TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP GẮN LIỀN VỚI THỐNG NHẤT
CỦA HỒ CHÍ MINH VÀ Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG ĐÓ
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
ThS. PHAN THẾ LƯỢNG
Bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh
Khoa Lý luận chính trị
Trường Đại học Giao thông Vận tải
Tóm tắt: Sau khi nêu lên cơ sở, vị trí, nội dung cơ bản của tư tưởng độc lập gắn liền với
thống nhất của Hồ Chí Minh, tác giả đã chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng đó trong thời đại hiện nay.
Summary: Affter
presenting establishment, position, terms Hồ Chí Minh’s theory of
independent and
unitization, I measured the mean of that theory in this time. I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Công cuộc đổi mới hơn 20 năm qua đã
đưa nền kinh tế - xã hội nước ta tiến những
bước dài: kinh tế tăng trưởng khá, thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ngày càng được định hình rõ hơn; chính
trị ổn định; quốc phòng an ninh vững chắc;
văn hóa, giáo dục đạt nhiều thành tựu; quan
hệ đối ngoại được mở rộng, vị thế nước ta
trên trường quốc tế được nâng cao… Tuy
nhiên, công cuộc đổi mới thời gian qua cũng
đã nẩy sinh nhiều bất cập: nền kinh tế đang
bộc lộ những mất cân đối vĩ mô (nhập siêu
xâm đã tạo nên ở nhân dân Việt Nam, các
hình thái và cấp độ cộng đồng dân tộc Việt
Nam tư tưởng độc lập gắn liền với thống nhất.
Sự thống nhất trên cơ sở đảm bảo tính độc lập
của các bộ lạc vào khoảng thế kỷ VII trước
Công nguyên đã dẫn đến sự ra đời của Nhà
nước Văn Lang. Trải qua hơn 2000 năm lịch
sử, có những lúc đất nước bị ngoại xâm đô hộ
hoặc bị các thế lực phong kiến chia cắt, nhưng
với tư tưởng độc lập gắn liền với thống nhất
đã được quán xuyến trong nếp nghĩ của hầu
hết giới cầm quyền và phần lớn người dân
Việt, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ
đã được bảo toàn vững chắc.
Khi Hồ Chí Minh sinh ra, đất nước ta đã
rơi vào tay thực dân Pháp. Để đòi lại quyền
độc lập, thống nhất và các quyền dân tộc cơ
bản khác, nhiều phong trào yêu nước theo các
xu hướng chính trị khác nhau đã diễn ra,
nhưng đều đi đến kết cục thất bại. Nguyên
nhân cơ bản là những người đứng đầu các
phong trào ấy chưa có đường lối và phương
cách đúng đắn để giành lại nền độc lập, thống
nhất dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa tư bản
đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh phát triển
sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các nước đế
quốc đẩy mạnh việc xâm chiếm thuộc địa.
Nền độc lập, tự chủ của phần lớn các dân tộc
chủ trương phải tạo ra sự thống nhất trong
nhận thức và hành động của giai cấp công
nhân thế giới. Khẩu hiệu của các ông là “Vô
sản thế giới liên hiệp lại”. Nhưng theo các
ông, sự thống nhất ấy phải được xây dựng trên
cơ sở tinh thần độc lập, tự chủ của giai cấp
công nhân ở mỗi nước. Các ông viết: “Cuộc
đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai
cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là
một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại
mang hình thức đấu tranh dân tộc. Đương
nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước
phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước
mình đã” [1; 555]. Đến thời kỳ Lênin, từ hiện
thực lịch sử thời đại mới sau Cách mạng
Tháng Mười, ông đã đề ra khẩu hiệu “vô sản
MLN-
VTKT thế giới và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại”.
Trên những tiền đề thực tiễn và lý luận
đó Hồ Chí Minh đã xây dựng nên tư tưởng
độc lập gắn liền với thống nhất trong cách
mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh quan niệm độc lập trong
chỉnh thể biện chứng gồm độc lập cho các dân
tộc thuộc địa; độc lập cho dân tộc Việt Nam;
độc lập ở các cấp độ, hình thái cộng đồng, địa
phương; độc lập cá nhân. Trong đó tối thượng
nhất dân tộc, thống nhất lãnh thổ; thống nhất
ở các cấp độ địa phương, hình thái cộng đồng;
nhất quán trong nhận thức và hành động của
mỗi cá nhân. Trong đó trung tâm là thống nhất
dân tộc, thống nhất lãnh thổ.
Để giành và giữ độc lập dân tộc trước một
kẻ thù mạnh hơn mình về trình độ vật chất, kỹ
thuật, lại dùng một thủ đoạn xâm lược và cai trị
thâm độc là “dùng người Việt trị người Việt”,
“chia để trị”, Hồ Chí Minh đã đưa ra chiến
lược có tính quyết định là phải thống nhất lực
lượng của cả dân tộc, phải đại đoàn kết toàn
dân tộc. Người yêu cầu tinh thần đại đoàn kết
dân tộc phải được thấm nhuần trong nhận thức
và hành động của từng địa phương, từng hình
thái cộng đồng (giai cấp, tộc người, tôn giáo,
dòng họ…), từng gia đình, tập thể (công sở,
trường học, bệnh viện, đơn vị…), từng cá nhân.
Phải làm cho các chủ thể đó thấy rằng chỉ có
thống nhất dân tộc mới thống nhất được lãnh
thổ, cả hai sự thống nhất này đều là hành động
của họ, do họ và vì họ. Nhận thức sâu sắc đặc
điểm và xu thế của thời đại mới sau Cách mạng
Tháng Mười, Hồ Chí Minh đã xác định cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng
thế giới, ai làm cách mạng trong thế giới đều là
đồng chí của dân Việt Nam. Yêu cầu về sự
thống nhất vượt ra khỏi khuôn khổ dân tộc
cũng đã được Hồ Chí Minh quán triệt đến từng
người dân bằng việc giáo dục cho họ chủ nghĩa
sâu sắc sự cần thiết phải hành động theo lôgic
tất yếu đó, Hồ Chí Minh đã kịch liệt lên án
chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cục bộ địa
phương, cũng như chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.
Bên cạnh đó, Người cũng hết sức lên án thái
độ coi sự thống nhất như sự đồng nhất thiếu
sinh khí, Người luôn cổ vũ và nỗ lực tạo dựng
sự thống nhất theo các nguyên tắc “tự lực
cánh sinh”, “cầu đồng, tồn dị”. Tức là, tạo
dựng khối liên minh chặt chẽ giữa các dân tộc
thuộc địa và giai cấp công nhân, nhân dân yêu
chuộng hòa bình, tiến bộ thế giới nhưng vẫn
nêu cao tinh thần độc lập dân tộc, giữ gìn bản
sắc của mỗi dân tộc; tạo dựng nền thống nhất
dân tộc trong khi vẫn bảo toàn, khuyến khích
sự tồn tại, hoạt động độc lập, tự chủ, tự cường
ở mỗi cấp độ địa phương, mỗi hình thái cộng
đồng, tập thể; tạo dựng khối thống nhất chặt
chẽ trong các cấp độ địa phương, hình thái
cộng đồng tập thể nhưng vẫn tôn trọng cá
tính, phát huy tinh thần độc lập sáng tạo, độc
lập cống hiến ở mỗi cá nhân, mỗi gia đình.
III. KẾT LUẬN
Thống nhất trong độc lập, độc lập trong
thống nhất đã làm nên tính cách mạng triệt để,
tính khoa học sâu sắc của tư tưởng độc lập
gắn liền với thống nhất của Hồ Chí Minh. Tư
tưởng đó đã trở thành mục tiêu, thành phương
cách cốt lõi làm nên thắng lợi của cuộc đấu
tranh giành và giữ nền độc lập, thống nhất của