vấn đề con người trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh - Pdf 34

MỤC LỤC
Lời nói đầu
MỤC LỤC.........................................................................................................................1
1.Quan niệm về con người trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.................................2
2.Mục tiêu giải phóng con người trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.......................4
3.Vai trò động lực của con người trong Cách mạng Việt Nam.......................................6

Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo

I.

Vấn đề con người trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.

1


1. Quan niệm về con người trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh.
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, con người không tồn tại một cách
chung chung, trừu tượng mà chỉ có con người mang đậm sắc thái lịch sử, cụ thể
đó là nhân dân, những người lao động nghèo khổ bị áp bức, bóc lột. Con người,
theo Hồ Chí Minh, được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp: “Chữ Người,
nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả
nước. rộng hơn nữa là cả loài người”1. Ở đây, con người trong quan niệm của
Hồ Chí Minh được biểu hiện như một phức hợp: vừa là một con người cụ thể,
vừa là một cộng đồng xã hội, từ gia đình, giai cấp, dân tộc đến nhân loại nói
chung. Hồ Chí Minh nhìn nhận con người không chỉ là một thực thể sinh học,
mà còn nhấn mạnh và khẳng định rõ cái đóng vai trò quyết định trong việc hình
thành bản chất con người là mặt xã hội. Khi bàn về chính sách xã hội, cũng như
ở mọi lúc, mọi nơi, trong mọi hoàn cảnh, Người luôn quan tâm đến nhu cầu, lợi
ích của con người với tư cách nhu cầu chính đáng. Đem lại lợi ích cho con

thức một cách sâu sắc rằng, chỉ có cuộc cách mạng duy nhất và tất yếu đạt tới
được mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và toàn thể nhân loại khỏi
mọi sự nô dịch, áp bức. Toàn bộ các tư tưởng, lý luận về thực chất chỉ là sự cụ
thể hóa bằng thực tiễn tư tưởng về con người của Hồ Chí Minh.
Trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, con người được khái niệm vừa là
mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, vừa là động lực
chính của sự nghiệp đó. Tư tưởng đó được thể hiện rất triệt để và cụ thể trong lý
luận chỉ đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở nước ta.
Theo Hồ Chí Minh, con người sinh ra, lớn lên trong môi trường xã hội, do
đó, các điều kiện, hoàn cảnh xã hội làm nảy sinh trong con người cả cái thiện và
cái ác. “Ngủ thì ai cũng như lương thiện. tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền. Hiền, dữ
đâu phải là tính sẵn. Phần nhiều do giáo dục mà nên”. Vì vậy, “ta phải biết làm
cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị
mất dần đi”2. Con người bị chi phối bởi lịch sử - xã hội, nhưng lịch sử - xã hội
không dừng lại một chỗ, mà thường xuyên vận động, phát triển; bởi vậy, bản
chất con người không phải là “nhất thành bất biến”. Hồ Chí Minh luôn tin tưởng
rằng, bản chất con người là luôn hướng thiện.

2

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2001, tr.558.

3


Tấm lòng Hồ Chí Minh luôn hướng về con người. Người thương yêu con
người, tin tưởng con người, tin và thương yêu nhân dân, trước hết là người lao
động, nhân dân mình và nhân dân các nước. Với Hồ Chí Minh, lòng thương yêu
nhân dân, thương yêu nhân loại là không bao giờ thay đổi. Người có một niềm

dân.
Về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh không bao giờ quan niệm hình thái xã
hội đó như một mô hình hoàn chỉnh, một công thức bất biến. Bao giờ Người
cũng coi trọng những điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa khách quan.
Người chỉ đề ra những mục tiêu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với
những bước đi thiết thực và những nội dung cơ bản nhất. Theo Người: “Nói một
cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao động
thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và
được sống đời hạnh phúc”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con người luôn là mục tiêu của mọi hành
động cách mạng. Với tư tưởng này, Người đã khẳng định rõ mục tiêu giải phóng
dân tộc, giải phóng con người phải do chính bản thân con người thực hiện.
Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, hoạt động cách mạng ở nước
ngoài, Người đã nhận định: Chính sự áp bức và thống trị tàn bạo của chủ nghĩa
thực dân sẽ thúc giục nhân dân Đông Dương và các dân tộc thuộc địa khác vùng
dậy tranh đấu đòi quyền làm người. Theo Hồ Chí Minh, “người cùng khổ” bao
gồm người dân Việt Nam, nhân dân các nước thuộc địa bị áp bức. Đó là những
người cần phải được giải phóng. Người sớm nhận thấy sức mạng to lớn của
quần chúng lao động bị áp bức khi họ được giác ngộ, được tổ chức, lãnh đạo.
Mục tiêu giải phóng con người được Hồ Chí Minh nêu lên là: đem lại độc
lập, tự do, hạnh phúc cho mỗi con người. Mục tiêu đó vừa cụ thể, phù hợp với
từng thời kỳ cách mạng, vừa thể hiện tầm chiến lược lâu dài. Người khẳng định:
Đầu tiên là phải giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, đem lại cuộc sống
độc lập, tự do cho họ; sau đó phải hướng đến đáp ứng những nhu cầu thường
nhật của con người như ăn, mặc, ở, học hành; phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng
chiến lược là giải phóng con người với ý nghĩa đầy đủ nhất. Hồ Chí Minh chỉ có
một “ham muốn tột bậc” là đất nước hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do,
5



4

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2001, tr. 572.

5

Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb. CTQG, Hà Nội, 2001, tr. 47.

6


nước thương dân, thương đồng loại bị áp bức đau khổ. Từ tình thương yêu như
vậy, con người phải thực hiện nghĩa vụ của mình, phải tham gia sự nghiệp cách
mạng dân chủ nhân dân, cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh chẳng
những đặt nhân tố con người trong các điều kiện cần và đủ, có tính tất yếu để
biến đổi cách mạng xã hội, mà còn với tư cách chủ thể lịch sử tạo ra, phát triển,
hoàn thiện, quy tụ các điều kiện đó lại nhằm thực hiện mục tiêu mà cách mạng
đề ra: “Vô luận việc gì đều do người làm ta, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều
thế cả”6.
Không phải mọi người đều trở thành động lực mà phải là những con người
được giác ngộ và tổ chức. họ phải có trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được
nuôi dưỡng trên nền truyền thống lịch sử và văn hóa của dân tộc Việt Nam…
chính trị, văn hóa, tinh thần là động lực cơ bản trong động lực con người. con
người là động lực chỉ khi thực hiện hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo. Vì vậy
cần phải có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Người viết: “Muốn cách mệnh thành
công thì phải có dân chúng (công nông) làm gốc”. Trong kháng chiến kiến quốc,
Hồ Chí Minh nâng quan điểm “dân” lên một nấc thang mới “Nước lất dân làm
gốc”. Xem con người là động lực của cách mạng, Hồ Chí Minh đã thành lập các
hình thức mặt trận dân tộc thống nhất, phù hợp với nhiệm vụ chính trị từng giai


Vận dụng vấn đề con người trong tư tưởng nhân văn Hồ Chí

Minh vào chiến lược con người ở nước ta hiện nay.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ tịch Hồ Chí Minh đã có
những luận điểm cơ bản hết sức khoa học về con người và vai trò của con người
với tư cách là chủ thể sáng tạo ra lịch sử. Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, Đảng ta trong thời
kỳ đổi mới đã hết sức coi trọng vấn đề con người và chiến lược con người, đặt
con người ở trung tâm của sự phát triển. Đó là tư tưởng tất cả vì con người, tất
cả do con người – tư tưởng xuyên suốt thời kỳ đổi mới và là một trong những
nhân tố quan trọng làm nên thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới.
Tư tưởng cơ bản về con người của các nhà kinh điển đến Hồ Chí Minh
được phát triển thành luận điểm: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết
phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Đó cũng là những luận điểm có tính nền
tảng của chiến lược con người trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Ở nước ta trong cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay, chiến lược con
người được đặt ta như một đòi hỏi tất yếu và cấp bách của sự phát triển đất nước
8


và là nguồn lực quyết định để đẩy mạnh công cuộc đối mới. Kế thừa tinh hoa
truyền thống, tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin,
Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới hình thành
nên chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh không bao giờ xem xét con
người một cách trừu tượng mà luôn xuất phát từ con người hiện thực cụ thể
trong các quan hệ xã hội với nhiều bình diện, nhiều chiều khác nhau.
Với Đại hội VIII của Đảng, đất nước ta chuyển hẳn sang thời kỳ phát triển
mới. Những thành tựu to lớn, nhiều mặt của hơn 10 năm đổi mới đất nước
không chỉ đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội mà còn tạo nên

điểm đúng đắn đó được thể hiện ở chủ trương “phát triển giáo dục đào tạo là
một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” và “mọi hoạt động văn hóa
nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện… văn hóa trở thành
nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách
mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường xây dựng
và bảo vệ tổ quốc”.
Thực tiễn của quá trình cách mạng Việt Nam cũng chứng tỏ rằng trong
những thời điểm lịch sử hiểm nghèo, trong những tình thế hết sức khó khăn, con
người Việt Nam đều rất sáng tạo, năng động và luôn tìm ra những đường hướng
đi lên làm kinh ngạc cả bạn bè quốc tế. thực tiễn lịch sử cũng chứng minh thời
kỳ nào, cách mạng biết phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, tạo mọi điều kiện
cho hoạt động sáng tạo của con người thì con người Việt Nam luôn biết chuyển
từ tình thế khó khăn thành lợi thế phát triển mới trong đó con người là động lực
trung tâm.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, tiềm năng sáng tạo to lớn của con
người Việt Nam đã và đang được phát huy mạnh mẽ. tuy nhiên, có thể nhận thấy
tiềm năng trí tuệ của con người Việt Nam mà chúng ta chưa khai thác hết vẫn
còn rất lớn. thực tiễn đổi mới cho thấy chỉ với một cơ chế khoán 10 mà giai cấp
nông dân Việt Nam đã phát huy tính năng động sáng tạo ghê ghớm đủ sức làm
thay đổi căn bản bộ mặt của nền nông nghiệp nước nhà. Với đội ngũ cán bộ
10


khoa học kỹ thuật có trình độ, đội ngũ trí thức khá đông đảo và giàu tiềm năng
như hiện nay rất cần có một cơ chế như khoán 10 làm bật dậy và bừng sáng trí
tuệ Việt Nam trong thời đại kinh tế tri thức. như vậy vẫn đề mấu chốt là ở cơ
chế, chính sách. Chỉ cần xây dựng được hệ thống cơ chế, chính sách phù hợp sẽ
khơi thông được nguồn lực con người cả ở trong nước và ngoài nước, cả tài lực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status