Trờng đại học s phạm hà nội
Khoa giáo dục chính trị
----------------
Công trình dự thi
sinh viên nghiên cứu khoa học
năm 2013
Tên công trình:
Lòng yêu thơng con ngời trong t tởng đạo đức
Hồ Chí Minh và ý nghĩa với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên
Trờng Đại học S phạm Hà Nội trong điều kiện hiện nay
Thuộc nhóm ngành: Lịch sử Đảng - T tởng Hồ Chí Minh
Sinh viên: Vơng Thị Diễn
Nguyễn Thị Hải
Năm thứ: 4/4
Giới tính: Nữ
Ngời hớng dẫn khoa học: TS. Trần Thanh Hơng
Dân tộc: Kinh
Hµ Néi - 2013
2
2
3
Trong điều kiện hiện nay, trước những biến động nhiều mặt của đời sống xã
hội, dưới tác động của kinh tế thị trường, sự suy thoái về đạo đức, thì việc tìm hiểu,
nghiên cứu và vận dụng tư tưởng đạo đức của Người là cần thiết. Đặc biệt là tìm
hiểu nội dung tư tưởng của Người về lòng yêu thương con người và ý nghĩa của
việc vận dụng tư tưởng đạo đức vào giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội.
Thực tiễn phát triển đất nước trong điều kiện mới đặt ra yêu cầu nâng cao
chất lượng của giáo dục đào tạo một cách toàn diện trong xu thế hội nhập. Vai trò,
vị trí của nhà giáo và sinh viên Sư phạm tiếp tục được khẳng định, những truyền
thống đạo đức cao đẹp của nhà giáo và sinh viên Sư phạm cần được gìn giữ, phát
huy, việc bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức, đặc biệt là bồi dưỡng lòng yêu
thương con người theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho sinh viên Sư phạm lại
càng cần thiết và có ý nghĩa hơn bao giờ hết.
Với lí do trên, chúng em quyết định lựa chọn đề tài “Lòng yêu thương con
người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và ý nghĩa với việc giáo dục đạo đức
cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong điều kiện hiện nay” làm đề
tài nghiên cứu khoa học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về đạo đức nói riêng,
từ trước tới nay đã có nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu quan tâm. Đã có không
ít công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu viết về tư tưởng Hồ Chí Minh, tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức. Tiêu biểu như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo
đức” của tác giả Thanh Duy, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996; “Góp phần tìm hiểu tư
tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh” của Lê Sỹ Thắng, Nxb Khoa học xã hội, 1991;
“Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh truyền thống dân tộc và nhân loại ” của Vũ
Khiêu, Nxb Khoa học xã hội, 1993; “Hồ Chí Minh - Người là ngọn đuốc sáng mãi
Đề tài thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện
chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó sử dụng kết hợp một số phương
5
5
pháp như: phương pháp logic, phương pháp lịch sử, phân tích, khái quát hóa, hệ
thống hóa.
6. Đóng góp của đề tài
Về lý luận: Đề tài góp phần nghiên cứu, làm sâu sắc hơn nội dung lòng yêu
thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó rút ra ý
nghĩa của tư tưởng đó đối với việc giáo dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội trong điều kiện hiện nay.
Về thực tiễn: Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học
tập và giảng dạy các môn học như: tư tưởng Hồ Chí Minh, Đạo đức học…
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 2
chương và 5 tiết
Chương 1: Lòng yêu thương con người - một nội dung trong tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh
Chương 2: Ý nghĩa của giáo dục lòng yêu thương con người với việc giáo
dục đạo đức cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong điều kiện hiện
nay.
6
6
Mẹ của Người là bà Hoàng Thị Loan, sinh năm 1868, mất năm 1901, là một
phụ nữ cần mẫn, đảm đang, đôn hậu, sống bằng nghề làm ruộng và dệt vải, hết
lòng thương yêu và chăm lo cho chồng con
Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh, còn có tên là Nguyễn Thị Bạch Liên,
sinh năm 1884, mất năm 1954. Anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm, còn có tên
là Nguyễn Tất Đạt, sinh năm 1888, mất năm 1950. Em của Người là bé Xin, sinh
năm 1900, vì ốm yếu nên sớm qua đời. Các anh chị của Người lớn lên đều chịu
ảnh hưởng của ông bà, cha mẹ, chăm làm việc và rất thương người, đều là những
người yêu nước, đã tham gia phong trào yêu nước và bị thực dân Pháp và triều
đình phong kiến bắt bớ tù đày.
Từ lúc ra đời đến tuổi lên 5, Nguyễn Sinh Cung sống ở quê nhà trong sự
chăm sóc đầy tình thương yêu của ông bà ngoại và cha mẹ, lớn lên trong truyền
thống tốt đẹp của quê hương, hiếu học, cần cù trong lao động, tình nghĩa trong
cuộc sống và bất khuất trước kẻ thù. Nguyễn Sinh Cung ham hiểu biết, thích nghe
chuyện và hay hỏi những điều mới lạ, từ các hiện tượng thiên nhiên đến những
chuyện cổ tích mà bà ngoại và mẹ thường kể.
Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng với gia đình chuyển vào Huế lần thứ
nhất, khi ông Nguyễn Sinh Sắc vào Kinh thi hội. Từ cuối năm 1895 đến đầu năm
1901, Nguyễn Sinh Cung sống cùng cha mẹ tại Huế, ở nhờ nhà một người quen ở
trong thành nội (nay là số nhà 112, đường Mai Thúc Loan). Đó là những năm
tháng gia đình ông Sắc sống trong cảnh gieo neo, thiếu thốn. Bà Hoàng Thị Loan
làm nghề dệt vải, còn ông Sắc ngoài thời gian học, phải đi chép chữ thuê để kiếm
sống, để học và dự thi.
Năm 1898, ông Nguyễn Sinh Sắc dự thi hội lần thứ hai nhưng vẫn không
đỗ. Cuộc sống gia đình càng thêm chật vật khó khăn. Gần cuối năm 1898, theo lời
mời của ông Nguyễn Sĩ Độ, ông Nguyễn Sinh Sắc về dạy học cho một số học sinh
ở làng Dương Nỗ, tại ngôi nhà của ông Nguyễn Sĩ Khuyến (em trai ông Nguyễn Sĩ
8
8
9
những người yêu nước. Nguyễn Tất Thành được nghe nhiều chuyện qua các buổi
bàn luận thời cuộc giữa các thầy với các sĩ phu yêu nước. Nguyễn Tất Thành dần
dần hiểu được thời cuộc và sự day dứt của các bậc cha chú trước cảnh nước mất,
nhà tan. Trong những người mà ông Sắc thường gặp gỡ có ông Phan Bội Châu.
Giống như nhiều nhà Nho yêu nước lúc bấy giờ, Phan Bội Châu cũng day dứt
trước hiện tình đất nước và số phận của dân tộc. Con người nhiệt huyết ấy trong
lúc rượu say vẫn thường ngâm hai câu thơ của Viên Mai:
“Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch,
Lập thân tối hạ thị văn chương”.
Nghĩa là:
“Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách,
Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương”.
Câu thơ đã tác động nhiều đến Nguyễn Tất Thành và góp phần định hướng
cho người thiếu niên sớm có hoài bão lớn.
Lớn dần lên, càng đi vào cuộc sống của người dân địa phương, Nguyễn Tất
Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước. Đó là nạn thuế
khoá nặng nề cùng với việc nhân dân bị bắt làm phu xây dựng đường trong tỉnh,
làm đường từ Cửa Rào, đi Xiêng Khoảng (Lào) nơi rừng thiêng nước độc. Những
cuộc ra đi không có ngày về, nhân dân lầm than, ai oán.
Mùa xuân năm 1903, Nguyễn Tất Thành theo cha đến xã Võ Liệt, huyện
Thanh Chương, tỉnh Nghệ An và tiếp tục học chữ Hán. Tại đây Nguyễn Tất Thành
có dịp nghe chuyện thời cuộc của các sĩ phu đến đàm đạo với cha mình.
Cuối năm 1904, Nguyễn Tất Thành theo cha sang làng Du Đồng, huyện Đức
Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, khi ông Sắc đến đây dạy học. Ngoài thời gian học tập, Nguyễn
Tất Thành thường theo cha đến các vùng trong tỉnh như làng Đông Thái, quê
hương của Phan Đình Phùng, thăm các di tích thành Lục niên, miếu thờ La Sơn
trường. Tháng 9-1908, Nguyễn Tất Thành vào lớp trung đẳng (lớp nhì) (cours
moyen) tại Trường Quốc học Huế.
11
11
Trong thời gian học tại Trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành được tiếp
xúc nhiều với sách báo Pháp. Các thầy giáo của Trường Quốc học Huế có người
Pháp và cả người Việt Nam, cũng có những người yêu nước như thầy Hoàng
Thông, thầy Lê Văn Miến. Chính nhờ ảnh hưởng của các thầy giáo yêu nước và
sách báo tiến bộ mà anh được tiếp xúc, ý muốn đi sang phương Tây tìm hiểu tình
hình các nước và học hỏi những thành tựu của văn minh nhân loại từng bước lớn
dần trong tâm trí của Nguyễn Tất Thành. Cùng thời gian đó, Nguyễn Tất Thành
còn được nghe kể về những hành động của những ông vua yêu nước như Thành
Thái, Duy Tân và những bàn luận về con đường cứu nước trong các sĩ phu yêu
nước.
Khoảng tháng 6-1909, Nguyễn Tất Thành rời Trường Quốc học Huế theo
cha vào Bình Định, khi ông được bổ nhiệm chức Tri huyện Bình Khê. Trong thời
gian ở Bình Khê, Nguyễn Tất Thành thường được cha dẫn đi thăm các sĩ phu trong
vùng và thăm di tích lịch sử vùng Tây Sơn.
Cuối năm 1909, Nguyễn Tất Thành được cha gửi học tiếp chương trình lớp
cao đẳng (lớp nhất - cours supérieur), tại Trường tiểu học Pháp - Việt Quy Nhơn.
Ông Nguyễn Sinh Sắc hiểu khả năng và chí hướng người con trai thứ của mình nên
đã tạo điều kiện cho anh được tiếp tục học lên.
Tháng 6-1910, Nguyễn Tất Thành hoàn thành chương trình tiểu học. Sau khi
nghe tin cha bị cách chức Tri huyện Bình Khê, bị triệu hồi về Kinh, anh không theo
cha trở về Huế mà quyết định đi tiếp xuống phía Nam. Trên đường từ Quy Nhơn
vào Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Phan Thiết. Ở đây anh xin vào làm
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt
Nam, hình thành cơ sở thế giới quan và phương pháp luận cho việc xây dựng nền
văn hóa mới, nền đạo đức mới ở Việt Nam. Trên cơ sở nhận thức chủ nghĩa Mác Lênin, Người đã cổ vũ, động viên những tiềm năng tinh thần truyền thống Việt
Nam để tạo ra một xã hội nhân cách mới. Xã hội nhân cách đó được tạo dựng trên
cơ sở chủ nghĩa yêu nước của dân tộc kết hợp chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công
nhân, từ đó đã sản sinh ra hàng triệu, hàng triệu người con anh hùng của đất nước 13
13
những chiến sĩ cách mạng kiểu mới của thời đại Hồ Chí Minh: trung với nước,
hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh
phúc của nhân dân, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư...
Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta một di sản vĩ đại, đó là tấm gương
sáng ngời về phẩm chất đạo đức, tượng trưng cho những gì cao đẹp nhất trong tâm
hồn, ý chí, nhân cách của dân tộc Việt Nam. Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là
một tấm gương đạo đức của một vĩ nhân - một lãnh tụ cách mạng vĩ đại, một người
cộng sản, đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một người bình dị. Vấn đề lý
tưởng, lẽ sống: Sống cho ai? Sống vì cái gì? "Không có gì quý hơn độc lập, tự do",
là lý tưởng, là lẽ sống, đạo đức của Hồ Chí Minh và của dân tộc Việt Nam. Ham
muốn tột bậc của Người là làm sao cho đất nước được hoàn toàn độc lập, nhân dân
được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành.
Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho Người một ý chí, một nghị lực phi
thường để "giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ
không thể khuất phục". Cho đến khi từ biệt thế giới này, điều luyến tiếc duy nhất
của Người vẫn là không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Đạo
đức Hồ Chí Minh là đạo đức của một bậc đại trí, đại dũng, hy sinh chẳng quản,
gian nguy không sờn. Ở những thời điểm then chốt của lịch sử, với tầm nhìn xa
trông rộng của một "phượng hoàng đại ngàn", Hồ Chí Minh đã sáng suốt và dũng
cảm đi tới những phán quyết lịch sử. Năm 1945, khi thời cơ cách mạng đã đến,
và tượng trưng cho cuộc xung đột lớn lao đang diễn ra giữa cái cũ và cái mới,
giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội... Sở dĩ bản anh hùng ca Việt Nam thu
hút được lòng yêu mến của hàng trăm triệu người trên thế giới, chính là vì nó
được tiêu biểu bởi nhân vật phi thường đó [35,26]
Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, những tư tưởng đạo
đức dân tộc, dạy ta sống có tình, có nghĩa, thủy chung, yêu thương đùm bọc lẫn
nhau, đã trở thành những chuẩn mực đi vào lối sống và hành vi ứng xử của mỗi
con người Việt Nam. Người Việt Nam vốn giàu lòng vị tha, nhân ái yêu thương lẫn
nhau, chính nếp sống chan hòa trong cộng đồng, gia đình, làng xã đã tạo nên chất
keo sơn gắn bó, trước sau như một, từ đó hình thành nên nét đẹp trong đạo đức của
dân tộc Việt Nam.
17
17
Cha ông ta xưa có câu:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
“Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”
“Lá lành đùm lá rách
Lá rách ít đùm lá rách nhiều”
“Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”
Dân tộc Việt Nam là dân tộc mang đạo lí làm người sâu sắc, những đứa trẻ
khi mới chào đời bên cánh võng đưa nôi bằng những câu ca, những lời ru ngọt
ngào đằm thắm của bà, của mẹ đã truyền cho con mình tình cảm và linh hồn người
Việt, dạy cho con biết đạo lý làm người, biết thờ phụng cha mẹ, yêu thương anh
em, có hiếu, có nghĩa tình, phải chăng những tình cảm đạo đức trong sáng ấy đã ăn
sự gần gũi, bởi Người đã kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, để nâng
giá trị đạo đức truyền thống lên một tầm cao mới. Trong nhiều vấn đề, Người đều
khai thác yếu tố tích cực, tìm kiếm những “hạt nhân hợp lý” để phục vụ cho sự
nghiệp cách mạng của dân tộc và xây dựng xã hội mới. Đây cũng chính là đặc
trưng nổi bật của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.
Ngoài kế thừa những giá trị đạo đức cao đẹp của dân tộc, chắt lọc những tinh
hoa đạo đức nhân loại, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn bắt nguồn từ tư tưởng
đạo đức của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Người đã từng viết những dòng đầy xúc động khi Lênin mất:
Lênin là người: “Đã nêu cho chúng ta một tấm gương sáng về sự giản dị vĩ
đại và sự khiêm tốn cao độ” “không phải chỉ thiên tài của Người mà chính là tính
coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị,
tóm lại đó chính là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn
lao tới các dân tộc Châu Á và đã khiến trái tim của họ hướng về Người không gì
ngăn cản nổi ” [15, 295]
19
19
Điều quan trọng đối với Hồ Chí Minh là ở chỗ, không chỉ bàn tới đạo đức
mà phải thực hiện, phải nêu gương. Người cho rằng “Một tấm gương sống còn giá
trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Người coi tấm gương đạo đức cao cả
của Lênin là ‘hiện thân của tình anh em bốn bể”, những phẩm chất cao đẹp của
Lênin đã cuốn hút Hồ Chí Minh, là một trong những yếu tố cơ sở hình thành nên tư
tưởng đạo đức.
Như vậy, có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức chính là sự kết hợp
hài hòa giữa đạo đức truyền thống, tinh hoa đạo đức nhân loại và tư tưởng đạo đức
Mác - Lênin. Bàn tới vấn đề đạo đức trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh ta dễ
để vươn tới Chân - Thiện - Mĩ. Đó chính là những vấn đề đạo đức được Người rút
ra từ cuộc đời thực của mỗi con người trong xã hội Việt Nam, khái quát thành tư
tưởng lý luận đạo đức. Vậy những phẩm chất đạo đức đó là gì?
Đó là trung với nước, hiếu với dân, yêu thương con người, cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư và tinh thần quốc tế trong sáng. Đây cũng chính là những giá
trị, những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời đại mới.
Ngay từ thời trẻ, Hồ Chí Minh đã chọn cho mình con đường đấu tranh suốt
đời cho cách mạng, tất cả vì giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con
người. “Trung với nước, hiếu với dân” là mục tiêu Người kiên định theo đuổi, không
quản gian khổ, hy sinh, bất chấp thách thức nguy hiểm sáng suốt và dũng cảm đi
theo con đường cách mạng. Những năm trước cách mạng, trước thời cơ Tổng khởi
nghĩa; mặc dù đang bị sốt nặng, nhưng Người vẫn căn dặn đồng chí của mình: “Dù
có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải dành cho được độc lập!”.
Tấm gương “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, tấm gương của ý chí và
nghị lực phi thường của Hồ Chí Minh, chính là bài học quý báu cho những người
cộng sản. Người dạy thanh niên:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
21
21
Chúng ta học ở đạo đức Hồ Chí Minh sự tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh
đoàn kết dân tộc, vào sự tôn trọng dân, hết lòng vì dân, dựa vào dân, lấy dân làm
gốc là phương châm công tác dân vận của Người. Bởi Người hiểu rõ: “Chèo
thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân” Người tình nguyện là “Người lính vâng
mệnh quốc dân trước mặt trận”.
Minh
1.2.1. Nội dung lòng yêu thương con người trong tư tưởng đạo đức Hồ
Chí Minh
Điều cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội và giải phóng con người. Trong đó, vấn đề con người là vấn đề
lớn, được đặt lên hàng đầu và là nội dung trung tâm, xuyên suốt trong toàn bộ
nội dung tư tưởng của Người. Tin ở dân, dựa vào dân, tổ chức và phát huy sức
mạnh đoàn kết toàn dân, bồi dưỡng, đào tạo và phát huy mọi năng lực của dân
(ở từng cá nhân riêng lẻ và của cả cộng đồng), đó là tư tưởng được Hồ Chí Minh
vận dụng và phát triển trong toàn bộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc
lập dân tộc cũng như xây dựng đất nước.
Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa tồn tại với tư cách cá nhân, vừa là
thành viên của gia đình và của cộng đồng, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá
nhân hài hòa, phong phú. Người đã nêu một định nghĩa về con người: Con
người theo nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng
bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Người chưa bao giờ nhìn nhận con
người một cách chung chung, trừu tượng. Khi bàn về con người ở mọi nơi, mọi
lúc, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi ích chính đáng
của con người. Đem lại lợi ích cho con người, chính là tạo ra động lực lớn cho
sự nghiệp chung, vì nếu như những nhu cầu, lợi ích của mỗi cá nhân không
được quan tâm thỏa đáng thì tính tích cực của họ sẽ không phát huy. Trong khi
phê phán một cách nghiêm khắc chủ nghĩa cá nhân, Người viết: "Đấu tranh
chống chủ nghĩa cá nhân không phải là "giày xéo lên lợi ích cá nhân". Mỗi
23
23
người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và
của gia đình mình". Trong quan điểm về thực hiện một nền dân chủ xã hội chủ
thực hiện chế độ dân chủ nhân dân, vì như Người nói: Đây là cuộc chiến đấu
khổng lồ chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ,
tốt tươi. Cuộc chiến đấu ấy sẽ không đi đến thắng lợi, nếu không "dựa vào lực
lượng của toàn dân". Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan
niệm hình thái xã hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến.
Bao giờ Người cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa
khách quan. Người đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội với những bước đi thiết thực và nội dung cơ bản nhất. Theo Người: "Nói
một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao
động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no
và được sống đời hạnh phúc"; "Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật
chất và văn hóa của nhân dân" xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là làm cho nhân
dân ta có một đời sống thật sung sướng, tốt đẹp. Theo Người, xây dựng chủ
nghĩa xã hội phải thiết thực, phù hợp với điều kiện khách quan, phải nắm được
quy luật và phải biết vận dụng quy luật một cách sáng tạo trên cơ sở nắm vững
tính đặc thù, tránh giáo điều, rập khuôn máy móc. Sự sáng tạo đó gần gũi, tương
đồng, nhất quán với luận điểm của Ăngghen: Đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng
sản không phải là trạng thái cần phải sáng tạo ra, không phải là một lý tưởng mà
hiện thực phải luôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào
hiện thực, nó xóa bỏ trạng thái hiện nay. Vì vậy, không chỉ trong lý luận về đấu
tranh giành độc lập dân tộc mà trong lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội, khi
định ra mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, trước hết, "cần có con người xã hội chủ
nghĩa", Hồ Chí Minh đã thể hiện nhất quán quan điểm về con người, con người
là mục tiêu, đồng thời vừa là động lực của sự nghiệp giải phóng xã hội và giải
phóng chính bản thân con người.
25
25