ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN THỌ YÊN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
(NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐƠN VỊ Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------
NGUYỄN THỌ YÊN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
(NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐƠN VỊ Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01
Tác giả luận văn
Nguyễn Thọ Yên
DANH MỤC VIẾT TẮT
QĐND
Quân đội nhân dân
QĐNDVN
Quân đội nhân dân Việt Nam
GDĐĐ
Giáo dục đạo đức
LLVT
Lực lượng vũ trang
CNH, HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CB,CS
Cán bộ, chiến sỹ
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 8
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ........................................................ 9
6. Đóng góp của luận văn ...................................................................................... 9
7. Kết cấu của luận văn .......................................................................................... 9
CHƢƠNG 1: TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QĐNDVN ............................................. 10
1.1. Khái niệm về đạo đức ................................................................................... 10
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về phẩm chất đạo đức của ngƣời cán bộ
quân đội................................................................................................................. 15
1.2.1. Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân ............................................ 15
1.2.2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư ........................................................ 18
1.2.3. Đoàn kết; yêu thương nhau như anh em ruột thịt ........................................ 22
1.2.4. Tinh thần quốc tế trong sáng........................................................................ 24
1.2.5. Mưu trí, dũng cảm; kỷ luật tự giác, nghiêm minh ....................................... 25
1.3. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò đạo đức và giáo dục đạo đức
cho đội ngũ cán bộ quân đội ............................................................................... 29
1.3.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức .................................. 29
1.3.2. Quan niệm của Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức ...................................... 33
Tiểu kết chƣơng 1 ................................................................................................. 36
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO ĐỘI NGŨ
CÁN BỘ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM HIỆN NAY .......................... 38
2.1. Khái quát về đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam .................... 38
2.2. Nội dung, con đƣờng và biện pháp GDĐĐ cho đội ngũ cán bộ
QĐNDVN hiện nay .............................................................................................. 43
2.2.1. Về nội dung giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ QĐNDVN ................... 43
2.2.2. Về con đường và biện pháp cơ bản giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ
QĐNDVN hiện nay................................................................................................ 44
2.3. Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của công tác giáo dục
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với cách mạng Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “cán bộ là
cái gốc của mọi công việc” [45, tr.309], “Công việc thành công hoặc thất bại đều do
cán bộ tốt hay kém” [45, tr.313]. Cái tốt hay kém của người cán bộ ở đây bao gồm
cả hai mặt đức và tài, trong đó Người xem đức là “gốc”, là thành tố quan trọng
quyết định đến chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của người cán bộ. Người nói:
“Cũng như sông thì phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây
thì phải có gốc, cây không có gốc thì cây héo. Người cách mạng thì phải có đạo
đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [45,
tr.292].
Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người sáng lập, giáo dục, rèn luyện quân đội ta.
Trong suốt cuộc đời vĩ đại của mình, Người luôn quan tâm, chăm lo, giáo dục, rèn
luyện đội ngũ cán bộ quân đội, đặc biệt về phẩm chất đạo đức. Người dạy: “Một
người cán bộ tốt phải có đạo đức cách mạng. Quân sự giỏi, song nếu không có đạo
đức cách mạng thì khó thành công” [45, tr.259]. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã dành
nhiều công sức chăm lo lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cho đội
ngũ cán bộ quân đội và chính những yêu cầu đạo đức và tấm gương, đạo đức của
Người nay đã trở thành hệ chuẩn mực đạo đức cơ bản của con người Việt Nam mới
nói chung và đội ngũ cán bộ quân đội nói riêng...
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vai trò của đạo đức trong
nhân cách con người, Bộ Quốc phòng - Quân đội nhân dân Việt Nam thường xuyên
chú trọng giáo dục đạo đức cho mỗi cán bộ, chiến sĩ. Coi giáo dục đạo đức cho quân
nhân nói chung và cán bộ nói riêng, là cơ sở tạo nên sức mạnh chiến đấu của đơn vị
của quân đội và sự phát triển nhân cách của quân nhân; giúp người quân nhân hòa
nhập với xã hội, cộng đồng, tạo động lực tinh thần, góp phần thúc đẩy tính tích cực
của quân nhân trong trong chấp hành pháp luật, kỷ luật và thực hiện nhiệm vụ theo
quân sự - lý luận và vận dụng, Luận án Tiến sĩ Khoa học triết học, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Đây là một công trình rất công phu của tác giả Hà Huy
Thông. Trong Luận án này, tác giả đã phân tích, khái quát, luận giải các quan điểm
của Hồ Chí Minh về vai trò của đạo đức đối với người cán bộ quân sự, về những
2
chuẩn mực đạo đức cơ bản, những yêu cầu đạo đức trong các mối quan hệ đặc trưng
của người cán bộ quân sự; nêu lên thực trạng tình hình đạo đức của đội ngũ cán bộ
quân sự và các giải pháp để xây dựng đạo đức Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ
quân sự.
Đặng Nam Điền (2004), Nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ
chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ mới, Luận án Tiến sĩ lịch sử,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Trong Luận án này, tác giả đã làm rõ
hơn những vấn đề lý luận chủ yếu về đạo đức và đạo đức cách mạng của người cán
bộ chính trị trong quân đội; phân tích đánh giá đúng thực trạng đạo đức cách mạng
và hoạt động nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ chính trị quân đội
nhân dân việt Nam giai đoạn 1992-2002. Tác giả đã rất thành công trong việc đề
xuất phương hướng, giải pháp để nâng cao đạo đức cách mạng của người cán bộ
chính trị trong quân đội thời kỳ mới (đến năm 2010).
Phạm Văn Vinh (2005), Nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ
chủ trì ở đơn vị cơ sở binh chủng hợp thành Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay,
Luận văn Tiến sĩ lịch sử, Học viện Chính trị quân sự. Với đề tài này tác giả Phạm
Văn Vinh đã làm rõ về đạo đức cách mạng và đạo đức cách mạng của đội ngũ cán
bộ chủ trì ở đơn vị cơ sở Binh chủng hợp thành QĐNDN; tổng kết những kinh
nghiệm nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ chủ trì ở đơn vị cơ sở Binh
chủng hợp thành QĐNDN; dự báo xu hướng biến đổi các giá trị đạo đức cách
mạng, xác định phương hướng, giải pháp để nâng cao đạo đức cách mạng của đội
ngũ cán bộ chủ trì ở đơn vị cơ sở Binh chủng hợp thành QĐNDN.
tác phẩm, bài viết, bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh bàn về đạo đức
và rèn luyện đạo đức cách mạng và trích văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo
đức cách mạng.
Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự (2007), Chuẩn mực đạo đức quân
nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, do các tác giả Đại
tá TS Phạm Văn Nhuận, Đại tá GS.TS Nguyễn Ngọc Phú biên soạn. Cuốn sách đưa
đến bạn đọc một số kiến thức chung về đạo đức, chuẩn mực đạo đức quân nhân;
quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về chuẩn mực nguyên tắc đạo đức và tư tưởng Hồ
Chí Minh về chuẩn mực đạo đức quân nhân của quân đội ta; nội dung một số đặc
điểm phát triển cùng với hệ giải pháp giáo dục, rèn luyện bộ đội theo chuẩn mực
đạo đức quân nhân của quân đội ta trong giai đoạn mới.
4
Tổng cục Chính trị (2009), Giáo trình lý luận giáo dục quân nhân. Giáo trình
lý luận giáo dục quân nhân là công trình khoa học của tập thể tác giả Khoa Sư phạm
quân sự, Học viện Chính trị do Đại tá TS Nguyễn Văn Phán, Đại tá TS Mai Văn
Hóa đồng chủ biên. Nội dung giáo trình bao gồm kiến thức lý thuyết và hướng dẫn
ứng dụng lý thuyết đó trong thực tiễn, giúp người học phát triển tư duy lý luận và
kỹ năng thực hành, góp phần hình thành, phát triển phẩm chất, nhân cách người
quân nhân cách mạng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và chiến đấu của quân đội thời kỳ
mới. Giáo trình này dùng tài liệu học tập chính thức môn Giáo dục học quân sự
trong các học viện, nhà trường quân đội, đồng thời là tài liệu tham khảo của cán bộ,
sĩ quan với tư cách nhà giáo dục.
Hồ Chí Minh (2010), Về đạo đức cách mạng, Nxb CTQG, Hà Nội, do tập thể
tác giả PG.TS Lê Văn Yên, PGS.TS Vũ Quang Vinh, TS Nguyễn Duy Quang biên
soạn. Cuốn sách tập hợp những một số tác phẩm và bài viết của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về đạo đức cách mạng, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí chống
bệnh quan liêu...
Vũ Văn Phúc, Ngô Văn Thạo (2011), Những gi i pháp và điều kiện thực
- Hoàng Trung (2000), Vì sao Hồ Chí Minh lại đặc biệt chú trọng đến vấn đề
đạo đức, Tạp chí Triết học, số 04, Tr. 19-21
Trong bài viết này tác giả đề cập đến một số nguyên nhân Hồ Chí Minh quan
tâm đến vấn đề đạo đức. Tác giả khẳng định rằng Hồ Chí Minh thường xuyên dành
cho việc xây dựng rèn luyện đạo đức cách mạng - vị trí ưu tiên hàng đầu và bản
thân Người là tấm gương sáng nổi bật về đạo đức cách mạng
- Lê Văn Quang (2001), Đạo đức và văn minh - hành trang của Đ ng ta
bước vào thế kỷ XXI, Tạp chí Triết học, số 05, Tr. 12-15
Đạo đức và văn minh vừa là các thuộc tính cơ bản nhất của Đảng, vừa là nội
lực làm cho Đảng ngày càng vững mạnh. Bài viết nhấn mạnh đến hai vấn đề cơ bản
sau: Từng cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức, có quyền phải trau
dồi đạo đức của người cộng sản. Toàn đảng nỗ lực phấn đấu nâng cao năng lực trí
tuệ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Đảng văn minh.
- Vũ Khiêu (2003), Sự suy thoái về đạo đức và gi i pháp của chúng ta, Tạp
chí Tâm lý học, số 9, tr. 9-14
6
Bài viết đưa ra giải pháp từ phía gia đình nhằm giảm sự suy thoái về đạo đức
trong xã hội hiện nay
- Vũ Duy Yên (2008), Nhận thức của công chức nhà nước về đạo đức và
chuẩn giá trị xã hội hiện nay, Tạp chí Tâm lý học, số 6, tr. 23-26
- Trần Thông (11/5/2011), Nâng cao hiệu qu công tác giáo dục đạo đức, lối
sống cho cán bộ, đ ng viên từ chi bộ, http://www.xaydungdang.org.vn.
- Đặng Nam Điền (19/06/2011), Quan tâm giáo dục đạo đức, lối sống cho bộ
đội, http://www.qdnd.vn
- Hoàng Chí Bảo (19/02/2012), Chống suy thoái - vấn đề trọng tâm, xuyên
suốt, cấp bách nhất, http://www.qdnd.vn
- Nguyễn Đức Thắng (10/10/2012), Góp phần nhận diện suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức lối sống, http://www.tapchicongsan.org.vn
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng giáo dục đạo đức trong Quân đội nhân dân
Việt Nam, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
theo tư tưởng Hồ Chí Minh
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về đạo đức, vai trò của đạo đức và giáo dục
đạo đức cho đội ngũ cán bộ trong quân đội.
- Đánh giá đúng thực trạng công tác giáo dục đạo đức trong Quân đội nhân
dân Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giáo
dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay theo tư
tưởng Hồ Chí Minh.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tƣợng nghiên cứu: Giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội
nhân dân Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu ở một số đơn vị miền Đông Nam bộ
- Thời gian: Thời kỳ 1986 - 2012
8
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận của đề tài: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lê nin, tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam về đạo đức và giáo
dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ quân đội trong giai đoạn hiện nay.
* Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên
xuất hiện rất sớm trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại.
Thuật ngữ “đạo đức” theo tiếng Latinh là mos (moris) - lề thói (moralis nghĩa
là liên quan với lề thói, đạo nghĩa. Còn luân lý được xem như đồng nghĩa với đạo
đức, có gốc tiếng Hy Lạp là ethicos - lề thói, tập tục. Ở phương Đông, các học
thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất hiện sớm, được biểu hiện
trong quan niệm về đạo và đức của họ. Đạo có nghĩa là con đường, đường đi,
đường sống của con người trong xã hội. Đạo đức, lối sống theo Từ điển Tiếng Việt,
có thể hiểu tổng quát: là những chuẩn mực, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy
định hành vi, quan hệ của con người đối với sự nghiệp, đối với nhau và đối với xã
hội, là sản phẩm quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với tập thể,
với cộng đồng xã hội.
Trong quá trình phát triển của đạo đức học, hiện nay có thể hiểu đạo đức một
cách khái quát như sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên
tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho
phù hợp với lợi ích của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người
với con người, giữa cá nhân và xã hội.
Đạo đức là một phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo đức phản
ánh tồn tại xã hội và đời sống đạo đức xã hội. Theo đó, chế độ kinh tế - xã hội và
các quan hệ kinh tế - xã hội khách quan là nguồn gốc của những quan điểm đạo
đức, nói cách khác, với tính cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức phản ánh
tồn tại xã hội và do tồn tại xã hội quyết định.
Chức năng cơ bản nhất của đạo đức là điều chỉnh hành vi của con người
bằng chuẩn mực và quy tắc theo yêu cầu của xã hội, nhằm đảm bảo lợi ích chung
10
của xã hội hay lợi ích cơ bản của giai cấp đề ra chuẩn mực và quy tắc đạo đức.
Chuẩn mực đạo đức là một loại chuẩn mực xã hội. Đó là quy tắc hành vi của con
người trong quan hệ với người khác, trong đời sống xã hội. Căn cứ vào những
rằng: Đối với những ai suốt đời vẫn lao động và sống trong cảnh thiếu thốn, tôn
giáo dạy họ phải sống theo tinh thần cam chịu và nhẫn nhục trong cuộc sống dưới
trần gian, bằng cách làm cho họ hy vọng sẽ được đền đáp khi lên thiên đường. Còn
đối với những kẻ sống bằng lao động của người khác, tôn giáo dạy họ hãy làm điều
thiện ở thế gian, biện hộ một cách rất rẻ tiền cho toàn bộ cuộc đời bóc lột của
chúng, và bán rẻ cho chúng những tấm thẻ để lên thiên đường của những người
hạnh phúc [97, tr.170]. V.I.Lênin cũng phê phán mọi thứ đạo đức duy tâm, siêu
hình khác, Ông coi đó là thứ đạo đức phản động theo nghĩa là không còn khả năng
phản ánh xu thế của tiến bộ xã hội mà trái lại, cản trở sự phát triển lịch sử, đi ngược
lại lợi ích của nhân loại tiến bộ. "Tất cả những thứ đạo đức, xuất phát từ những
quan niệm ở ngoài nhân loại, ở ngoài các giai cấp, chúng ta đều bác bỏ. Chúng ta
nói rằng đấy chỉ là lừa bịp, dối trá, nhồi sọ công nhân và nông dân để mưu lợi ích
riêng cho bọn địa chủ và bọn tư bản" [99, tr.367].
Trong điều kiện lịch sử mới V.I.Lênin đã bảo vệ, bổ sung, phát triển và hoàn
thiện đạo đức học mácxít, nâng nó lên tầm cao mới, thiết thực phục vụ sự nghiệp
xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. V.I.Lênin đã xây dựng một kiểu đạo
đức mới, đạo đức của giai cấp công nhân và khẳng định “Chúng ta nói rằng, đạo
đức của chúng ta là hoàn toàn phụ thuộc vào lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp của
giai cấp vô sản. Đạo đức của chúng ta là những lợi ích của cuộc đấu tranh giai cấp
của giai cấp vô sản mà ra” “Cuộc đấu tranh giai cấp còn tiếp tục và nhiệm vụ của
chúng ta là làm cho tất cả mọi lợi ích phụ thuộc vào cuộc đấu tranh này. Và đạo đức
cộng sản của chúng ta phải phục tùng cuộc đấu tranh này. Chúng ta nói rằng, đạo
đức đó là những gì góp phần phát huy xã hội của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết
tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội
mới, của những người cộng sản” [99, tr.369].
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta. Người đã hiến
dâng trọn vẹn cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, ấm no, hạnh phúc của
nhân dân, là tấm gương suốt đời phấn đấu cho lý tưởng cộng sản, vì sự nghiệp giải
12
vang nhưng cũng rất nặng nề, đầy khó khăn gian khổ, đòi hỏi phải có những người
13
thực sự cách mạng. Theo người, đạo đức cách mạng là "nền tảng", là" cái gốc", là
tiêu chuẩn đầu tiên của người cách mạng, đó là động lực thúc đẩy người cách mạng
hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Người viết: “Cũng như sông thì có nguồn mới
có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.
Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng
không lãnh đạo được nhân dân” [45, tr.292], “có đạo đức cách mạng thì khi gặp
khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước... Khi cần, thì sẵn
sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc” [51, tr.602]; “khi gặp thuận
lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo
trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”;... không công thần, không quan liêu, không kiêu
ngạo, không hủ hóa” [51, tr.603].
Khi khẳng định đạo đức là "cái gốc" của người cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí
Minh không bao giờ tách rời giữa đạo đức và tài năng. Đạo đức cách mạng được
Người đạt trong mối quan hệ biện chứng với tài năng trong cả nhận thức và hoạt
động thực tiễn, tạo thành một thể thống nhất, một động lực bên trong thúc đẩy
người cách mạng phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. Người chỉ rõ: "Có tài phải có đức.
Có tài không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước. Có đức mà không có tài như
ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai" [50, tr.345,346].
Như vậy yêu cầu khách quan của nhiệm vụ cách mạng đòi hỏi người cán bộ
cách mạng phải có đức đồng thời phải có tài, phải vừa "hồng" vừa "chuyên". Đó là
điều kiện cơ bản quyết định đảm bảo cho người cán bộ cách mạng thể hiện rõ vai
trò và hoàn thành chức năng xã hội của họ là người tổ chức và lãnh đạo nhân dân
làm cách mạng.
Trong quá trình trực tiếp tổ chức và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí
Minh đã dày công đào tạo các thế hệ cách mạng vừa "hồng”, vừa "chuyên", trở
cha mẹ”, Hồ Chí Minh đã tiếp thu, kế thừa, bổ sung, phát triển những phẩm chất
đạo đức ấy với nhiều nội dung mang giá trị mới, tạo nên sự biến đổi về chất, hình
thành nên phẩm chất đạo đức mới.
Trước kia, “trung” là “Trung quân, ái quốc”, yêu cầu mọi thần dân phải trung
thành với vua, phải yêu nước, gắn chặt hai yêu cầu đó với nhau, có trung với vua
mới là yêu nước. Khắt khe hơn, Nho giáo còn yêu cầu “Trung thần bất sự nhị
quân”, người tôi chỉ phụng sự một triều đại quân vương, bất chấp chiều đại ấy, ông
15
vua ấy có xứng đáng với đất nước hay không. Còn “hiếu” là yêu cầu con, cháu phải
thực hiện nghĩa vụ đạo đức hiếu thảo, chu toàn với bố mẹ, ông bà; thể hiện lòng biết
ơn, tôn kính với những người đã có công sinh thành, nuôi dưỡng, dạy bảo mình nên
người...
Mặc dù sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho yêu nước, Hồ Chí Minh đã
nhận thấy những hạn chế căn bản của đạo đức phong kiến nói chung và quan niệm
trung - hiếu nói riêng. Người đưa vào nội dung mới, từ chỗ cá nhân với cá nhân
“vua - tôi, cha - con” có ý nghĩa hạn hẹp sang phản ánh mối quan hệ rộng lớn hơn,
khẳng định thái độ trách nhiệm chính trị và nghĩa vụ đạo đức của mỗi người dân đối
với đất nước, với hạnh phúc của nhân dân, đó là “trung với nước, hiếu với dân”. Nội
dung mới, chất lượng mới nhưng Hồ Chí Minh vẫn tiếp thu, kế thừa, phát triển
những tinh hoa của truyền thống. Người nói “Cái gì cũ mà xấu, thì ta bỏ... Cái gì cũ
mà tốt, thì ta phải phát triển thêm. Thí dụ: ta phải tương thân tương ái, tận trung với
nước, tận hiếu với dân hơn khi trước” [45, tr.113].
Trung với Đảng, cũng là trung thành với Tổ quốc, dân tộc, bởi Đảng là tổ
chức tiền phong của giai cấp, của dân tộc, lợi ích của Đảng thống nhất với lợi ích
của dân tộc, của đất nước. Một khi con đường cứu nước không có con đường nào
khác phải là con đường cách mạng vô sản, thì “Trung với nước” cũng là trung thành
với sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó các mục tiêu giải
quân đội tinh thần phục vụ nhân dân vô điều kiện. Người khẳng định, trong xã hội
mới địa vị cao nhất là nhân dân. Người coi nhân dân là cha mẹ của bộ đội. Nhân
dân được giác ngộ cách mạng, được tổ chức là nền tảng chính trị của quân đội, của
chế độ. Người nói “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội. Cán bộ phải dạy
cho đội viên biết kính trọng dân, thương yêu giúp đỡ dân”. Quân đội chiến đấu vì
nhân dân chứ không phải “cứu tinh” của nhân dân. Người nói: “Phải nhớ rằng dân
là chủ. Dân như nước, mình như cá. Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết. Phải làm
cho dân mến, khi sắp tới dân mong, khi đi dân tiếc, chớ vác mặt làm quan cách
mạng cho dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ” [44, tr.116]. “Mình đánh giặc là
vì dân. Nhưng mình không phải là cứu tinh của dân; mà mình có trách nhiệm phụng
sự nhân” [47, tr.76]. Hơn nữa, hiếu với dân còn bắt nguồn từ tư tưởng của Người về
xây dựng LLVT là “người trước, súng sau”, “Muốn có đội quân vũ trang, phải có
đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã, nên phải làm ngay, sao
17
cho đội quân chính trị ngày càng đông. Phải có quần chúng giác ngộ chính trị tự
nguyện vác súng thì mới thắng được” [1, tr.120].
Thực hiện lời dạy của Người, mối quan hệ quân dân không chỉ “nhất trí” hay
“một ý chí”, bộ đội không chỉ tuyên truyền vận động nhân dân ủng hộ, giúp đỡ
mình, chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đoàn kết
nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ mà chủ yếu là phải toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân
dân, chiến đấu quên mình để bảo vệ nhân dân, mang lại độc lập tự do cho nhân dân,
đồng thời phải thương yêu, kính dân, mang lại độc lập, tự do cho nhân dân, nâng
cao dân trí, cải thiện dân sinh, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho chế độ, cho
quân đội, để thực hiện tốt lời thề danh dự của quân nhân “kính trọng dân, giúp đỡ
dân, bảo vệ dân, không lấy của dân, không dọa nạt dân, không quấy nhiễu dân”. Đó
là những nội dung cơ bản quyết định tính nhân dân trong bản chất giai cấp công
nhân của quân đội ta - một quân đội của dân, do dân, vì dân.