Tư tưởng đạo đức hồ chí minh với vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên ở thành phố quy nhơn hiện nay - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRẦN VIỆT QUANG

TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ,
ĐẢNG VIÊN Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Hồng Lưu

Đà Nẵng, năm 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả

Trần Việt Quang


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
KTTT

1.2.1. Trung với nước, hiếu với dân.................................................................................................... 13
1.2.2. Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình..........................................................................14
1.2.3 . Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư.................................................................................... 17
1.2.4. Tinh thần quốc tế trong sáng................................................................................................... 18
1.3. VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.....................................20
1.3.1. Khái niệm cán bộ và đảng viên................................................................................................. 20
1.3.2. Vai trò của đạo đức người cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay...........................................22
1.4. YÊU CẦU VỀ ĐẠO ĐỨC ĐỐI VỚI NGƯỜI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY..........................23
1.4.1. Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đến sự biến đổi đạo đức người cán bộ, đảng viên........23
1.4.2. Yêu cầu về đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.................................................29

CHƯƠNG 2....................................................................................................39
THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,............................39
ĐẢNG VIÊN Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN HIỆN NAY..........................39
2.1. VÀI NÉT VỀ THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH........................................................................39
2.2. THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở QUY NHƠN HIỆN NAY.......................................40
2.2.1. Thực trạng đạo đức cán bộ, đảng viên ở Quy Nhơn hiện nay...................................................40
2.2.2. Nguyên nhân của thực trạng đạo đức cán bộ, đảng viên ở Quy Nhơn hiện nay........................57

CHƯƠNG 3....................................................................................................69
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CHO CÁN BỘ,
ĐẢNG VIÊN Ở THÀNH PHỐ QUY NHƠN HIỆN NAY..........................69


3.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIẢI PHÁP............................................................................................................69
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THÀNH PHỐ
QUY NHƠN HIỆN NAY..................................................................................................................................78
3.2.1. Phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng đạo đức cách
mạng cho cán bộ, đảng viên.............................................................................................................. 78
3.2.2. Nâng cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong công tác, trong đạo

đức lẫn tài, trong đó đức là gốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Cũng như
sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có
gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có
đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân. Vì muốn giải
phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự
mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn
làm nổi việc gì?" [56, tr.253].
Thực tế cho thấy, sau hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng
Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đất nước ta đã đạt được những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Việc thực hiện dân chủ trong Đảng và
trong xã hội, phát huy quyền làm chủ của nhân dân có nhiều tiến bộ. Đa số


2

cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu, năng động,
sáng tạo trong công tác, rèn luyện phẩm chất, năng lực, đóng vai trò nòng cốt
trong công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, Đảng ta cũng đang đối mặt với những
suy thoái về đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng
viên. Đáng chú ý là sự suy thoái này ngày một gia tăng. Điều đó Đảng ta đã
khẳng định qua các kỳ Đại hội: Tại Đại hội Đảng lần thứ VI nhận định: "Tình
trạng vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật nhà nước nghiêm trọng kéo dài chưa
giảm"[15, tr.9]. Đến Đại hội Đảng lần thứ VII chỉ ra: "Số đảng viên vi phạm
kỷ luật trong số được kiểm tra tăng lên nhiều hơn"[16, tr.10]. Đại hội Đảng
lần thứ VIII cũng khẳng định: "Điều đáng lo ngại là không ít cán bộ, đảng
viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hóa về phẩm chất, đạo đức"[17, tr.27].
Đến Đại hội Đảng lần thứ IX Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Tình trạng tham
nhũng, suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng"[21, tr.76]. Đại hội X của Đảng, một lần
nữa nhấn mạnh: "Một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ

4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
- Đạo đức cán bộ, đảng viên ở thành phố Quy Nhơn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng
viên thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm triết học và đạo đức học Mác - Lênin, tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng
thời luận văn kế thừa các thành tựu của một số công trình khoa học đã được
công bố có liên quan đến nội dung mà đề tài luận văn đề cập.


7

5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp lịch sử và lôgíc; phân tích
và tổng hợp; thống kê, phương pháp điều tra xã hội học... đã được sử dụng để
thực hiện mục đích và nhiệm vụ đề tài đặt ra.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Hệ thống hóa các nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức. Đánh giá khách quan về thực trạng đạo đức của cán bộ, đảng viên thành
phố Quy Nhơn. Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao đạo đức cho cán bộ,
đảng viên thành phố Quy Nhơn.
- Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực trong việc rèn luyện phương
pháp nghiên cứu khoa học và vận dụng vào công tác thực tiễn, góp phần nâng
cao đạo đức cho tác giả và những người quan tâm. Sau khi hoàn thành đề tài
có thể được dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy tư tưởng

nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam của các dân tộc bị áp bức khác trong
những điều kiện vô cùng gian khổ và khó khăn.
Năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài Người về nước, triệu tập
Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương, quyết định đường lối cứu nước, thành lập Việt Nam độc lập đồng
minh Hội (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, chính sách căn


9

cứ địa, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và chuẩn bị tổng khởi nghĩa
giành chính quyền trong cả nước.
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) thắng lợi, ngày 02/9/1945, tại Quảng
trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố
thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào
điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt
Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng MácxítLêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng
lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm
gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng. Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc
về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng
và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta,
kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh
hoa văn hoá nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai
cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội,
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân,
của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà

đầy gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc,
giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm cơ bản
và toàn diện về đạo đức, bao gồm vị trí, vai trò, nội dung của đạo đức, những
phẩm chất cơ bản của đạo đức, yêu cầu rèn luyện đạo đức với mỗi người cách
mạng.


11

Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng định đạo đức là gốc của người cách
mạng. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã nêu lên 23 điểm thuộc
“tư cách một người cách mệnh”, trong đó chủ yếu là các tiêu chuẩn về đạo
đức, thể hiện chủ yếu trong 3 mối quan hệ: với mình, với người và với việc.
Người viết: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự
nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu
tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi
được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới
hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” [57, tr.283].
Với mỗi người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát
triển con người, như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết:
“Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây
phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức,
không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
[55, tr.252-253]
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng giúp cho con người vững vàng
trong mọi thử thách. Người viết: “có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn,
gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước”; “khi gặp thuận lợi, thành công vẫn
giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn”, mới “lo trước thiên hạ,
vui sau thiên hạ”; “lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt

dựng Đảng ta thật trong sạch, Đảng phải “là đạo đức, là văn minh”. Người
thường nhắc lại ý của V.I.Lênin: Đảng cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ,
danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại.
- Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện. Người
nêu yêu cầu đạo đức đối với các giai cấp, tầng lớp và các nhóm xã hội, trên
mọi lĩnh vực hoạt động, trong mọi phạm vi, từ gia đình đến xã hội, trong cả
ba mối quan hệ của con người: đối với mình, đối với người, đối với việc. Tư
tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt được mở rộng trong lĩnh vực đạo đức của cán bộ,


13

đảng viên, nhất là khi Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền. Trong bản Di chúc
bất hủ, Người viết: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán
bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính,
chí công vô tư” [59, tr.510].
1.2. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ
CHÍ MINH
1.2.1. Trung với nước, hiếu với dân
Đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm
chất khác. Trung, hiếu là đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và
phương Đông, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển trong điều
kiện mới. Từ khái niệm cũ "trung với vua, hiếu với cha mẹ" trong đạo đức
truyền thống của xã hội phong kiến, Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung
mới, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn là “Trung với nước, hiếu với
dân”. Đó là một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức. Trung với nước,
hiếu với dân là phải gắn bó với dân, gần dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc.
Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, quan tâm cải thiện dân sinh, nâng
cao dân trí, làm cho dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của người làm chủ đất
nước.

thức chính trị của chúng ta trước yêu cầu mới của cách mạng. Đồng thời, phải
đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên, công
chức có phẩm chất đạo đức cách mạng, trong giai đoạn cách mạng mới, làm
cho Đảng trong sạch vững mạnh, hoàn thành sứ mệnh vĩ đại là lãnh đạo nhân
dân, giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đây
là mục đích cao cả, lợi ích thiêng liêng của Đảng và của nhân dân ta.
1.2.2. Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình
Yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ
truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của
nhân loại, chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Hồ Chí Minh coi yêu thương con


15

người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Yêu thương con người thể hiện mối
quan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ xã hội.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo. Hồ
Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm
chất đạo đức cao đẹp nhất. Người dành tình yêu thương rộng lớn cho những
người cùng khổ. Những người lao động bị áp bức bóc lột, Người viết: "Tôi
chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được
hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn
áo mặc, ai cũng được học hành" [54, tr.161].
Hồ Chí Minh yêu thương đồng bào, đồng chí của Người, không phân biệt
họ ở miền xuôi hay miền ngược, là trẻ hay già, trai hay gái... không phân biệt
một ai, không trừ một ai, hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong
tấm lòng nhân ái của Người.
Tình yêu thương của Người còn thể hiện đối với những người có sai lầm
khuyết điểm. Với tấm lòng bao dung của một người cha, Chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng, mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng ta, phải biết

nhất, lớn nhất: đó là làm sao cho đất nước được độc lập tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Qua những câu chuyện kể về
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đều khắc họa đậm nét tình thương yêu bao
la của Bác đối với con người - một tấm lòng vị tha, bao dung…
Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về yêu thương con người, sống
có nghĩa có tình, mỗi cán bộ, đảng viên cần đẩy mạnh việc học tập và làm
theo tấm gương đạo đức của Bác.
Trong mối quan hệ giữa người với người phải khoan dung, độ lượng,
chân thành, tránh ác cảm, thù hằn, cá nhân. Phải có tình yêu nhân dân, tôn
trọng nhân dân, hết lòng phục vụ nhân dân, bảo vệ những quyền lợi chính
đáng của nhân dân; không được coi mình là quan cách mạng để nhũng nhiễu,


17

gây khó dễ cho nhân dân. Phải luôn lắng nghe, luôn thấu hiểu để cùng cảm
thông, cùng chia sẻ nhất là khi nhân dân gặp hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn.
Đối với đồng sự phải có lòng yêu thương, trương trợ, giúp đỡ nhau để
cùng tiến bộ và ngày càng tốt đẹp hơn. Luôn thực hiện nghiêm túc nguyên tắc
tự phê bình và phê bình, trên tinh thần thẳng thắn và chân thật, không “lựa gió
bẻ măng”, “vơ đũa cả nắm”, nâng cao quan điểm để “đánh một đòn cho tới
chết”.
Khi nhận xét, đánh giá một con người phải có tính bao quát, tránh nhìn
nhận, đánh giá một cách phiến diện, chỉ nói đến khuyết điểm mà không thấy
ưu điểm của con người. Đối với những hành vi sai trái phải nghiêm khắc phê
bình, xử lý nhưng cũng tạo cơ hội để đồng chí mình sửa chữa, khắc phục và
vươn lên. Trong đấu tranh phê bình phải cụ thể, rõ ràng, không nói chung
chung kiểu ai hiểu thế nào cũng được.
1.2.3 . Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là nền tảng của đời sống mới, là

công, vô tư đối với người, với việc. “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ
đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “lo trước thiên hạ, vui
sau thiên hạ”. Muốn "chí công, vô tư" phải chiến thắng được chủ nghĩa cá
nhân.
Đây là chuẩn mực của người lãnh đạo, người "giữ cán cân công lý",
không được vì lòng riêng mà chà đạp lên pháp luật.
- Cần, kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với nhau và với chí công,
vô tư. Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công, vô tư. Ngược lại, đã chí
công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ thực hiện được
cần, kiệm, liêm, chính.
1.2.4. Tinh thần quốc tế trong sáng
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là sự mở rộng những
quan niệm đạo đức nhân đạo, nhân văn của Người ra phạm vi toàn nhân loại,


19

vì Người là “người Việt Nam nhất” đồng thời là nhà văn hóa kiệt xuất của thế
giới, anh hùng giải phóng dân tộc, chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản
quốc tế.
Quan niệm đạo đức về tình đoàn kết quốc tế trong sáng của Hồ Chí Minh
thể hiện trong các điểm sau:
- Đoàn kết với nhân dân lao động các nước vì mục tiêu chung đấu tranh
giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột.
- Đoàn kết quốc tế giữa những người vô sản toàn thế giới vì một mục tiêu
chung, “bốn phương vô sản đều là anh em”.
- Đoàn kết với nhân loại tiến bộ vì hoà bình, công lý và tiến bộ xã hội.
- Đoàn kết quốc tế gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước
chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện
của chủ ngĩa sô vanh, vị kỷ, hẹp hòi, kỳ thị dân tộc...

Thứ hai, "đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (nói tắt)" [77, tr.291].
Trong khuôn khổ của luận văn này chúng ta hiểu đảng viên theo nghĩa
thứ hai.
Hiện nay ở nước ta, khái niệm cán bộ thường kèm theo từ công chức
hoặc viên chức, được dùng để chỉ những người làm việc trong cơ quan nhà
nước, thuộc diện biên chế nhà nước. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, người
cán bộ thường là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nên có thêm cụm từ
ghép cán bộ, đảng viên. Như vậy, ở một góc độ nhất định, khái niệm cán bộ
công chức và cán bộ, đảng viên có nghĩa gần giống nhau. Vừa là cán bộ công
chức vừa là đảng viên cộng sản.
* Một số đặc điểm hoạt động của người cán bộ, đảng viên:
Khi đi sâu vào xem xét, phân tích cho thấy, hoạt động của cán bộ, đảng
viên có những đặc điểm sau:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status