Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh (qua thực tế tại trường Đại học Ngoại Thương - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
*****
NGUYỄN THỊ THUÝ THANH GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THẾ HỆ TRẺ THEO
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH (QUA THỰC TẾ TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG)
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐOÀN VĂN KHÁI


1.1.2.2. Vai trò của đạo đức đối với sự phát triển xã hội 15
1.2. Nội dung tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh 19
1.2.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng 19
1.2.2. Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người Việt Nam trong thời
đại mới 26
1.2.2.1. Trung với nƣớc, hiếu với dân 26
1.2.2.2. Yêu thƣơng con ngƣời 29
1.2.2.3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tƣ 31
1.2.3. Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới 36
1.2.3.1. Nói đi đôi với làm, phải nêu gƣơng về đạo đức 36
1.2.3.2. Xây đi đôi với chống, phải tạo thành phong trào quần chúng rộng
rãi 39

2
1.2.3.3. Phải tu dƣỡng đạo đức suốt đời 41
Chƣơng 2 44
TẦM QUAN TRỌNG VÀ THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO THẾ HỆ TRẺ THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH 44
2.1. Sự cần thiết phải giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ theo tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh 44
2.1.1. Vai trò của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của đất nước 44
2.1.2. Thực trạng đời sống đạo đức thế hệ trẻ hiện nay 47
2.2. Thực trạng của việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay 60
2.3.Thực trạng của việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ ở trƣờng Đại học
Ngoại thƣơng hiện
nay……………………………………………………………………………
……………………………………………….…………… 68
2.3.1. Một số đặc điểm của sinh viên Đại học Ngoại thương 68
2.3.2. Thực trạng của việc giáo dục đạo đức ở Trường Đại học Ngoại thương 72
Chƣơng 3 87

cơ sở của việc xây dựng nền đạo đức mới 124
KẾT LUẬN 126 4 MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - danh nhân văn hoá thế giới, vị anh hùng vĩ đại
trong lịch sử dân tộc Việt Nam - Người đã để lại một di sản lý luận quý báu
cho chúng ta học tập và noi theo. Đối với Đảng và cách mạng nước ta, việc
vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
là vấn đề có tính nguyên tắc số một, cần được quán triệt trong mọi chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã
trân trọng ghi vào cương lĩnh: “Lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Sinh thời, Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao vai trò của thanh niên, của
thế hệ trẻ cũng như của công tác giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ đối với sự
phát triển của đất nước. Người luôn quan tâm sâu sắc đến việc giáo dục, bồi
dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người vừa "hồng" vừa "chuyên". Vì vậy,
việc nghiên cứu, vận dụng và giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ theo tư tưởng
Hồ Chí Minh là một việc làm thực sự cần thiết hiện nay, đặc biệt đối với
Trường Đại học Ngoại thương - nơi đào tạo ra những người hoạt động trong
lĩnh vực kinh tế đối ngoại - đòi hỏi sinh viên không chỉ giỏi về kiến thức chuyên
môn mà cần phải có đạo đức cách mạng, có phẩm chất chính trị vững vàng. Vì lẽ
đó, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ theo tư tưởng
Hồ Chí Minh (qua thực tế tại trường Đại học Ngoại Thương)” làm đề tài
nghiên cứu.

6
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư
tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng.
Đây là vấn đề không chỉ thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học Việt
Nam mà còn thu hút không ít sự quan tâm của các nhà khoa học nước ngoài.
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như sau:
Đạo đức Hồ Chí Minh - tư tưởng nhân đạo, dân chủ, Phạm Ngọc Uyển,
Nxb Đà Nẵng, 1990.
Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - truyền thống dân tộc và nhân loại,
Giáo sư Vũ Khiêu chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Thành Duy chủ biên, NXB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 1996.
Tìm hiểu tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, Nguyễn Thế Thắng, Nxb Lao
động, Hà Nội, 2002.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cho cán bộ, đảng viên,
Phạm Quốc Thành. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.

Thứ hai, nêu lên tầm quan trọng và thực trạng của việc giáo dục đạo
đức cho thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ ba, nêu ra những giải pháp cơ bản nhằm tăng cường giáo dục đạo đức
cho thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh tại Trường Đại học Ngoại Thương.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả khai thác trực tiếp tư
tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, về vai trò của thế hệ trẻ đối với sự phát triển
của xã hội và về việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ; đồng thời dựa trên lý
luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người và hình thái ý thức đạo đức, các
quan điểm của Đảng về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và việc giáo dục đạo

8
đức cho thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh; tham khảo các công trình đã
công bố có liên quan đến đề tài.
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu bằng cỏc phương
pháp: phân tích, chứng minh, đối chiếu, so sánh, phương pháp kết hợp giữa
lịch sử và lôgic, lý luận gắn với thực tiễn trờn cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh,
thực trạng đạo đức của thế hệ trẻ và việc giao dục đạo đức cho thế trẻ hiện
nay, từ đó đề xuất các giải pháp giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho thế
hệ trẻ nói chung và sinh viên Trường Đại học Ngoại thương nói riêng theo tư
tưởng Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Chương 2: Tầm quan trọng và thực trạng của việc giáo dục đạo đức cho
thế hệ trẻ theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường giáo dục đạo đức

là nguyên tắc luân lý. Như vậy, có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ

10
đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi
người phải tuân theo.
Trước C. Mác và Ph. Ăngghen, các nhà triết học (kể cả duy tâm lẫn duy
vật) đều rơi vào quan điểm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và đạo đức. Họ
không thấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã
hội nói chung và đạo đức nói riêng. Khác với các quan điểm trên, C. Mác và
Ph. Ăngghen đã chứng minh rằng, trước khi sáng lập các quan điểm tư tưởng,
lý luận, con người đã hoạt động thực tiễn, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật
chất cần thiết cho đời sống. Toàn bộ tư tưởng thể hiện trong các hình thái ý
thức xã hội của một thời đại đều bắt nguồn từ điều kiện sinh hoạt vật chất của
xã hội đó. Ý thức xã hội của con người là sự phản ánh tồn tại xã hội của họ.
Các hình thái ý thức xã hội khác nhau phản ánh những mặt khác nhau của đời
sống xã hội. Đạo đức cũng vậy, nó là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn
tại xã hội dưới dạng các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực nhằm điều chỉnh
hành vi của con người.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể hiểu khái
niệm đạo đức như sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc,
quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá cách ứng xử
của con người trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá
nhân và xã hội.
Như vậy, đạo đức không phải là cái có sẵn ở đâu đó, nó được hình
thành từ khi có xã hội loài người và tồn tại vĩnh viễn cùng loài người. Tuy
nhiên, hệ thống các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức lại có tính lịch
sử vì với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức cũng phản ánh tồn tại
xã hội, mà tồn tại xã hội lại không bất biến. Hình thái ý thức xã hội đạo đức
giúp con người điều chỉnh hành vi của mình, hướng con người tới cái tốt, cái


12
chủ nghĩa cá nhân, đạo đức vị kỷ là bản chất vĩnh viễn của con người. Con
người trước hết phải sống vì cái tôi, cho cái tôi.
Quan niệm trên đây là sai lầm, các loại sinh vật chưa bao giờ ý thức
được về nó. Mọi hoạt động của loài vật hoàn toàn chỉ dựa vào tính bản năng.
Điều này được C. Mác chỉ rõ: một người kiến trúc sư dù tồi nhất, vẫn hành
động khác về chất so với những con ong khéo léo nhất. Do đó không thể lấy
loài vật ra so sánh với loài người. Bản chất nổi bật nhất của con người không
phải ở bản chất tự nhiên. Cái tạo nên con người, làm cho con người khác loài
vật, chính là từ bản chất xã hội. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con
người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội.
* Quan điểm xã hội
Những người theo quan điểm xã hội cho rằng, cơ sở, nguồn gốc đạo
đức là từ đời sống xã hội, nhưng khi giải thích về bản chất đạo đức họ lại gắn
những suy nghĩ chủ quan nào đó. Họ coi đạo đức như những quy ước chung,
có tính chất chủ quan xã hội. Những chuẩn mực đạo đức hiện tồn tại trong xã
hội là do chủ quan của con người đặt ra, thành những tôn ti trật tự xã hội. Mỗi
người phải có nghĩa vụ, suy nghĩ và hành động theo những khuôn mẫu đó,
nếu làm trái sẽ bị đánh giá là vô đạo đức.
* Quan điểm của các học giả tư sản
Các học giả tư sản cho rằng, bản chất của đạo đức mang tính vĩnh viễn,
không thay đổi, đứng trên mọi giai cấp, có một thứ đạo đức chung cho tất cả
loài người đó là đạo đức tư sản.
Có thể nói, tất cả các quan điểm trên đều chưa giải thích một cách đầy
đủ và khoa học về nguồn gốc và bản chất của đạo đức. Họ không thấy được
cơ sở cho đạo đức ra đời đó chính là hiện thực xã hội, họ xoá nhoà bản chất
giai cấp của đạo đức. Những học thuyết đó đều nhằm bảo vệ cho lợi ích của
giai cấp thống trị trong xã hội.
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin


14
hữu nô lệ, phong kiến, tư bản và cộng sản chủ nghĩa, đó là những nấc thang
đánh dấu sự tiến bộ về mặt đạo đức của lịch sử loài người. Quá trình phát
triển đạo đức là một quá trình phủ định biện chứng, một mặt, các hình thái sau
kế thừa các hình thái trước, mặt khác bản thân nó tự biến đổi để phù hợp với
tồn tại xã hội tương ứng. Quy luật của sự biến đổi bao giờ cũng theo xu
hướng tiến bộ và sáng tạo ra những giá trị mới. Nguyên nhân sâu xa là do lực
lượng sản xuất xã hội ngày phát triển và hoàn thiện. Nhưng cũng phải thấy
rằng nếu con người không tự cố gắng biến đổi mình cho phù hợp với yêu cầu
cuộc sống, thì ý thức và quan niệm cũ về đạo đức sẽ trở thành vật cản đối với sự
phát triển xã hội.
1.1.2. Chức năng và vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của xã hội
1.1.2.1. Chức năng của đạo đức
a. Chức năng giáo dục
Con người muốn làm được điều thiện, tránh được điều ác, muốn cho
những hành vi của mình được xã hội chấp nhận, không bị dư luận xã hội lên
án thì họ phải nắm được những quan điểm, những chuẩn mực đạo đức cơ bản.
Chẳng hạn, nguyên tắc sống của con người phải trung thực, thật thà. Nhìn vào
nguyên tắc này, mỗi con người phải tự giác tuân theo, hoặc ai vi phạm, như
ăn cắp, nói dối sẽ bị dư luận phê phán. Vì vậy, chức năng giáo dục của đạo
đức đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách con người.
Cùng với quá trình giáo dục thì quá trình tự giáo dục sẽ giúp con người
càng hiểu rõ vai trò to lớn của lương tâm, nghĩa vụ, danh dự và những phẩm
chất đạo đức cần thiết của cá nhân mình đối với đời sống của cộng đồng. Nhờ
có chức năng giáo dục và tự giáo dục, con người học tập được ở những tấm
gương đạo đức cao cả xả thân làm việc nghĩa, hy sinh quên mình cho đất
nước, kiên cường đấu tranh cho chân lý… Chính vì vậy làm cho xã hội ngày
càng công bằng, văn minh, tiến bộ.
b. Chức năng điều chỉnh hành vi

16
Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, Khổng Tử (thế kỷ VI tr CN) đã khuyên
học trò “Tiên học lễ, hậu học văn”. Ông mong muốn xã hội phát triển bình ổn,
gia đình sống hạnh phúc, con người giữ được đạo lý. Mạnh Tử rất đề cao đạo
đức đến mức ông đề xuất quản lý xã hội bằng đức trị. Trong xã hội Ấn Độ cổ
đại, học thuyết của đạo Phật do Thích Ca Mâu ni sáng lập đã đề cập đến nhiều
vấn đề đạo đức. Cái cốt lõi nhất trong hệ thống đạo đức Phật giáo là khuyên
con người sống thiện, biết yêu thương nhau, giúp đỡ nhau, tránh điều ác.
Trong xã hội Hy Lạp - La Mã cổ đại, đặc trưng cơ bản nhất về giáo dục con
người được thông qua những truyền thuyết, các sử thi nhằm đề cao những giá
trị đạo đức của con người. Đó là nữ thần Atina đẹp như mặt trăng, đầy tình
nhân ái đối với con người. Hình tượng thần Dớt có tài - đức vẹn toàn. Ôđixê
là bản trường ca bất hủ, một biểu tượng cao đẹp về tính trung thực, lòng dũng
cảm, sự trong sáng trong tình bạn, tình yêu…Tất cả những hình tượng đó đều
là những phẩm giá đạo đức tốt đẹp của con người.
Ở Việt Nam, vấn đề đạo đức được các nhà nghiên cứu xã hội đặt ra rất
sớm. Đặc biệt trong các truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, nhân dân ta đã đề cao
những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức giúp con người hướng tới
những điều tốt đẹp. Truyện Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Trạng Quỳnh…đều
giáo dục con người hướng thiện và có nhân cách cao đẹp trong cuộc sống.
Vấn đề đặt ra là tại sao con người lại sớm quan tâm đến đạo đức? Bởi
vì đạo đức có một vai trò to lớn đối với sự phát triển của xã hội.
Thứ nhất, đạo đức là nhu cầu khách quan của đời sống xã hội. Trong
đời sống của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải
quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại, phát triển. Sống
trong xã hội, ai cũng phải suy nghĩ về những vấn đề đạo đức để tìm ra những con
đường, cách thức và phương tiện hoạt động nhằm kết hợp lợi ích của mình và cộng
đồng, từ đó bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và cộng đồng.

17

một số hình thái ý thức xã hội sẽ mất đi, nhưng đạo đức vẫn tồn tại và phát
triển cùng với loài người.
Tuy nhiên, cần thấy rằng sự tác động của đạo đức đến đời sống xã hội
có tính hai mặt. Nếu hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức
tiến bộ, phù hợp với đời sống xã hội, với xu thế vận động của xã hội thì nó sẽ
có tác động tích cực, thúc đẩy xã hội phát triển; nếu ngược lại, nó sẽ gây nên
những tác động tiêu cực, cản trở sự phát triển xã hội. Vì vậy, trong quá trình
xây dựng xã hội mới, chúng ta phải biết kế thừa và phát triển những giá trị
đạo đức truyền thống phù hợp với xã hội ngày nay, loại bỏ những chuẩn mực
đạo đức cũ, không còn phù hợp, đồng thời xây dựng những chuẩn mực đạo
đức mới nhằm thúc đẩy xã hội phát triển.

19
1.2. Nội dung tƣ tƣởng đạo đức Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, nhà cách mạng bàn
nhiều nhất đến vấn đề đạo đức. Mặc dù không phải là người chuyên nghiên
cứu về vấn đề đạo đức, cũng không có những tác phẩm lớn về đạo đức, nhưng
tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh được thể hiện sinh động trong những bài
nói, bài viết ngắn gọn của Người, quan trọng hơn chính cuộc đời Người là
một tấm gương sáng về đạo đức cho chúng ta học tập và noi theo.
1.2.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
Hồ Chí Minh đã thực sự làm một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức
ở Việt Nam. Nhờ đó, nền đạo đức Việt Nam đã mang bản chất mới và được
Người gọi là đạo đức mới, đạo đức cách mạng. Gọi là đạo đức mới vì nó chưa
hề xuất hiện trong lịch sử, nó chỉ hình thành và phát triển cùng với tiến trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Gọi là đạo đức cách mạng vì nó là đạo
đức phục vụ cách mạng, là đạo đức được nảy sinh và phát triển trong cách mạng.
Vậy, đạo đức cách mạng là gì?
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là “đạo đức mới, đạo đức vĩ
đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng,

triệt để. Đó là xoá bỏ vị trí độc tôn của vua chúa phong kiến, đặt vào đó vị trí
của người dân lao động, tạo điều kiện cho quần chúng nhân dân lao động từ
chỗ bị áp bức và bị thống trị trở thành người chủ đất nước. Hồ Chí Minh đã
từng nói rõ: “Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác
nhau. Nói như vậy là lầm to. Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều.
Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới
như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” [41, tr. 320,
321].
Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của đạo đức đối với người cách mạng.
Người khẳng đinh: Đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách
mạng.

21
Hồ Chí Minh coi đạo đức như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông
suối: “Cũng như sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông
cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo
đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân
dân” [40, tr.252].
Vì sao người cách mạng trước hết phải có đạo đức?
Đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng bởi vì muốn làm cách mạng thì
trước hết con người phải có cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp đối với giai
cấp công nhân, nhân dân lao động, với cả dân tộc. Cái tâm, cái đức ấy lại phải
được thể hiện trong các mối quan hệ xã hội hàng ngày với dân, với nước, với
đồng chí, đồng nghiệp, với những người xung quanh mình. Người khẳng
định: “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một
công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã
hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì?” [40, tr.253].
Năm 1958, khi miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội,
Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành một xã
hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang; nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất

dạ phục vụ lợi ích chung của giai cấp, của nhân dân, đều nhằm mục đích xây
dựng chủ nghĩa xã hội ” [45, tr.306].
“Thanh niên phải luôn rèn luyện đạo đức cách mạng. Đạo đức cách
mạng có thể tóm tắt trong mấy điểm:
Trung thành: trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ
quốc, với Đảng, với giai cấp
Dũng cảm: không sợ khổ, không sợ khó thực hiện. “Đâu cần thanh niên
có, việc gì khó có thanh niên làm”, “gian khổ đi trước, hưởng thụ sau mọi
người”
Khiêm tốn: không nên tự cho mình là tài giỏi, không khoe công, không
tự phụ” [45, tr.621].

23
Thanh niên “Phải giữ vững đạo đức cách mạng, phải khiêm tốn, cần cù,
hăng hái, dũng cảm. Phải tránh tư tưởng kiêu ngạo, công thần, tự tư, tự lợi”
[43, tr.263]. Thanh niên “Phải cố gắng học hỏi, để không ngừng nâng cao
trình độ chính trị, văn hoá và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”
[45, tr.106].
Đối với cán bộ quân sự, muốn có đạo đức cách mạng, theo Hồ Chí
Minh phải có năm điều: Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm. Phát biểu tại buổi lễ
phong quân hàm cấp tướng cho cán bộ cao cấp trong quân đội, Người yêu
cầu: “Để lãnh đạo quân đội tiến bộ không ngừng, các đồng chí phải trau dồi
đạo đức cách mạng… Dù ở cương vị nào chúng ta cũng phải cố gắng để xứng
đáng là người đầy tớ trung thành và tận tụy của nhân dân” [44, tr.496].
Đối với công nhân, đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân là đạo
đức chân chính, là đạo đức tiến bộ của loài người bởi vì nó phục vụ lợi ích
của nhân dân, nó được hình thành trong đấu tranh cách mạng.
Đối với nhi đồng, “Đạo đức cộng sản chủ nghĩa đối với các cháu không
giống với người lớn. Ví dụ như đối với người nông dân tập thể thì là sản xuất
cho nhiều, cho tốt…Thầy giáo thì dạy cho tốt, cho dễ hiểu. Đạo đức cộng sản

những nguyên nhân của căn bệnh ấy là: xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân
dân, không tin cậy nhân dân, không yêu thương nhân dân…Từ đó chúng ta
phải mau chữa căn bệnh nguy hiểm ấy bằng cách: “Đặt lợi ích của nhân dân
lên trên hết. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Việc gì cũng phải bàn với nhân
dân, giải thích cho dân dân hiểu rõ… Có khuyết điểm thì thật thà phê bình
trước nhân dân…Sẵn sàng học hỏi nhân dân. Tự mình phải gương mẫu…để
nhân dân noi theo” [41, tr.293].
Hồ Chí Minh cho rằng tham ô, lãng phí đều do bệnh quan liêu mà ra;
“Vì cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành quan liêu không đi sát công việc, cán
bộ, quần chúng nhân dân. Có thể nói bệnh quan liêu là chỗ gieo hạt vun trồng
cho tham ô lãng phí nảy nở” [41, tr.436], “Vì những người và những cơ quan

Trích đoạn Xây đi đôi với chống, phải tạo thành phong trào quần chúng rộng Thực trạng của việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay Giáo dục lòng yêu nước, tự hào tự tôn dân tộc; trung với nước, hiếu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status