Luận văn thạc sĩ : Xây dựng chương trình phần tự chọn môn Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học Thái Nguyên - Pdf 38

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu
của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận
văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào.

Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Bính


LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại
học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa
Khoa học cơ bản, Bộ môn GDTC, các Thầy/Cô tham gia giảng dạy lớp Cao học
K23 đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập cũng như trong quá trình
nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Lê Văn Lẫm người trực tiếp hướng
dẫn khoa học, định hướng đề tài,cũng như tận tình chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Mặc dù bản thân đã cố gắng rất nhiều song luận văn không thể trách khỏi những
khiếm khuyết và thiếu sót, kính mong được nhận những ý kiến đóng góp của các Thầy/
Cô, các bạn đồng nghiệp để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Ngọc Bính




Đối chứng

GDTC

Giáo dục thể chất

GD&ĐT

Giáo dục và đào tạo

TDTT

Thể dục thể thao

TC RLTT

Tiêu chuẩn rèn luyện thân thể

TT

Thể thao

TN

Thực nghiệm

K9

Sinh viên khóa 9

dục chung nhằm hình thành nhân cách cho HS, SV, phát triển ý thức xã hội, rèn
luyện đạo đức, ý chí, khả năng trí lực, óc thẩm mỹ và phát triển thể chất cho HS,
SV. GDTC trường học góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu nâng cao
dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã
hội của đất nước. Bên cạnh đó phát triển TDTT trường học còn đóng vai trò quyết
định để thực hiện chủ trương xã hội hóa TDTT của Đảng và Nhà nước.
Hệ thống GDTC trong các nhà trường là một bộ phận hữu cơ của hệ thống
Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Việt Nam. GDTC được hiểu là: “Quá trình sư
phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách,
nâng cao khả năng làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người” [21]. GDTC cũng
như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó,
có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp
với HS, SV tuân theo nguyên tắc sư phạm. GDTC chia thành hai mặt tương đối độc
lập: Dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực. Trong hệ
thống giáo dục, nội dung đặc trưng của GDTC được gắn liền với giáo dục trí dục,
đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động nhằm phát triển toàn diện con người. Điều
20, Luật thể dục, thể thao đã nêu: “GDTC là môn học chính khoá thuộc chương
trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học
thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục
toàn diện; Hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của người
học được tổ chức theo phương thức ngoại khoá phù hợp với sở thích, giới tính, lứa
tuổi và sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học thực hiện quyền vui chơi, giải

6


trí, phát triển năng khiếu thể thao” cho HS, SV những chủ nhân tương lai của đất
nước [23].
GDTC là một môn học bắt buộc, trong đó chứa đựng rất nhiều yếu tố về nội
dung, hình thức, phương pháp và yêu cầu kiểm tra, đánh giá phụ thuộc vào năng

Trên thực tế chương trình GDTC của Trường ĐHKT&QTKD - ĐHTN hiện
nay vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như việc nội dung chương trình phần tự chọn chưa
hoàn toàn áp dụng theo học chế tín chỉ, SV vẫn phải học theo chương trình bắt buộc
(học phần 1 là môn thể dục phát triển chung, học phần 2 là môn bóng chuyền, học
phần 3 là môn Bóng đá), chương trình vẫn còn mang tính cứng nhắc, chưa phát huy
được hết năng lực, chưa tạo ra được sự chủ động và tích cực trong học tập của SV,
chưa được lựa chọn môn học theo sở thích, giới tính và năng lực cá nhân sinh viên.
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về đổi mới chương trình môn
GDTC cho SV các trường Đại học và Cao đẳng như: “Nghiên cứu hiệu quả môn thể
thao tự chọn thích hợp đối với sự phát triển thể chất của nữ sinh viên trường Đại
học khoa học xã hội và nhân văn – Thành phố Hồ Chí Minh” (Phan Thanh Mỹ,
Luận văn Thạc sĩ, 2006) [26]; “XD chương trình GDTC cho SV nhóm sức khoẻ yếu
Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội” (Trần Huy Quang, Luận văn thạc sĩ, 2008)
[29];[18]... nhưng chưa có tác giả nào nghiên cứu về xây dựng chương trình phần tự
chọn môn GDTC cho sinh viên Trường Đại học Kinh tế & Quản trị Kinh doanh –
Đại học Thái Nguyên.
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, với mong muốn đóng góp cho sự phát
triển của môn GDTC nhà trường. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xây dựng
chương trình phần tự chọn môn Giáo dục thể chất cho sinh viên Trường Đại học
Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Đại học Thái Nguyên”.
2. Mục đích nghiên cứu
Qua đánh giá thực trạng việc thực hiện chương trình phần tự chọn môn GDTC
của SV nhà trường, đề tài sẽ xây dựng chương trình phần tự chọn môn GDTC cho
SV Trường ĐHKT&QTKD - ĐHTN, nhằm nâng cao kết quả học tập, cải thiện thể
lực cho sinh viên nhà trường.

8


3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu



7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu đề tài sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau [35], [45]:
7.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Phương pháp này giúp cho việc hệ thống hoá các kiến thức có liên quan đến
lĩnh vực nghiên cứu, hình thành cơ sở lý luận về quan điểm đánh giá chất lượng
giáo dục thể chất, xác định mục đích và mục tiêu nghiên cứu. Đồng thời việc sử
dụng phương pháp nghiên cứu này cho phép thu thập thêm các số liệu để kiểm
chứng và so sánh với những số liệu đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu.
Các tài liệu tham khảo chủ yếu được thu thập từ Thư viện trường Đại học sư Phạm
Hà Nội, Thư viện của trường Đại học TDTT Bắc Ninh và các tư liệu khác.
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các sách và tài liệu tham khảo tiếng
việt thuộc các lĩnh vực:
- Các tài liệu gồm có: các chỉ thị, văn bản, quyết định của Đảng và Nhà nước
về TDTT trong giai đoạn mới, định hướng công tác TDTT…
- Các sách gồm có: sách lý luận, tâm lý, sinh lý học, y học… và các tài liệu
liên quan tới giáo dục thể chất và thể dục thể thao.
- Các đề tài nghiên cứu lĩnh vực giáo dục thể chất và thể thao trường học.
- Các bài viết trên các trang thông tin điện tử của các báo của Tổng cục TDTT,
Các báo khuyến học như Dân trí…
Các tài liệu nêu trên được trình bày trong phần “danh mục tài liệu tham khảo”.
7.2. Phương pháp phỏng vấn
- Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp và phương pháp phỏng vấn
bằng phiếu hỏi đối với các nhà chuyên gia, nhà quản lý giáo dục, giáo viên GDTC và
SV Trường ĐHKT&QTKD - ĐHTN các vấn đề sau:
+ Phỏng vấn SV K9, K10, K11 của Trường ĐHKT&QTKD – ĐHTN về
chương trình môn học GDTC hiện hành, điều kiện tập luyện và nhu cầu của SV.
+ Phỏng vấn chuyên gia, giáo viên, nhà quản lý về sự cần thiết và yêu cầu

- Nhằm đánh giá kỹ thuật cơ bản môn Bóng chuyền cho SV, Bộ môn GDTC
đang thực thi 3 test:
* Kỹ thuật chuyền bóng cao tay: Mỗi SV và người phục vụ thực hiện chuyền
luân lưu bóng ở khoảng cách 3 - 5m, thực hiện 3 lần và lấy lần có thành tích tốt
nhất. Thành tích được quy ra điểm số như sau:

11


- Đạt 2 quả: 1 điểm
- Đạt 10 quả: 5 điểm
- Đạt 16 quả: 8 điểm
- Đạt 4 quả: 2 điểm
- Đạt 12 quả: 6 điểm
- Đạt 18 quả: 9 điểm
- Đạt 6 quả: 3 điểm
- Đạt 14 quả: 7 điểm
- Đạt 20 quả: 10 điểm
- Đạt 8 quả: 4 điểm
* Kỹ thuật chuyền bóng thấp tay (đệm bóng): Mỗi SV và người phục vụ thực
hiện chuyền bóng luân lưu ở khoảng cách 3 - 5m, thực hiện 3 lần và lấy lần có
thành tích tốt nhất. Điểm số tính như kỹ thuật chuyền cao tay.
* Kỹ thuật phát bóng: Mỗi SV thực hiện phát bóng từ cuối đường biên ngang
qua trên lưới và bóng rơi trong sân ở khu vực cuối sân.
+ Số lần thực hiện phát 5 quả.
+ Điểm số tính:
- Đạt 1 quả: 2 điểm
- Đạt 2 quả: 4 điểm
- Đạt 3 quả: 6 điểm
7.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm


12

(n>30)


δ

2

∑( x
=

− x) 2

i

n

- Phương sai:
δ = δ =
2

- Độ lệch chuẩn :

∑ (x

i

− x) 2

Trong đó:

V2 − V1
× 100%
0.5(V1 + V2 )

V1: Thành tích trước thực nghiệm
V2: Thành tích sau thực nghiệm

- Chỉ số (t) Student so sánh hai giá trị trung bình quan sát:
+ Với hai mẫu độc lập
Với n
Trong đó: t: là chỉ số t-student
n1, n2: số cá thể được quan sát của hai tập hợp mẫu tương ứng.
+ Với 2 mẫu có liên quan

t=

Trong đó: d là giá trị gia tăng.
;

13


- Đánh giá chất lượng bằng chỉ số X2 (Khi bình phương)
Trong đó:

- là tần số quan sát.
- : là tần số lý thuyết.


dục là quốc sách hàng đầu” và luôn quan tâm, coi trọng việc đào tạo nguồn nhân
lực cho đất nước. Con người là hạt nhân của xã hội, xã hội muốn bền vững thì cần
phải có con người tài năng, có sức khoẻ tốt, nhân cách đạo đức tốt. Do vậy, mục
tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri
thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của
công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc [25].
Để đạt được mục tiêu giáo dục con người toàn diện, ngoài giáo dục về nhân
cách, đạo đức, chuyên môn thì giáo dục thể chất nâng cao sức khoẻ cho con người,
là yếu tố quan trọng không thể thiếu. Với ý nghĩa và vai trò rất quan trọng của
TDTT đối với con người, Bác Hồ kính yêu của chúng ta lúc sinh thời rất quan tâm
đến phát triển sự nghiệp TDTT và việc rèn luyện TDTT trong quần chúng nhân dân.
Để dân cường nước thịnh Bác đã viết "Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục" [21] vào
ngày 27/3/1946, và ngày đó đã trở thành ngày truyền thống của ngành TDTT. Lời
kêu gọi của Bác đã định hướng cho sự hình thành và phát triển của một nền thể thao
mới do Người sáng lập. Câu nói "Tự tôi ngày nào cũng tập" đến "Khoẻ vì nước"
(năm 1946) và nay là "Cuộc vận động toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác
Hồ vĩ đại" [21] đã trở thành tư tưởng Hồ Chí Minh về TDTT Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc đặt nền tảng xây dựng sự nghiệp TDTT của
nước ta là: Khẳng định rõ TDTT là một công tác cách mạng, vừa là nhu cầu, vừa là
quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của quần chúng, một sự nghiệp của toàn dân, do dân và
vì dân. Mục tiêu của TDTT là bảo vệ và tăng cường sức khoẻ của nhân dân, góp
phần cải tạo nòi giống Việt Nam, làm cho dân cường, nước thịnh. Tiêu biểu cho
điều mong muốn thiết tha của Bác là lời kêu gọi toàn dân tập thể dục: "Giữ gìn dân
chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần đến sức khoẻ mới

15


thành công, mỗi một người dân yếu ớt tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi


17


như xác định nhận thức đúng về vị trí GDTC trong nhà trường các cấp phải được
triển khai đồng bộ với các mặt giáo dục tri thức và nhân cách từ tuổi thơ cho đến bậc
đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản quyết định ban hành quy chế về công
tác GDTC trong nhà trường các cấp, trong đó đã khẳng định: "GDTC được thực hiện
trong hệ thống nhà trường từ mầm non đến đại học, góp phần đào tạo những công
dân phát triển toàn diện. GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào
tạo, nhằm giúp con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong
phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức: Thể chất - sức khoẻ tốt là nhân tố quan
trọng trong việc phát triển sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [37].
Trong Điều 16, Pháp lệnh TDTT đã khẳng định: "Nhà trường có trách nhiệm
thực hiện chương trình GDTC cho người học. Tổ chức hoạt động TDTT ngoại
khoá, xây dựng cơ sở vật chất cần thiết đáp ứng việc giảng dạy và hoạt động TDTT
trong nhà trường" [28].
Trong các trường đại học, GDTC có tác dụng tích cực trong việc hoàn thiện
nhân cách, những phẩm chất cần thiết và hoàn thiện thể chất cho SV. Trong những
năm qua, kể từ buổi lễ phát động "Toàn dân RLTT theo gương Bác Hồ vĩ đại"
(26/03/2000) [21]. Công tác GDTC và hoạt động thể thao trong trường học đã có
nhiều khởi sắc. Liên Bộ đã phối hợp xây dựng pháp lệnh TDTT và đã được Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội thông qua, các vụ chức năng của Bộ GD&ĐT, Uỷ ban TDTT
và Bộ Y tế đã phối hợp xây dựng quy chế về GDTC và y tế trường học được Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT duyệt ký và ban hành. Quy chế GDTC và Y tế trường học có ý
nghĩa quan trọng tạo điều kiện để nhà trường các cấp và các địa phương triển khai
tốt công tác GDTC trong giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên. Hai ngành đã
và đang nghiên cứu cải tiến nội dung chương trình và sách hướng dẫn GDTC, các
hoạt động vui chơi trong ngày học, định hướng giảm tải và nâng cao chất lượng
giáo dục. Trong quy chế có quy định rõ trách nhiệm của học sinh, sinh viên: “Học

khoa Quản lý luật – Kinh tế, khoa Marketing - Thương mại và Du lịch, Khoa khoa
học cơ bản.
Khoa Khoa học cơ bản là một khoa hiện nay công tác tổ chức vẫn mang tính
kiêm nhiệm (vừa làm công tác quản lý vừa làm cán bộ giảng dạy).

19


1.2.1. Cơ chế tổ chức
- Ban chủ nhiệm khoa bao gồm: 1 Trưởng khoa, 02 Phó khoa phụ trách công
tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, 1 Phó khoa phụ trách về công tác đảng, công
tác chính trị. Khoa có 62 cán bộ cơ hữu, 09 giảng viên kiêm nhiệm, 02 giảng viên
thỉnh giảng, 01 chuyên viên, với rất nhiều các chuyên ngành khác nhau như: Toán,
Ngoại ngữ, Lý luận chính trị, Tin học và GDTC. Trong đó: 02 tiến sĩ; 45 thạc sĩ
(trong đó có 16 giảng viên đang nghiên cứu sinh) và 24 cử nhân (trong đó có 17
học viên cao học).
Khoa khoa học cơ bản là một đơn vị mới được thành lập từ năm 2006. Với
nhiệm vụ là giảng dạy môn học cơ bản cho SV các khoa, đồng thời tổ chức các
phong trào Thể dục, thể thao cho cán bộ, SV trong toàn trường.
1.2.2. Hoạt động đào tạo
Hiện nay khoa Khoa học cơ bản Trường ĐHKT&QTKD - ĐHTN đã và đang
tổ chức giảng dạy cho SV theo khóa học, lớp học và từng bước áp dụng các yếu tố
tích cực của đào tạo tín chỉ vào quá trình giảng dạy. Khoa chủ động phân công cán
bộ xây dựng đề cương môn học, tiến hành đổi mới phương pháp giảng dạy và cách
thức kiểm tra đánh giá phù hợp với hình thức đào tạo tín chỉ theo chủ trương chung
của Đại học Thái Nguyên (ĐHTN). Bước đầu trường đưa vào chương trình một số
môn học mới nhằm từng bước chuyển sang giảng dạy theo hướng SV tự chọn môn
học. Tuy nhiên việc xây dựng thời khóa biểu ở từng học kỳ cho các đơn vị đào tạo
trong Trường ĐHKT&QTKD - ĐHTN là rất khó khăn và phức tạp. Do đó trong
tương lai cần phải có sự liên kết với các đơn vị đào tạo trong ĐHTN về thống nhất

động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Hai hoạt động này có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Hoạt động dạy và hoạt động học tuy có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau trong hoạt động giảng dạy nhưng không ngang nhau.
1.3. Một số vấn đề về Giáo dục thể chất ở bậc đại học
1.3.1. Chủ chương của hai ngành Giáo dục đào tạo và TDTT.
Để GDTC và thể thao trường học thực sự có vị trí quan trọng trong việc góp
phần đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và thể
chất sức khỏe, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ vững
tăng cường an ninh quốc phòng, đồng thời xây dựng nhà trường thành những cơ sở
phong trào TDTT quần chúng của HS, SV, quán triệt sâu sắc nội dung của các Nghị

21


quyết, chỉ thị của Đảng, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 và các văn bản pháp lệnh của Chính phủ về công tác TDTT trong tình hình
mới. Để khắc phục thực trạng giảm sút sức khỏe thể lực của HS, SV hiện nay, hai
ngành giáo dục đào tạo và TDTT đã thống nhất những nội dung, biện pháp và hợp
đồng trách nhiệm chỉ đạo nhằm đẩy mạnh và nâng cao chất lượng GDTC của HS,
SV: "Hai ngành nhất trí xây dựng chương trình nâng cao GDTC, sức khỏe, bồi
dưỡng năng khiếu thể thao HS, SV... kiến nghị với Nhà nước phê duyệt thành
chương trình quốc gia và được đầu tư kinh phí thỏa đáng" [16].
Hai ngành: GD&ĐT và Thể dục thể thao đã thống nhất những biện pháp chủ
yếu, để nhằm tăng cường đẩy mạnh nâng cao chất lượng công tác GDTC trong nhà
trường các cấp là: "Hai ngành thống nhất tổ chức cuộc vận động tuyên truyền rộng
khắp nhằm có được nhận thức đúng về vị trí quan trọng của công tác GDTC trong
chiến lược phát triển con người tới đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đào
tạo và TDTT, HS, SV và toàn xã hội. Kiện toàn tổ chức chỉ đạo và quản lý GDTC từ
Trung ương tới trường học. Cần có hình thức chỉ đạo linh hoạt, gắn hoạt động
GDTC với sự nghiệp giáo dục, đào tạo, TDTT, văn hóa, kinh tế - xã hội". Cũng như:

dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm
việc, và kéo dài tuổi thọ của con người” [24].
* Mục đích
GDTC là một loại hình giáo dục, nên nó là một quá trình giáo dục có tổ chức,
có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo...về TDTT từ
thế hệ này đến thế hệ khác. Điều đó có nghĩa là, GDTC cũng như các loại hình giáo
dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nguyên tắc sư phạm, có vai trò
chủ đạo, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh. GDTC bao gồm hai
mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (giáo dục kỹ năng, kỹ xảo) và giáo dục tố
chất thể lực (giáo dưỡng thể chất). Trong hệ thống giáo dục nói chung đặc trưng của
GDTC được gắn liền với giáo dục trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động.
GDTC là lĩnh vực TDTT xã hội với nhiệm vụ là. Phát triển toàn diện các tố
chất thể lực, và trên cơ sở đó phát triển các năng lực hoạt động, hoàn thiện cấu trúc
thể hình, củng cố sức khoẻ, bồi dưỡng các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng cho cuộc
sống và lao động. Đồng thời, giáo dục thể chất gắn liền với bồi dưỡng các phẩm
chất đạo đức, giáo dục ý thức và nhân cách. Chương trình GDTC trong các trường

23


Đại học nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục: “Trang bị kiến thức, kỹ năng và
rèn luyện thể lực của sinh viên”. Trong các trường Đại học, GDTC có tác dụng tích
cực trong việc hoàn thiện nhân cách, những phẩm chất cần thiết cho nghiệp vụ và
hoàn thiện thể chất của sinh viên. Việc tiến hành GDTC nhằm giữ gìn sức khoẻ và
phát triển thể lực, tiếp thu những kiến thức và kỹ năng vận động cơ bản, còn có tác
dụng chuẩn bị tốt về mặt tâm lý và tinh thần của người cán bộ tương lai. Đồng thời
giúp họ hiểu biết phương pháp khoa học để tiếp tục rèn luyện thân thể, củng cố sức
khoẻ, góp phần tổ chức xây dựng phong trào TDTT trong nhà trường.
* Nội dung và nhiệm vụ chương trình môn học GDTC.
Tác dụng của GDTC và các hoạt động TDTT là quá trình giáo dục sư phạm có

cho HS, SV là nhiệm vụ cần thiết, trước hết chương trình phải có cấu trúc nội dung
thích hợp để phát triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho HS, SV. Đồng
thời, giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu được các kỹ thuật động tác TDTT
theo chương trình. Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể
thao trong trường học là: “Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong
thể chất và thể thao của HS, phát triển các tố chất thể lực, phát triển năng lực tâm
lý, tạo ý thức tập luyện TDTT thường xuyên, giáo dục được đức tính cơ bản và lòng
nhân đạo cho HS”.
Do vậy, giờ học chính khoá môn học GDTC mang tính hành chính pháp quy,
quy định đối với học sinh và cán bộ giảng dạy. Đó là, giờ học theo chương trình có
quy định thời gian và quy cách đánh giá chất lượng, được bố trí theo kế hoạch và có
sự kiểm tra giám sát của Nhà nước. Giờ học chính khoá đã được Luật Giáo dục
cũng như Luật thể dục thể thao quy định bắt buộc.
- Giờ học ngoại khoá - tự tập luyện TDTT: Là quá trình tập luyện của một
bộ phận SV có nhu cầu và ham thích trong thời gian nhàn rỗi với mục đích phát
triển năng lực thể chất một cách toàn diện, đồng thời nâng cao thành tích thể thao
của HS, SV. Giờ học ngoại khoá có tác dụng củng cố và hoàn thiện các bài học
chính khoá và được tiến hành vào giờ tự học của HS, SV dưới sự hướng dẫn của
giáo viên TDTT hay hướng dẫn viên TDTT. Ngoài ra còn các hoạt động thể thao
quần chúng ngoài giờ học bao gồm: Luyện tập trong các câu lạc bộ, các đội đại biểu
từng môn thể thao, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như
giờ tự luyện tập của học sinh sinh viên, phong trào tự rèn luyện thể lực.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status