HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA KINH TẾ
TIỂU LUẬN
MÔN: CÁC CHUYÊN ĐỀ KINH TẾ
Đề tài:
“TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT TRIỂN NỀN NÔNG NGHIỆP
VIỆT NAM VÀ SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐÓ CỦA ĐẢNG TA”
Sinh viên thực hiện: Huỳnh Văn Dũng
Lớp Kinh tế chính trị, khóa 32
Sóc Trăng, tháng 11 năm 2014
I- Lời Mở Đầu:
Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân Việt Nam
chúng ta, là chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc, là danh nhân văn hoá thế giới. Lúc
sinh thời, Người đã gắn sự giàu có, thịnh vượng của nông dân, nông nghiệp với
sự giàu có, thịnh vượng của đất nước. Người đã coi nông nghiệp và nông dân là
lực lượng quan trọng góp phần tạo nên sự giàu có của đất nước ta.
Ngày nay, nền kinh tế của Việt Nam gồm công nghiệp, nông nghiệp,
thương mại, dịch vụ nhưng nông nghiệp là ngành có sức lan tỏa lớn nhất, có tính
kết nối rất cao với nhiều ngành kinh tế. Nông nghiệp cung cấp đầu vào cho công
nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến xuất khẩu; đồng thời, sử dụng sản phẩm của
các ngành công nghiệp và dịch vụ, như: nhiên liệu, phân bón, hóa chất, máy móc
cơ khí, năng lượng, tín dụng, bảo hiểm Ngoài ra, nông nghiệp còn liên quan
mật thiết đến sức mua của dân cư và sự phát triển thị trường trong nước. Với
50% lực lượng lao động cả nước đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và
70% dân số sống ở nông thôn, mức thu nhập trong nông nghiệp sẽ có ảnh hưởng
rất lớn đến sức cầu của thị trường nội địa và tiềm năng đầu tư dài hạn. Nông
nghiệp Việt Nam đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh
lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho trước hết là khoảng 70% dân cư, là
nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế đất nước và
phát triển nông nghiệp.
Phải nói rằng, trong tư duy của Hồ Chí Minh, nông nghiệp có vai trò đặc
biệt quan trọng. Người khẳng định, đối với nền kinh tế nước ta nông nghiệp lại là
gốc, là chính, là quan trọng nhất, là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn giải quyết mọi
vấn đề xã hội; xuất phát từ mục tiêu hàng đầu của chủ nghĩa xã hội là nâng cao
đời sống của nhân dân và nông nghiệp là nguồn cung cấp lương thực, nguyên
liệu cần thiết nhất cho đời sống của nhân dân, đồng thời là một nguồn xuất khẩu
và "là bộ phận cực kỳ quan trọng trong kế hoạch kinh tế của Nhà nước" (Hồ Chí
Minh. Sđd., t.9, tr.5).
4
Sau ngày đất nước giành được độc lập, trong thư gửi điền chủ nông gia
Việt Nam ngày 11/4/1946, Hồ Chí Minh đã viết: "Việt Nam là một nước sống về
nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây
dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp
một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta
thịnh". Người đã gắn sự giàu có, thịnh vượng của nông dân, nông nghiệp với sự
giàu có, thịnh vượng của đất nước. Người đã coi nông nghiệp và nông dân là lực
lượng quan trọng góp phần tạo nên sự giàu có của đất nước ta. Sau khi cuộc
kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc bước vào thời
kỳ khôi phục kinh tế, trong lời kêu gọi nông dân thi đua sản xuất và tiết kiệm
năm 1956, Người vẫn nhắc: Khôi phục "sản xuất nông nghiệp là chủ yếu". Sau
khi công cuộc khôi phục kinh tế kết thúc thành công, sản xuất trở lại bình thường,
đời sống nhân dân bước đầu ổn định.
Ngay trong bài nói chuyện tại Hội nghị Trung ương 7 (khóa III), Hội nghị
chuyên đề bàn về phát triển công nghiệp, Hồ Chí Minh lại nói về nông nghiệp,
nhấn rất mạnh vai trò của nông nghiệp. Người nói: “"Việt Nam có câu tục ngữ
"có thực mới vực được đạo"” (Hồ Chí Minh. Sđd., t.10, tr.543-544). Muốn nâng
cao đời sống của nhân dân thì trước hết phải giải quyết vấn đề ăn, rồi đến vấn đề
mặc và các vấn đề khác “ Chúng ta phải thực hiện ngay: 1. làm cho dân có ăn, 2.
làm cho dân có mặc, 3. làm cho dân có chổ ở, 4. làm cho dân có học hành. Cái
cuộc kiến quốc được Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đặt ngang với nhiệm vụ kháng
6
chiến, bảo vệ thành quả Cách mạng vừa mới giành được. Tháng 1/1946, trong
Bài phát biểu tại cuộc họp đầu tiên của Uỷ ban nghiên cứu kế hoạch kiến quốc,
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: "Lúc này chúng ta có hai nhiệm vụ là kháng
chiến và kiến quốc". Người chỉ rõ: "Chúng ta được tự do, độc lập rồi mà dân cứ
chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của
tự do, độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ". Để kiến quốc thắng lợi, trong
hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, nông nghiệp được xem là "mặt trận hàng đầu".
Theo Hồ Chí Minh, thực hiện nền nông nghiệp toàn diện bao gồm các
ngành trồng trọt (trồng cây lương thực đi đôi với trồng cây công nghiệp) gắn với
chăn nuôi; hải sản và các ngành kinh tế gắn với biển, làm muối; bảo vệ rừng và
trồng cây gây rừng, khai thác lâm, thổ sản và những nguồn lợi kinh tế từ rừng
nhưng phải chú ý đến hậu quả của việc khai thác rừng không đúng hoặc lợi dụng
việc khai thác để phá rừng; các ngành kinh tế khác ở nông thôn (nghề phụ gia
đình ở nông thôn).
Phát triển nông nghiệp toàn diện không dừng lại ở quy mô, ở số lượng, mà
phải chú ý đến mặt năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất. Muốn vậy, "phải
đẩy mạnh thâm canh", "muốn thâm canh tăng năng suất phải chú ý cả nước, phân,
giống"; tiến hành "tổ đổi công, tiến lên hợp tác xã, nông dân ta mới có thêm sức để
cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh sản xuất"; "phải tổ chức tốt các đội thuỷ lợi"; "có quy
hoạch của một nền kinh tế hàng hóa phát triển theo quy mô phù hợp với đòi hỏi
của quá trình công nghiệp hóa" (Nguyễn Khánh Bật - chủ biên: Tư tưởng Hồ Chí
Minh về vấn đề nông dân, Nxb Nông nghiệp, H.2001, tr.164); động viên khuyến
khích nông dân hăng hái "tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm"; công nghiệp phải
giúp đỡ nông nghiệp, vì "công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển";
"phải mạnh dạn tiến vào khoa học, kỹ thuật nông nghiệp" để xây dựng cơ sở vật
chất và kỹ thuật trong nông nghiệp , từng bước tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ
7
nghĩa, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn, làm
công thường xuyên. Sau này tổ đổi công thường xuyên đã rộng khắp và có nền nếp
rồi, mới tiến lên xây dựng hợp tác xã nông nghiệp từ thấp đến cao. Không được vội
tổ chức hợp tác xã ngay. Phát triển từng bước, vững chắc tổ đổi công và hợp tác xã
thì hợp tác hóa nông nghiệp nhất định sẽ thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
"Phải tổ chức tổ đổi công là hình thức thấp nhất, rồi tiến lên hợp tác xã nông nghiệp,
từ hợp tác xã nhỏ phát triển thành hợp tác xã to, dùng máy móc trong nông nghiệp" (
Hồ Chí Minh. Sđd. , t.8, tr.345). Ở đây Người đã quan tâm đến cả lực lượng sản
xuất lẫn quan hệ sản xuất chứ không phải chỉ nhằm cải tạo quan hệ sản xuất.
Nguyên tắc xây dựng hợp tác xã là: Tuần tự; Tự nguyện; Bình đẳng, cùng
có lợi, thiết thực; Dân chủ; Có sự lãnh đạo - tổ chức hợp tác xã với sự hướng dẫn,
giúp đỡ về tài chính của Nhà nước. Nghĩa là, làm từ nhỏ đến lớn; khéo tổ chức,
khéo lãnh đạo theo nguyên tắc tự giác, tự nguyện để cho các tổ viên ai cũng hăng
hái làm việc, ai cũng được hưởng lợi, được phân phối công bằng, hợp lý; cán bộ
lãnh đạo phải chí công vô tư, phải dân chủ, tránh quan liêu mệnh lệnh; phải ra sức
thực hiện khẩu hiệu cần kiệm xây dựng hợp tác xã.
Phương châm tiến hành là: Tiến nhanh, tiến mạnh không phải là phiêu lưu,
làm ẩu. Phải thiết thực đi từng bước, phải tính toán những điều kiện cụ thể, những
biện pháp cụ thể. Không được đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế.
Mỗi vấn đề phải có một kế hoạch cụ thể, phải đi thật sâu để giải quyết cho kỳ
được… Không được để kế hoạch phình ra, cũng như tình trạng mình lại tự lừa
mình; Qui mô không nên quá to, quá to thì khó quản lý. Cũng không nên quá nhỏ,
quá nhỏ thì sức người ít, khó phát triển. Nên tùy theo điều kiện của mỗi địa
phương; Việc xây dựng hợp tác xã cần chú trọng đến chất lượng, không nên chạy
9
theo số lượng. . Cần phải nêu cao tính chất hơn hẳn của hợp tác xã bằng những kết
quả thiết thực là làm cho thu nhập của xã viên được tăng thêm, làm cho xã viên sau
khi vào hợp tác xã thu hoạch nhiều hơn hẳn khi còn ở ngoài. Như thế thì xã viên sẽ
phấn khởi, sẽ gắn bó chặt chẽ với hợp tác xã của mình. Đó là phương pháp tuyên
truyền thuyết phục tốt nhất để khuyến khích nông dân vào hợp tác xã. Nếu xã,
dần tỷ lệ dân cư làm nghề nông, tăng các trung tâm công nghiệp; thay đổi bộ mặt
tinh thần của nông thôn và tính chất của người sản xuất nông nghiệp.
c) nông nghiệp có vai trò phát triển các ngành kinh tế khác:
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò nòng cốt của nông nghiệp
trong việc đảm bảo đời sống của nhân dân, nhưng không tuyệt đối hoá vai trò của
nông nghiệp mà luôn đặt nó trong mối quan hệ hữu cơ với các ngành kinh tế khác
và rất chú trọng vấn đề cải tạo các thành phần kinh tế đó theo hướng đi lên chủ
nghĩa xã hội. Tức là, "phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải
chú ý cả các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông,
kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế, v,v Các ngành này phải lấy phục vụ nông
nghiệp làm trung tâm" (Hồ Chí Minh. Sđd., t.11, tr.396)
Việc xây dựng và phát triển các ngành thương nghiệp, tài chính, ngân
hàng, giao thông, kiến trúc, văn hoá, y tế, giáo dục… theo hướng xã hội chủ
nghĩa, làm sao cho các lĩnh vực này thực sự trở thành một đòn bẩy kinh tế, trong
đó ngành thương nghiệp cần làm tốt vai trò giao lưu kinh tế giữa công nghiệp với
nông nghiệp, giữa sản xuất với tiêu dùng, giữa địa phương với trung ương, giữa
công nhân với nông dân, giữa trong nước với ngoài nước. Tất cả sản phẩm của
11
ngành nông nghiệp và công nghiệp nhờ có thương nghiệp mới có thể cung cấp tới
nhân dân và thúc đẩy sản xuất phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi nông nghiệp,
công nghiệp và thương nghiệp là ba mặt quan trọng trong nền kinh tế, nhưng nếu
khâu thương nghiệp bị đứt thì không nối được công nghiệp với nông nghiệp;
không gắn được sản xuất với tiêu dùng và như vậy sẽ làm cho nền kinh tế không
phát triển, trì trệ.
Đối với thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và những người lao động riêng
lẻ khác, Người chủ trương "bảo hộ quyền sở hữu về tư liệu sản xuất của họ, ra
sức hướng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ tổ chức hợp
tác xã sản xuất theo nguyên tắc tự nguyện" (Hồ Chí Minh. Sđd., t.10, tr.589). Với
các thành phần kinh tế công thương nghiệp tư bản tư doanh và đối với tư sản dân
tộc, căn cứ vào sự phân tích khoa học những đặc điểm kinh tế tư bản chủ nghĩa
2) Đảng ta vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc phát triển nền
nông nghiệp của Việt Nam:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp đã được Đảng ta
kế thừa và vận dụng suốt trong quá xây dựng và phát triển nền kinh tế nước nhà.
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng, tháng 8 - 1955 đã nhấn mạnh “Sản
xuất nông nghiệp là mấu chốt của việc khôi phục kinh tế quốc dân, mấu chốt của
toàn bộ công tác kinh tế tài chính của chúng ta”. Phải đặc biệt chú trọng việc khôi
phục sản xuất nông nghiệp, bao gồm sản xuất cây lương thực, cây công nghiệp,
chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp phải dựa vào khôi phục sản xuất nông
nghiệp để khôi phục các ngành khác, khôi phục cả nền kinh tế quốc dân. Từ năm
1956 đến năm 1959 nước ta được mùa liên tiếp cộng với số gạo viện trợ đã dẫn
13
tới tình hình đặc biệt là giá thóc gạo trên thị trường xuống thấp hơn giá chỉ đạo
của mậu dịch. Nhưng từ năm 1960 lại xác định: Điểm mấu chốt trong công
nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Mặc dù sau
này có thêm câu “trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ”, nhưng
trên thực tế đã coi nhẹ nông nghiệp. Vì vậy, mà nước ta lâm vào tình trạng thiếu
lương thực triền miên, buộc phải bán gạo theo tem phiếu.
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tháng 3 năm 1982, đã phát hiện
thiếu sót nói trên và đề ra chủ trương: tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp,
coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu…Nhưng việc thực hiện chưa triệt để nên
sản xuất nông nghiệp vẫn tăng rất chậm. Phải đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI, tháng 12 năm 1986, mới kiên quyết bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh
lớn cơ cấu đầu tư, tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện ba chương
trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Nhờ
đó, chỉ sau 4 năm, năm 1990 đã đáp ứng đủ nhu cầu lương thực cho nhân dân, có
dự trữ và bắt đầu xuất khẩu gạo.
Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Đảng ta xác
định trong thời gian tới cần tập trung "xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn
diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất
lâm nghiệp 6%, thủy sản 4,5%. Tốc độ tăng trưởng toàn ngành (GDP) đạt 2,6%.
Như vậy, có thể thấy tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp rất đáng quan
ngại, giảm dần, năm sau thấp hơn năm trước.
15
Do đó, Đảng ta xác định trong thời gian tới cần tập trung xây dựng nền
nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng
hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo
vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài. Cụ thể:
Một là, xây dựng nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng
thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn;
Hai là, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn gắn với phát
triển các đô thị;
Ba là, xâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, nhất là
vùng khó khăn;
Bốn là, đổi mới và xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ có
hiệu quả ở nông thôn;
Năm là, phát triển nhanh nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng khoa học,
công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo đột phá để hiện đại hoá nông nghiệp,
công nghiệp hoá nông thôn;
Sáu là, đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các nguồn
lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nông dân;
Bảy là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy
sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân.
16
III- Kết luận:
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp là
cần thiết và càng trở nên cấp thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước
ta đã và đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển kinh tế tri thức.