cập đến
nhất là vấn đề đào tạo, phát triển con người một cách toàn diện để tạo ra những con người
Việt Nam phát triển về mọi mặt: đức, trí, thể, mỹ; “hồng đến nơi, chuyên đến chốn”, vấn
quan.
- Luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là phương pháp phân tích - tổng hợp; lôgíc-lịch sử, thống
kê, so sánh v.v...
5. Cái mới của luận án
Luận án phân tích, hệ thống hóa và làm sáng tỏ những nội dung cơ bản tư tưởng phát
triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh; góp phần làm sâu sắc thêm tư tưởng nhân
văn Hồ Chí Minh.
Luận án luận chứng sự cần thiết phải vận dụng và phát huy tư tưởng phát triển con
người toàn diện của Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng con người mới ở Việt Nam
hiện nay.
6. Ý nghĩa luận án
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy môn học
tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học và cao đẳng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương, 7
tiết.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN CON
NGƯỜI TOÀN DIỆN
1.1 TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO, PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI CỦA DÂN
TỘC VIỆT NAM - CỘI NGUỒN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT
TRIÊN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN
Trong những dòng chảy hợp thành của lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng đào tạo
phát triền con người là một bộ phận quan trọng, góp phần làm nên giá trị to lớn, nhiều
mặt của tư tưởng truyền thống Việt Nam. Có thể nói, từ rất sớm, cha ông ta đã hết sức
quan tâm đến vấn đề sống còn này của đất nước. Trải bao thăng trầm của lịch sử, bao sự
hưng vong của các triều đại tư tưởng đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam
chỉnh để giáo dục, đào tạo, phát triển con người với nội dung khá sâu sắc. Hơn nữa, Nho
giáo còn xây dựng được mẫu người lý tưởng cho xã hội phong kiến đó là những người
“quân tử”, những “kẻ sĩ”, những “đại trượng phu mà ở họ các năng lực, phẩm chất về mặt
tinh thần được coi trọng và đề cao. Điều này khá phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội
cũng như tư tưởng, tâm lý của dân tộc Việt Nam vấn đề cao đạo làm người, tôn vinh tinh
thần xả thân vì Tổ quốc và nhân dân của các thành viên trong cộng đồng. Nho giáo còn
đề ra những phương sách cụ thể để đào tạo phát triển con người, trong đó nhấn mạnh yếu
tố tự giác “tu thân” của các cá nhân - có ý nghĩa quyết định - đó là điều đáng ghi nhận
trong lý luận giáo dục, đào tạo, phát triển con người bởi nó đề cao tính chủ động của con
người trước hoàn cảnh.
Nảy sinh và phát triển trên mảnh đất hiện thực đó, đồng thời bị qui định bởi những điều
kiện mang tính khách quan của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước, tư
tưởng đào tạo, phát triển con người của dân tộc Việt Nam đã góp phần quan trọng đào tạo
cho đất nước, cho các triều đại phong kiến Việt Nam không ít những người “văn võ song
toàn” những người “hiền tài” những anh hùng dân tộc, có đóng góp lớn cho sự nghiệp
bảo vệ và phát triển đất nước, làm rạng danh dân tộc, dòng họ và gia đình, để lại tấm
gương muôn đời về lòng yêu nước, thương người, về tinh thần kiên cường, bất khuất, sự
mưu trí dũng cảm, tinh thần quên mình vì dân vì nước như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô
Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn,
Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình
Phùng, Phan Bội Châu... Họ là niềm tự hào của dân tộc.
Nghiên cứu triết lý, nội dung giáo dục, đào tạo, phát triển con người của ông cha ta
trong suốt chiều dài lịch sử, chúng ta thấy những điểm đáng chú ý sau:
Thứ nhất: Tuy sống trong chế độ phong kiến, bị giới hạn bởi điều kiện kinh tế - xã hội
của một nước phương Đông, của phương thức sản xuất châu Á đồng thời lại chịu ảnh
hưởng của thế giới quan Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo... Song, cha ông ta cũng đã có
cách nhìn biện chứng - dù còn ở trình độ chất phát, thô sơ, cảm tính về nguồn gốc, bản
chất con người cũng như quá trình vận động và phát triển của nó. Trong “Khóa hư lục”,
cũng là tác nhân quan trọng nhất của mọi sự vận động và biến đổi xã hội. Hành động của
con người trong xã hội không những bị chi phối bởi điều kiện khách quan mà còn chịu sự
tác động rất lớn của nhân tố chủ quan như lý tưởng, quan điểm sống, trình độ hiểu biết,
năng lực thực tiễn, nhu cầu lợi ích... Vì vậy, để có những con người sẵn sàng xả thân vì
quê hương, đất nước, vì cuộc sống yên lành của nhân dân, vì tương lai tươi sáng của dân
tộc, sống trung thực, nhân nghĩa, thủy chung, có ý chí, năng lực làm những việc “ích
quốc, lợi dân” thì gia đình, nhà trường và xã hội phải quan tâm giáo dục con người về
mọi mặt. Con người khi đã ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình đối với cộng đồng,
gia đình, anh em, bè bạn... thì họ sẽ tự nguyện, tự giác đứng ra gánh vác những nhiệm vụ
khó khăn, gian khổ mà Tổ quốc và nhân dân giao phó, không tính toán “được”, “mất”,
“thiệt”, “hơn” thậm chí cả sự hy sinh của bản thân.
Nội dung giáo dục, bồi dưỡng đạo lý làm người của ông cha ta là sự kết hợp những giá
trị văn hóa, văn hiến dân tộc như “thương người như thể thương thân”, “bầu ơi thương
lấy bí cùng”, “lá lành đùm lá rách”, “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng
cây”; là nhân nghĩa, thủy chung, sắt son; là tinh thần đoàn kết để vượt qua những khó
khăn, thử thách “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”; là tinh
thần kiên cường, bất khuất “chết vinh còn hơn sống nhục”...với những tư tưởng, “từ bi,
hỷ xả”, “cứu khổ, cứu nạn” của Phật giáo; “vô vi: của Lão giáo; “tam cương, ngũ
thường”,”nhân nghĩa”, “cần, kiệm, liêm, chính”, “tứ đức”... của Nho giáo. Tất cả hợp
quyện lại tạo thành những nội dung cơ bản để giáo dục, bồi dưỡng lẽ sống, niềm tin, cách
xử thế cho các thế hệ người Việt Nam.
Trong nội dung giáo dục đạo làm người, cái mà cha ông ta hết sức coi trọng đó là “giáo
dục con người giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề trung”, “hiếu”, với “ái quốc”,.
"Trung" là khái niệm của Nho giáo, phản ánh một :trong ba mối quan hệ rường cột của
xã hội phong kiến (tam cương), đó là quan hệ vua- tôi. Quan hệ vua - tôi là quan hệ có
tính chất phụ thuộc, tôi phải phục tùng vua không điều kiện, thậm chí vua bảo chết cũng
không được từ.
Chữ “hiếu” đối với Nho giáo cũng rất quan trọng. Nó được coi là nền tảng triết lý, là
Trần Hưng Đạo - một hiền tài đời Trần, không vì chữ “hiếu” mà theo lời trăng trối của
cha giành lại ngôi vua về tay mình, dù lúc ấy ông có tất cả điều kiện để thực đó ý tưởng
đó của cha là Trần Liễu. Bởi hơn ai hết, ông hiểu trong cảnh nước sôi lửa bỏng, vận mệnh
đất nước đang lâm nguy trước sự xâm lược của quân Nguyên - Mông thì cái cái chính
yếu của tất cả con dân nước Việt lúc này là phải đánh giặc cứu nước. Trần Hưng Đạo đã
hành động theo tiếng gọi của non sông chứ không theo lời trăng trối của người cha ích kỷ
.
Vào đầu thế kỷ 15, đất nước ta bị quân Minh đô hộ, hầu hết triều thần nhà Hồ bị bắt và
đưa về phương Bắc. Trong tình cảnh đau thương đó vẫn sáng ngời lên lòng yêu nước của
con người Việt Nam. Cuộc chia ly giữa Nguyễn Trãi với cha là Nguyễn Phi Khanh cùng
lời nhắc nhở, dặn dò của ông với Nguyễn Trãi: Không nên đi theo cha mà cần phải quay
về lo cứu dân, cứu nước, đó mới là chữ “hiếu” lớn nhất. Những lời tâm huyết đó của hiền
nhân Nguyễn Phi Khanh đã góp phần quan trọng làm nên một anh hùng dân tộc, một nhà
văn hóa lớn của Việt Nam và thế giới: danh nhân Nguyễn Trãi.
Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp, Phan Huy Ích... thế kỷ 18 đều là những người trưởng
thành dưới triều Lê. Sự mục nát của nhà Lê mà đỉnh cao của nó là việc Lê Chiêu Thống
vì lợi ích của dòng họ và bản thân đã bán rẻ đất nước cho nhà Thanh. Trong bối cảnh đó,
lòng yêu nước đã đưa các ông vượt qua chữ “trung” thông thường để đến với anh hùng áo
vải Quang Trung - người đang đại diện cho tinh thần quật cường của dân tộc - Công lao
của hiền tài Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp, trong việc đại phá quân Thanh, bảo vệ non
sông, đất nước cũng như giúp Quang Trung kiến thiết lại nước nhà, đã được sử sách công
nhận nhân dân ghi nhận một cách sâu sắc.
Nửa cuối thế kỷ XIX, khi triều đình nhà Nguyễn hèn nhát, một mặt liên tiếp cắt đất
dâng cho thực dân Pháp xâm lược, mặt khác lại ra lệnh cho nhân dân các địa phương phải
bãi binh, ngừng chiến đấu. Trong bối cảnh đó, danh tướng Trương Công Định đã khẳng
khái tuyên bố: Triều đình hòa nghị thì cứ hòa nghị, việc của Định thì Định cứ làm, Định
không nỡ ngồi nhìn giang sơn chìm đắm. Và ông kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiếp tục
kháng chiến.
đáo đạo lý làm người thì cần phải học, bởi “nhân bất học bất tri lý”. Những đức tính đó là
Nhân, Trí, Tín, Trực, Dũng, Cương, song nếu không học để hiểu rõ lẽ phải trái thì kết quả
đạt được sẽ có thể ngược lại. Theo quan điểm của cha ông ta, "nhân" mà không học thành
ngu; "trí" mà không học thành phóng đãng; "tín" mà không học thành hẹp hòi, cố chấp;
"trực" mà không học thành ngang ngạnh; "dũng" và "cương" mà không học thành loạn.
Vì vậy, việc giáo dục kiến thức về mọi mặt, nâng cao sự hiểu biết cho mọi người để họ
nhận thức được lẽ phải, trái, hiểu thấu đáo làm người là vấn đề vô cùng quan trọng để con
người nhận thức đúng đắn, hành động tích cực, phấn đấu hết sức mình cho sự phồn vinh
của đất nước và hạnh phúc của nhân dân.
Hiếu học là truyền thống lâu đời của nhân dân ta. Truyền thống đó được cha ông ta hết
sức coi trọng. Vì vậy, trong nội dung giáo dục đạo làm người, cha ông ta rất chú ý giáo
dục, bồi dưỡng lòng hiếu học, tinh thần vượt mọi khó khăn để học tập của con người Việt
Nam. Nhằm động viên, khuyến khích mọi người hăng hái học tập, cha ông ta đã sáng tạo
ra nhiều hình thức biểu dương, cổ vũ như: Vào những ngày sóc, vọng hàng tháng (mùng
1 và ngày rằm) trường Quốc Tử Giảm và các trường học ở huyện, tỉnh thường tổ chức
các cuộc khảo khóa, bình văn. Những văn bài hay của các nho sĩ được đem đọc và bình
luận, khen chê. Điều này có tác dụng to lớn cổ vũ học trò, sĩ tử say mê, cố gắng học tập
đồng thời lôi cuốn mọi người hăng hái tham gia học tập, rèn luyện văn chương, võ nghệ.
Các hình thức nêu danh, yết bảng các sĩ tử thi đỗ, việc khắc tên vào bảng vàng, bia đá,
việc tổ chức lễ vinh quy bái tổ cho các ông nghè về làng cùng với sự ban thưởng ân tứ
của vua đã cổ vũ lớn lao cho việc học.
Giáo dục nền nếp, trật tự, kỷ cương, gia phong.
Chính danh định phận là một trong những tư tưởng quan trọng của học thuyết Nho giáo
và đây cũng là cơ sở của nội dung giáo dục trật tự, kỷ cương, gia phong cho con người
của giai cấp phong kiến Việt Nam. Danh phận đã định rõ thì người nào có vị thế của
người đó, trên ra trên, dưới ra dưới, theo trật tự phân minh, "vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra
cha, con ra con", đó là nguyên tắc, là tôn ti trật tự trong mỗi gia đình cũng như ngoài xã
hội. Vì vậy, giáo dục tôn ti, trật tự, kỷ cương, gia phong là nội dung quan trọng mà cha
+ Tự tu dưỡng, học tập theo con đường khắc kỷ, đó là:
- Thường xuyên tự biện luận với mình về tri thức và hành vi đạo đức dựa trên
chuẩn mực của các sách kinh điển, của xã hội, từ đó ngày càng tiếp cận không chỉ với
những nguyên lý của học thuyết mà còn với hiện thực đời sống xã hội,
-Tự kiểm điểm khi chỉ có riêng mình để thử thách mình về sự thành ý, chính
tâm. Rèn luyện không để sự tức giận, sợ hãi, vui mừng lấn át khiến cho không nhận ra lẽ
phải trái.
- Tự đòi hỏi mình với yêu cầu ngày càng cao mỗi khi gặp thất bại, bao giờ cũng tìm
nguyên nhân tự bản thân chứ không tìm lý do khách quan (Tiên trách kỷ, hậu trách nhân).
+ Người học phải quan sát người để xét mình, chú trọng học gương tốt của thánh hiền,
của người xưa để rút ra bài học cho bản thân.
+ Chọn bạn tốt để cùng nhau học tập, ông cha ta đã dạy lớp lớp con cháu rằng: bạn với
người trung chính thì sẽ học được điều hay, bạn với kẻ gian tà thì sẽ nhiễm điều dở. Bởi
thế phải "chọn bạn mà chơi" .
+ Đề cao sự làm gương của người thầy. Muốn vậy, người thầy cũng phải luôn luôn tu
dưỡng, học hỏi để có tri thức uyên bác. Thầy biết mười chỉ để dạy một.
Kết hợp chặt chẽ đức dục với trí dục
Trẻ cắp sách đến trường là tiếp thu chữ nghĩa của thánh hiền. Bởi vậy việc học
được coi là điều rất quan trọng. Xin học cho con, cha mẹ phải lễ gia tiên ở nhà, chọn
ngày lạnh tháng tốt sửa lễ đến nhà thầy xin học. Thầy đồ trước khi nhận học trò mới, lại
phải cáo gia tiên và đức Khổng Tử, có khi lễ tại văn chỉ làng. Sau buổi lễ khai tâm, đứa
trẻ từ nay phải sống và học tập theo nề nếp. Một thời gian đài, trước khi học chữ, đứa trẻ
phải học cách khoanh tay chào hỏi, cách đi đứng, nói năng lễ độ đối với thầy với bạn, với
cha mẹ, ông bà, anh chị ở nhà, với mọi người trong làng xóm. Đi học phải có thái độ
chăm chỉ, cần mẫn, bài học phải thuộc, bài làm phải đủ. Lười biếng là bị phạt bằng đòn
roi, quỳ ở góc nhà hoặc chui qua háng của trưởng tràng. Lại phải hết sức coi trọng sách
Đối với Hồ Chí Minh, những khái niệm phạm trù của văn hóa Hán, nhất là của Nho
giáo mà cha ông ta tiếp thu và vận dụng vào việc giáo dục, đào tạo, phát triển con người
có hiệu quả, có tác động tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người
Việt Nam trong lịch sử đã được Người kế thừa một cách sáng tạo. Hơn nữa, theo giáo sư
Trần Văn Giàu:
Cụ Hồ Chí Minh là một người hiểu biết Nho giáo rất sâu, rất rộng nữa. Nhưng cụ
không phải là một nhà Nho mà là một người biết rõ những nhược điểm, những sai lầm
nữa của Nho giáo mà tránh, lại thấm nhuần mấy ưu điểm của nó mà ứng dụng theo lợi ích
của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, một dân tộc đã nhiều trăm năm chịu
ảnh hưởng của Nho giáo [40, tr. 36].
Vì vậy việc Hồ Chí Minh sử dụng một số khái niệm, phạm trù mà hệ thống giáo dục
Việt Nam kế thừa từ văn hóa Trung Hoa, từ Nho giáo là có chủ đích, trên cơ sở hiểu biết
sâu sắc không chỉ tư tưởng, nội dung giáo dục, đào tạo, phát triển con người của dân tộc
Việt Nam mà còn trên sự hiểu biết sâu rộng những mặt tích cực của Nho giáo trong sự
nghiệp "trồng người".
Trong tư tưởng phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy Người
rất hay sử dụng các khái niệm như: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, khi đề cập đến phẩm chất
của con người Việt Nam trong thời đại mới nhất là đối với cán bộ đảng viên. Hồ Chí
Minh cho rằng, cũng như trời có bốn mùa, xuân, hạ, thu, đông; đất có bốn phương đông,
tây, nam, bắc; con người có bốn đức cơ bản là Cần, Kiệm, liêm, Chính, "thiếu một đức
không thành người"; "tự mình phải cần, tiệm, liêm, chính" [85, tr. 406], đối với cán bộ
đảng viên người yêu cầu "ai cũng phải thực hành bốn chữ Cần, Kiệm, Liêm, Chính": [85,
tr 622];"đạo đức cách mạng của ta là Cần, Kiệm, Liêm, Chính"[86-tr 490 ];"phải thi đua
thực hành cần, kiệm, liêm, chính"; "cố gắng làm đúng bốn chữ cần, kiệm, liêm, chính"
[85, tr. 203]; mở một chiến dịch giáo dục lại nhân dân bằng cách thực hiện cần, kiệm,
liêm, chính" [84, tr. 8]. Có thể nói, tần số xuất hiện của các khái niệm: Cần, Kiệm, Liêm,
Chính trong tư tưởng phát triển con người toàn diện là nhiều nhất trong các khái niệm,
phạm trù mà Hồ Chí Minh kế thừa từ tư tưởng giáo dục, đào tạo, phát triển con người của