MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Thanh niên là lực lượng rất quan trọng và sự phát triển của thanh niên
quan hệ trực tiếp đến vận mệnh, tương lai của đất nước, của dân tộc. Vì thế,
bất cứ quốc gia và chế độ xã hội nào muốn tồn tại, phát triển bền vững và
cường thịnh đều phải quan tâm tới việc chăm lo giáo dục cho thanh niên.
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò, vị trí, khả
năng của thanh niên đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Người
cho rằng: “ Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước
nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Chính
vì thế, trước lúc đi xa Người không quên căn dặn Đảng ta: “ Bồi dưỡng thế hệ
cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.
Trong nội dung bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Hồ Chí Minh
đặt lên hàng đầu vấn đề bồi dưỡng lý tưởng và đạo đức cách mạng. Nội dung
tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên đã
được thể hiện ở nhiều bài nói, bài viết và đặc biệt là những hoạt động và tấm
gương của Người đối với thanh niên. Thông qua nội dung, phương pháp giáo
dục sâu sắc phong phú, thiết thực Người đã đào tạo được những thế hệ thanh
niên cách mạng góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp cách mạng nước ta.
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới xây dựng việc quán triệt, vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho thanh niên nhằm đào tạo những
thế hệ cách mạng cho đời sau có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò quan trọng của thanh niên trong sự
nghiệp cách mạng, luôn quan tâm tới công tác giáo dục thanh niên, Đảng và
Nhà nước ta đã đào tạo được những lớp người kế tục xứng đáng sự nghiệp
cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng Tổ quốc XHCN. Song những năm
gần đây, do tác động tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường, đã có không
+ Đặng Xuân Kỳ (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn
hóa và con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
+ Phạm Đình Nghiệp, Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt
Nam trong tình hình mới, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2000.
+ Trần Quy Nhơn, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò thanh niên trong
cách mạng Việt Nam, Nxb Thanh niên, 2004.
+ Song Thành, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị,
Hà Nội, 2005 (Chương XV: Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giáo dục đào tạo và bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau).
+ Văn Tùng, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Thanh niên,
nxb Thanh niên, hà Nội 1999.
+ Phong Châu, Nguyễn Trọng Thụ, Về lối sống mới của chúng ta, Nxb
Sự thật, Hà Nội, 1983.
+Thanh Lê, Văn hóa và lối sống hành trang vào thế kỷ XXI, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1999.
+ Huỳnh Khái Vinh, Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã
hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
+ Nguyễn Thị Oanh, Thanh niên - lối sống, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí
Minh, 2001.
+ Thanh Lê, Giáo dục lối sống, nếp sống mới, Nxb Tổng hợp thành phố
Hồ Chí Minh, 2004.
- Về các công trình khoa học có liên quan đến đề tài:
+ Văn Đình Ưng, Nâng cao hiệu quả bồi dưỡng nhân cách sinh viên, Đề
tài khoa học cấp Bộ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 1993.
+ Mạc Văn Trang, Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những
phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống sinh viên, Đề tài khoa học cấp
Bộ, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, 1995.
lối sống mới ở nước ta hiện nay”, tạp chí Triết học, số 8, 2005.
+ Nguyễn Thị Mỹ Trang, “Xây dựng lối sống văn hóa cho thanh niên
hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 6, 2006.
+ Võ Văn Thắng, “Ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đến việc xây
dựng lối sống ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 10, 2006.
+ Phạm Mạnh Hà (2002), Những nguyên nhân chủ quan chủ yếu của tình
trạng suy thoái đạo đức ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 22, tr. 15.
+ Lê Thị Tuyết Ba (2003), Chuẩn mực đạo đức trong bối cảnh của nền
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 4, tr.9-11.
+ Trương Gia Long (2003), Định hướng giá trị trong giáo dục thanh niên
hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số 9, tr.17- 20…
● Nhóm các công trình nghiên cứu về đạo đức và tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh
- Về sách: có các công trình sau:
+ Vũ Khiêu (1974), Đạo đức mới, Nxb Khoa học xã hội
+ Nguyễn Văn Truy (chủ biên) (1993), Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
+ Nguyễn Trọng Chuẩn – Nguyễn Văn Phúc (2003), Mấy vấn đề về đạo
đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb chính trị quốc
gia Hà Nội.
+ Trần Hậu Khiêm- Đoàn Đức Hiếu (2004), Hệ thống phạm trù đạo đức
và giáo dục đạo đức cho sinh viên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
+ Song Thành, Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb lý luận chính trị
Hà Nội, 2005.
+ TS. Trần Viết Hoàn, Đạo đức Bác Hồ - Tấm gương soi cho muôn đời,
Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008.
+ TS. Văn Thị Thanh Mai, Tỏa sáng tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.
hiện nay, Luận văn thạc sỹ, 2007.
- Về tạp chí : có các bài sau:
+ Song Thành (2004), “Nói đi đôi với làm, phải nêu gương đạo đức –
một nguyên tắc cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”, Tạp chí cộng
sản, tr.26 – 30.
+ Lâm Quốc Tuấn – Trần Văn Toàn (2005), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về
giáo dục đạo đức vừa “hồng” vừa “chuyên” cho thanh niên trí thức, tạp chí Lý
luận Chính trị, tr.9, 10 – 16.
+ Đinh Xuân Lâm – Bùi Đình Phong (1995), “Giá trị trường tồn của tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong lòng nhân loại tiến bộ”, Tạp chí Thông tin
lý luận.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
đạo đức, lối sống cho thanh niên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức,
lối sống cho thanh niên sinh viên trường Đại học Công nghệ thông tin và
Truyền thông Thái nguyên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức, vai trò thanh niên và việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên,
sinh viên.
- Nghiên cứu, phân tích thực trạng giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh
viên trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông trong khoảng 5
năm gần đây (2008- 2013)
Thái nguyên
- Đề xuất những giải pháp có tính khả thi, hiệu quả trong giáo dục đạo đức,
lối sống cho sinh viên ở trường Đại học Công nghệ thông tin và Truyền thông.
7. Ý nghĩa của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức nói chung
cũng như vai trò của giáo dục đạo đức đối với thanh niên nói riêng.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp thêm những luận cứ khoa học để Đảng ủy, Ban
Giám hiệu, Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên trường Đại học Công nghệ
thông tin và Truyền thông trong công tác quản lý, giáo dục sinh viên.
Ngoài ra luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các tổ chức
Đoàn, Hội sinh viên trong việc xây dựng đạo đức, lối sống cho học sinh,
sinh viên nói chung.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH
MẠNG, LỐI SỐNG MỚI CHO THANH NIÊN
1.1. Quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức, lối sống và giáo dục đạo
đức, lối sống
1.1.1. Đạo đức
1.1.2. Lối sống
1.1.3. Giáo dục đạo đức, lối sống
1.2. Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của thanh niên và tầm quan
trọng của việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên
Đảng lãnh đạo
1.3.1.2 Giáo dục lối sống
- Yêu lao động, sống giản dị, trung thực, dũng cảm
- Sống có hoài bão, nghị lực, chí tiến thủ
- Giáo dục tình bạn, tình yêu trong sáng
1.3.2. Phương pháp giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên
1.3.2.1 Phải kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo
dục thanh niên; gắn chặt giáo dục trong nhà trường với giáo dục trong thực
tiễn
1.3.2.2 Giáo dục bằng hành động, nêu gương của người lớn; phát huy ý
thức tự giáo dục, tự rèn luyện
1.3.2.3 Kiên trì tu dưỡng rèn luyện; xây đi đôi với chống
CHƯƠNG 2
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO VIỆC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CHO THANH NIÊN, SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN
THÔNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Những yếu tố tác động đến việc giáo dục đạo đức, lối sống cho
sinh viên trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông hiện nay
2.1.1 Những yếu tố khách quan
2.1.2 Những yếu tố chủ quan
2.2 Thực trạng giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên trường Đại
học Công nghệ thông tin và Truyền thông trong những năm qua.
2.2.1 Ưu điểm
2.2.2 Hạn chế
2.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo
đức, lối sống cho sinh viên viên trường Đại học Công nghệ thông tin và
Truyền thông theo tư tưởng Hồ Chí Minh
chúng phản ánh tất yếu của lợi ích xã hội mà hành vi của mỗi cá nhân phải
tuân theo, đạo đức là một hệ thống các giá trị nó mang tính chuẩn mực: mệnh
lệnh, đánh giá. Vậy đạo đức là một trong những phương thức cơ bản điều tiết
chuẩn mực hoạt động của con người, là một hình thái ý thức xã hội, là một
dạng của quan hệ xã hội (quan hệ đạo đức) nhằm duy trì xã hội trong một trật
tự nhất định để xã hội tồn tại, phát triển. Giá trị đạo đức được xác định ở chỗ
nó phục vụ cho tiến bộ xã hội vì hạnh phúc của con người. “Đạo đức giúp cho
xã hội loài người tiến lên trình độ cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động”.
Bàn về đạo đức cộng sản chủ nghĩa Lênin cho rằng : “Đó là những gì góp
phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những
người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của
những người cộng sản”. Đây là một quan niệm mang tính cách mạng và khoa
học về đạo đức mà quan niệm của các tôn giáo và các nền đạo đức khác
không thể đạt tới.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới vấn
đề đạo đức. Người không đưa ra định nghĩa cụ thể đạo đức là gì, Người tập
trung bàn nhiều về đạo đức cách mạng. Hồ Chí Minh quan niện đạo đức cách
mạng là đạo đức của người cách mạng xuất hiện trong quá trình đấu tranh giải
phóng dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh đạo
đức cách mạng là trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì
độc lập tự do của Tổ quốc vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn
nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng; là cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư; luôn yêu thương quý trọng con người, sống có tình, có nghĩa và
tinh thần quốc tế trong sáng…Mặt khác, Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng đạo đức
cách amngj và đạo đức đời thường là hoàn toàn thống nhất với nhau, sẽ không
có đạo đức đời thường tách rời với đạo đức cách mạng và cũng không thể có
đạo đức cách mạng đứng ngoài, đối lập với đạo đức đời thường.
đó là đạo đức. Cái riêng mà đi ngược với cái chung là chủ nghĩa cá nhân, là vi
phạm đạo đức.
Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh đặt ra và xem xét một cách toàn diện
trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc tư đến việc công,
từ lao động sản xuất ở hậu phương đến chiến đấu ngoài mặt trận, từ học tập,
công tác đến sinh hoạt hàng ngày. Hồ Chí Minh cũng bàn đến đạo đức ở mọi
phạm vi từ gia đình tới ngoài xã hội, từ giai cấp đến dân tộc, từ quốc gia đến
quốc tế. Việc Hồ Chí Minh xem xét vấn đề đạo đức một cách toàn diện là một
cách nhìn mang tính khách quan, phù hợp với hoạt động phong phú đa dạng
của đời sống xã hội và mỗi con người.
Hồ Chí Minh đã nêu những nội dung, những chuẩn mực chung có ý
nghĩa cơ bản và có tính phổ cập đối với mọi người, mọi tầng lớp, đồng thời
Người cũng chỉ rõ những chuẩn mực cụ thể đối với từng tầng lớp như: công
nhân, nông dân, TN, phụ nữ, thiếu niên, nhi đồng, bộ đội, công an... Song đối
tượng Người chú ý nhiều nhất là đạo đức của người cách mạng, người cán bộ,
đảng viên.
Đạo đức mới, đạo đức cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng và
cùng với Đảng ta dày công xây dựng, bồi đắp khác với đạo đức cũ về chất,
ngược lại nó hoàn toàn thống nhất với đạo đức của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó
là kết hợp truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với đạo đức mang bản
chất giai cấp công nhân và tinh hoa đạo đức của nhân loại. Hồ Chí Minh đã
làm cuộc cách mạng trong lĩnh vực đạo đức. Người nói: “Đạo đức cũ như
người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai
chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”. Đạo đức cũ - đạo đức
thực dân, phong kiến, là thứ đạo đức ích kỷ, nó kìm hãm trói buộc con người,
tàn phá con người. Còn đạo đức mới là vì nước, vì dân; là “dĩ công vi
thượng”. Đây là đạo đức vĩ đại. Bởi lẽ, đạo đức đó “không vì danh vọng của
cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”.
kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm
được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà
không có tài ví như ông Bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì cho
loài người”. Người thực sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao
trình độ, nâng cao năng lực, tài năng để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Như vậy, đạo đức trong quan niệm của Hồ Chí Minh được hiểu là toàn
bộ những chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người trong
quan hệ với người khác và với cộng đồng. Dựa vào những chuẩn mực đó,
người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện và ác,
về cái không được làm và về nghĩa vụ phải làm.
1.1.2 Lối sống
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, lối sống là toàn bộ những hình thức
hoạt động sống của con người trong một xã hội nhất định được xem xét thống
nhất với các điều kiện kinh tế - xã hội nhất định.
Giải thích phạm trù lối sống, học thuyết Mác đi từ phương thức hoạt
động sản xuất của con người. Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác và
Ph. Ăngghen cho rằng: “Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn
thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá
nhân. Mà hơn thế, nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá
nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt động sống của họ, một phương
thức sinh sống nhất định của họ”.
Mác còn cho rằng để tồn tại trước hết con người phải giải quyết được
những nhu cầu thiết yếu trước mắt như: ăn, mặc, ở, đi lại rồi mới có thể nghĩ
đến chuyện làm văn thơ, làm triết học... Nghĩa là phải lao động kiếm sống.
Lao động vốn là nhu cầu sống hàng đầu của con người. Mặt khác, lao động
còn là nền tảng để phát triển toàn diện cá nhân con người.
Trong lao động sản xuất, con người thiết lập các mối quan hệ với tự
nhân cách của con người trong một điều kiện hoàn cảnh cụ thể, nhất định.
Con người phản ánh qua lối sống phần nào diện mạo văn hóa thời đại thông
qua năng lực trí tuệ, quan hệ ứng xử và khả năng đồng hóa thẩm mỹ hiện thực
của mình trong nhiều phương diện khác nhau.
Với Hồ Chí Minh, lối sống bao gồm lối sống riêng của từng cá nhân và
lối sống chung của từng nhóm người, rộng hơn là toàn xã hội. Lối sống cá
nhân là toàn bộ hình thức hoạt động sống của cá nhân trong một xã hội nhất
định. Đồng thời là sự phản ánh kết quả nhận thức của cá nhân về các điều
kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Vì thế, lối sống cá nhân luôn mang
đậm dấu ấn cá nhân và có tính phong phú, đa dạng. Mặt khác, được hình
thành từ một điều kiện kinh tế - xã hội nhất định nên lối sống của các cá
nhân lại có những điểm chung tương đồng, tạo nên lối sống chung của toàn
xã hội. Giữa lối sống riêng của từng cá nhân với lối sống chung của toàn xã
hội không có sự tách rời biệt lập mà trái lại luôn thống nhất, tác động qua
lại lẫn nhau.
Hồ Chí Minh quan niệm xã hội là do nhiều cá nhân nhóm lại mà thành.
Chính vì thế, nếu mỗi cá nhân có lối sống tích cực thì góp phần hình thành
nên lối sống tiến bộ của xã hội. Lối sống văn minh, cao đẹp của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã trở thành mẫu mực cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta học
tập và noi theo. Ngược lại, lối sống xã hội có tác dụng định hướng cho lối
sống cá nhân, giúp mỗi cá nhân điều chỉnh lối sống của bản thân.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức, lối sống, nếp sống là ba nội dung hợp thành
văn hóa đời sống, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu nhất. Vì vậy, xây
dựng đời sống mới chính là quá trình tuyên truyền và thực hành đạo đức mới,
lối sống mới, nếp sống mới. Lối sống mới mà Hồ Chí Minh quan tâm xây
dựng cho mọi người là lối sống có lý tưởng, có đạo đức, văn minh, tiên tiến,
kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân
loại. Hồ Chí Minh cho rằng để Việt Nam trở nên một nước mới, một nước
còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon mặc đẹp, như
yậy là không có đạo đức”. Đạo đức quyết định lối sống. Do đó, muốn xây
dựng lối sống mới trước hết phải bắt đầu từ việc xây dựng, thực hành đạo đức
mới. Chỉ có dựa trên cái nền đạo đức mới thì mới xây dựng được lối sống
mới, lành mạnh, vui tươi hướng con người tới tầm cao của văn hóa, của một
đất nước độc lập và CNXH.
1.1.3 Giáo dục đạo đức, lối sống
Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục vì giáo dục có một vai trò quan
trọng trong kháng chiến cũng như kiến quốc. Nói chuyện tại lớp đào tạo
hướng dẫn viên các trại hè cấp I, Người chỉ rõ mục đích của nền giáo dục
cách mạng là “Phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán
bộ mới”. Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa nền giáo dục mới mà
chúng ta đang ra sức xây dựng với nền giáo dục cũ - nền giáo dục thực dân.
Theo Hồ Chí Minh, nền giáo dục thực dân là nền giáo dục ngu dân, không
phải để mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho dân. Trái lại, chỉ làm cho
dân thêm “u mê” và “đần độn hơn”. Đó là một giáo dục phản tiến bộ mang
tính chất “đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát nữa”. Vì nó làm hư
hỏng mất tính nết của người đi học. Điều mà TN học được ở trường học thuộc
địa là “lòng “trung thực” giả dối”, tư tưởng “sùng bái những kẻ mạnh hơn
mình”, “yêu một Tổ quốc không phải là Tổ quốc của mình và đang áp bức
mình”, là sự “khinh rẻ nguồn gốc dòng giống mình”. Nền giáo dục đó chỉ dạy
cho TN thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống lao động và đấu tranh của
nhân dân. Mục đích của nền giáo dục thực dân là đào tạo những người
phục vụ cho chính quyền của bọn xâm lược: tùy phái, thông ngôn, viên
chức nhỏ.
Trong xã hội mới, giáo dục có nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang là “
Phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất
phấn đấu, rèn luyện mới trở thành những con người phát triển toàn diện, có tư
tưởng đúng, tình cảm đẹp, có kiến thức, có sức khỏe để làm chủ thiên nhiên,
làm chủ xã hội, làm chủ bản thân. Để làm được như vậy, Người khuyên TN:
“Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí
ắt làm nến”.
Đối với TN công nhân, nông dân, Người nhấn mạnh tinh thần trách
nhiệm, ý thức làm chủ, ra sức tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, hoàn
thành tốt nhiệm vụ. Đối với TN các lực lượng vũ trang, Người căn dặn: phải
trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào
cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Đối với TN các dân tộc, Người
dạy phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau như anh em một
nhà, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ
biên giới. Đặc biệt, đối với TN là học sinh, SV, Hồ Chí Minh xác định rõ đạo
đức chính là phải tích cực học tập. Đồng thời Người còn chỉ rõ mục đích và
động cơ học tập là để phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, làm cho dân
giàu, nước mạnh.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống
mà là kết quả trực tiếp của hoạt động giáo dục và tự giáo dục, tự rèn luyện của
mỗi cá nhân. Giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức cách mạng cho TN nói
riêng là sự nghiệp của quần chúng. Trong thư Gửi các em học sinh