BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THANH HUYỀN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN THEO
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO
ĐẲNG
KINH TẾ - KỸ THUẬT NGHỆ AN TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THANH HUYỀN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN THEO TƯ
TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
KINH TẾ - KỸ THUẬT NGHỆ AN TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PPDHBM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
BẢNG GHI CHÚ NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT
KTTT:
Kinh tế thị trường
KT – XH:
Kinh tế - xã hội
SV:
Sinh viên
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
YTXH:
Ý thức xã hội
3
MỤC LỤC
A. MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO
Trang
Những nhân tố ảnh hưởng đối với công tác giáo dục đạo đức
theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên …………………….
Kết luận chương 1 .....................................................................
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
36
45
SINH VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
2.1.
2.2.
Ở
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ – KỸ THUẬT NGHỆ AN .
Khái quát về trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Nghệ An …
Thực trạng đạo đức và giáo dục đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí
46
46
Minh cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Nghệ
An ……………………………………………………………..
Kết luận chương 2 …………………………………………….
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM
50
66
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
75
95
96
98
102
5
Giáo dục đạo đức là một trong những vấn đề cần được coi trọng trong
công tác giáo dục, đào tạo ở các trường cao đẳng và đại học. Mỗi chế độ xã
hội có những chuẩn mực đạo đức khác nhau và ở Việt Nam hiện nay, chuẩn
mực đó đã được đúc kết trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Sinh thời,
Người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của đạo đức và luôn quan tâm đến việc giáo
dục đạo đức trong sự nghiệp trồng người. Công cuộc đổi mới ở nước ta hiện
nay lại đang rất cần một đội ngũ cán bộ có đủ cả đức lẫn tài. Cho nên, việc
tăng cường công tác giáo dục đạo đức là một trong những đòi hỏi cấp
thiết của sự nghiệp xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, chúng ta đã đạt được
những thành tựu đáng tự hào. Nền kinh tế chuyển từ kế hoạch hóa, tập trung,
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường (KTTT). Kinh tế tăng trưởng
cao. Đời sống của nhân dân được cải thiện và nâng lên rõ rệt. Sự nghiệp giáo
dục, đào tạo ngày càng phát triển. Vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng
cao trên trường quốc tế. Tuy nhiên, quá trình phát triển nền KTTT định hướng
XHCN cũng đặt ra nhiều vấn đề cho xã hội phải giải quyết, trong đó, sự suy giảm
đạo đức của sinh viên (SV) đang trở thành vấn đề đáng báo động. Những hiện
tượng tiêu cực về đạo đức, lối sống trong SV đang được các phương tiện thông tin
đại chúng đưa tin hàng ngày gây nên nhiều bức xúc trong xã hội. Vì thế, việc
nghiên cứu vấn đề giáo dục đạo đức cho SV theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều
kiện KTTT ở nước ta hiện nay là một yêu cầu cơ bản và cấp thiết.
trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ đảng viên, công chức, viên chức, đoàn
viên, thanh niên, học sinh, ... nâng cao đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X
của Đảng” [8; 2].
Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương với tác phẩm “Đẩy mạnh học tập và
làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, (Nhà xuất bản Chính trị Quốc
7
gia, Hà Nội, 2007) gồm có ba chuyên đề: Đẩy mạnh học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay; Giới thiệu tác phẩm
“Nâng cao đạo đức cách mạng quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Chủ tịch Hồ
Chí Minh; Giới thiệu tác phẩm “Di chúc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác
phẩm là “tài liệu rất cần thiết và bổ ích, góp phần làm cho cuộc vận động học
tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh đạt được mục
đích, yêu cầu đề ra và trở thành nếp sinh hoạt hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng
viên và mọi người dân trong toàn xã hội ta” [3; 6].
Ban Tuyên giáo Trung ương với “Tài liệu học tập chuyên đề tư tưởng,
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm chống tham ô, lãng
phí, quan liêu”, (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008). Chuyên đề
này cung cấp những nội dung cơ bản của tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, phục vụ
cho việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Đảng,
trong xã hội hiện nay.
Nhiều bài viết, bài báo, công trình của các nhà khoa học nghiên cứu
chuyên sâu về giáo dục đạo đức cho SV theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tác giả Nguyễn Lương Bằng với bài viết “Sinh viên với việc học tập
đạo đức Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, (Tạp chí Lý luận
đề giáo dục đạo đức cho SV theo tư tưởng Hồ Chí Minh như Hồ Thị Bích
Ngọc (2010), “Vận dụng tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh vào việc giáo
dục đạo đức cho học sinh trường trung cấp kinh tế, kỹ thuật, công nghệ Việt
Anh”; Lê Thị Thúy (2012), “Nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho sinh
viên trường cao đẳng nghề kỹ thuật công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc, tỉnh
Nghệ An thông qua giảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Có thể nói rằng, vấn đề giáo dục đạo đức cho SV đã được nghiên cứu
dưới nhiều góc độ khác nhau, khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn của tư
tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với quá trình giáo dục đạo đức cho SV ở các
9
trường đại học, cao đẳng hiện nay. Nhìn chung các bài viết, công trình nghiên
cứu có nội dung khá phong phú. Nhưng đến nay, chưa có tác giả nào nghiên
cứu vấn đề này ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Nghệ An. Vì vậy, tác
giả chọn vấn đề “Giáo dục đạo đức cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh
ở trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật Nghệ An trong giai đoạn hiện nay”
làm đề tài luận văn thạc sỹ Khoa học Giáo dục là không bị trùng lặp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho SV của trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Nghệ An theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn
hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của đề tài nhằm làm rõ sự cần thiết phải giáo dục
đạo đức cho SV theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho SV theo tư tưởng Hồ Chí
Minh ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Nghệ An hiện nay.
- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm góp phần nâng cao
8. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
có 3 chương, 7 tiết:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục đạo đức cho SV theo tư tưởng Hồ
Chí Minh.
Chương 2: Thực trạng giáo dục đạo đức cho SV theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Nghệ An.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo
đức cho SV theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Nghệ An.
11
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH
VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
12
1.1. Đạo đức và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
cần giáo dục cho sinh viên
1.1.1. Đạo đức và vai trò của đạo đức
1.1.1.1. Khái niệm đạo đức
Trong đời sống xã hội, các hoạt động của con người bao giờ cũng có sự
chi phối của những mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân với
xã hội. Những mối quan hệ đó quy định giới hạn nhất định nhằm đảm bảo lợi
ích của cộng đồng và xã hội, tạo thành động lực cho xã hội phát triển. Đó là
xuất phát từ các mối quan hệ giữa người với người, mà trước hết là quan hệ
vua – tôi, cha – con, vợ - chồng… thông qua học thuyết Khổng Tử - học
thuyết về chính trị xã hội của Nho giáo xuất hiện ở Trung Quốc ảnh hưởng
đến Việt Nam và các nước Đông Nam Á, Triều Tiên, Nhật Bản... Ở Phương
Đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ
cách hiểu về Đạo của họ. Đạo là con đường sống của con người trong xã hội,
là năng lực phổ biến điều hành mọi sự vận động và biến hóa không ngừng của
vạn vật và sự việc quanh ta. Nói một cách khác, theo ngôn ngữ của chúng ta
ngày nay thì Đạo là quy luật xảy ra xung quanh ta, không tùy thuộc vào ý
nguyện cá nhân của bất cứ ai.
Khái niệm Đức lần đầu tiên xuất hiện trong Kinh văn thời nhà Chu và
từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều. Theo Khổng
Tử, sống đúng luân thường là có Đức. Theo tư tưởng của Lão tử thì tu thân tới
mức hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọi người là có Đức. Đức là hiểu Đạo.
Đức là mức độ tập trung của Đạo ở một con người. Nói theo ngôn từ ngày
nay, Đức là trình độ năng lực nắm vững và vận dụng quy luật. Trình độ cao
bao nhiêu thì Đức dày bấy nhiêu. Đức là những phẩm chất mà một con người
cần phải có. Đạo là con đường rèn luyện để đạt được những phẩm chất đó.
14
Trước Các Mác, Ph, Ăngghen, các nhà triết học khi bàn về đạo đức đều
tìm nguồn gốc, bản chất của đạo đức hoặc ở ngay chính bản tính của con
người, hoặc ở một bản thể siêu nhiên bên ngoài con người, bên ngoài xã hội.
Nét chung của các lý thuyết này là không coi đạo đức phản ánh cơ sở xã hội,
hiện thực khách quan.
Đối lập với những quan niệm trên, đứng trên lập trường duy vật biện
chứng, Các Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng “Phương thức sản xuất đời
sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói
mạng”.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể hiểu khái
niệm đạo đức như sau:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc,
quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử
của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được
thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh
của dư luận xã hội [37; 1].
Như vậy, quan điểm đạo đức học của chủ nghĩa Mác – Lênin đã kế
thừa những quan điểm đúng đắn, tốt đẹp nhất của các học thuyết trước đó,
đồng thời nâng lên một tầm cao mới. Nếu như các nhà triết học Hy Lạp cổ đại
quan niệm đạo đức chỉ có ở tầng lớp quý tộc, chủ nô, do Chúa trời định đoạt,
tồn tại bên ngoài ý chí con người, hay các nhà triết học của xã hội phong kiến,
tư bản luôn xây dựng các quan niệm đạo đức dựa trên lập trường tư tưởng của
giai cấp thống trị hoặc đề cao chủ nghĩa cá nhân, thì quan điểm đạo đức học
của Các Mác, Ăngghen, Lênin gắn bó chặt chẽ lợi ích của cá nhân với lợi ích
của tập thể và xã hội. Hình thái YTXH đạo đức giúp con người điều chỉnh
hành vi của mình trong cuộc sống, tự nguyện, tự giác thực hiện nghĩa vụ đạo
16
đức cao cả đối với tập thể, với xã hội và chính bản thân mình, hướng con
người tới cái tốt, cái thiện.
1.1.1.2. Vai trò của đạo đức
- Đối với sự phát triển xã hội
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội loài người qua các giai
đoạn lịch sử khác nhau, đạo đức học cũng hình thành và phát triển gắn liền
với những chuẩn mực được quy định bởi đặc điểm về văn hóa, tôn giáo, kinh
tế, xã hội… của xã hội đó. Vì vậy, đạo đức có vai trò to lớn đối với sự phát
ngoại xâm của người dân Việt Nam. Đặc biệt tư tưởng đạo đức được thể hiện
rõ nét trong các truyền thuyết, ca dao, tục ngữ. Nhân dân ta đã đề cao những
nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức giúp con người hướng tới những điều
tốt đẹp. Truyện Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Trạng Quỳnh, Thạch Sanh... đều
giáo dục con người xây dựng nhân cách cao đẹp trong cuộc sống. Những con
người có nhân cách trong sáng, hướng thiện thì sẽ luôn được hạnh phúc.
Có thể nói, dù trong bất kỳ xã hội nào thì đạo đức cũng giữ một vai trò
to lớn trong việc điều chỉnh hành vi của con người. Điều đó được thể hiện ở
các khía cạnh sau:
Thứ nhất, đạo đức là nhu cầu khách quan, nhu cầu vốn có của đời
sống xã hội. Đạo đức là một hình thái YTXH, nảy sinh không phải xuất phát
từ ý muốn chủ quan của con người, mà nó phản ánh và được nảy sinh từ
những điều kiện vật chất, từ hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất
của con người. Vì vậy, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, gắn liền với sự phát
triển của chế độ xã hội khác nhau thì tư tưởng đạo đức cũng khác nhau, gắn
liền với những đặc trưng của xã hội đó, phản ánh tồn tại xã hội của xã hội đó.
Cùng với quá trình phát triển của sản xuất, nhu cầu trao đổi, giao lưu
của con người không ngừng được nâng cao và mở rộng. Con người phải giao
tiếp, phải có tác động qua lại lẫn nhau trên mọi mặt của đời sống. Chính lao
18
động đã tạo ra những điều kiện vật chất để thỏa mãn nhu cầu con người, mặt
khác, nó làm nảy sinh những nhu cầu mới, đó là những yếu tố cơ bản kích
thích sự hứng thú và tính sáng tạo, giúp con người có những điều kiện để
hoàn thiện bản thân mình. Đạo đức hình thành trong các mối quan hệ giữa
con người với con người, giữa cá nhân và xã hội, điều chỉnh những mối
quan hệ đó phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Từ đó giúp con người kết
hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
Nói cách khác, đạo đức luôn hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ.
Như vậy, đạo đức có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội,
góp phần duy trì sự bình ổn xã hội. Xã hội loài người càng phát triển, mối quan
hệ của con người càng được mở rộng thì đạo đức càng có vai trò quan trọng.
Khi xã hội đạt đến trình độ văn minh cao thì có thể có một số hình thái YTXH
sẽ mất đi, nhưng đạo đức vẫn tồn tại và phát triển cùng với con người.
- Đối với sự phát triển nhân cách
Giáo dục đạo đức cho SV là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu bên cạnh
việc dạy kiến thức. Giáo dục đạo đức nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo
những con người không chỉ có tài mà còn có đức, để các em trưởng thành và
trở thành những công dân có ích cho xã hội. Có thể thấy, đạo đức trong sáng
của người SV là một trong những điều kiện, hơn nữa là điều kiện tiên quyết,
là tiền đề để trau dồi lý luận. Không những thế, lý luận ở đây cũng không chỉ
là tri thức, là học vấn nói chung mà là lý luận cách mạng.
Đạo đức là động lực để mọi người nói chung, SV nói riêng phát huy
tính chủ động, tích cực trong những điều kiện lịch sử - cụ thể, để biến quá
trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục nói chung, giáo dục tri thức nói
riêng. Việc coi trọng giáo dục đạo đức không chỉ là đòi hỏi cho nhiệm vụ xây dựng
đất nước, mà còn là đòi hỏi bức thiết của bản thân công tác giáo dục tri thức.
20
Công tác giáo dục tri thức coi giáo dục đạo đức không những là tiền đề
của việc nâng cao trình độ, đồng thời là nhiệm vụ của mình. V.I. Lênin đòi hỏi
phải làm cho toàn bộ nhiệm vụ giáo dục, đào tạo thanh niên trở thành nhiệm vụ
giáo dục đạo đức cộng sản. Nói về mục đích học tập lý luận của người cán bộ,
Bác Hồ đòi hỏi trước hết phải là học để làm việc, làm người rồi mới làm cán bộ.
Ai cũng biết thế hệ trẻ nói chung, SV đang ngồi trên ghế nhà trường nói
riêng chuẩn bị hành trang vào đời cần phải tích luỹ các kiến thức chuyên môn,
Việt Nam và phương Đông, là chuẩn mực đạo đức phong kiến mà Nho giáo
đề ra. Trung của Nho giáo là trung với vua, bó hẹp trong phạm vi quan hệ vua
tôi, phải hết lòng thờ vua, trung thành với vua trong bất kỳ điều kiện nào.
Hiếu là hiếu với cha mẹ, phải kính trọng thương yêu và hết lòng phụng dưỡng
cha mẹ, đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục.
Hồ Chí Minh đã sử dụng khái niệm “trung, hiếu” và đưa vào nội dung
mới, không những kế thừa giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc mà còn
vượt qua những hạn chế của truyền thống đó. Người nói: “Đạo đức ngày nay
cao rộng hơn, không phải chỉ có hiếu với cha mẹ, mà trung với nước, hiếu với
dân” [29; 558], “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình, chí
hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình
mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc dày vò. Mình không
những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước
nữa. Phải hiểu chữ hiếu của cách mạng rộng rãi như vậy”[25; 60].
Trung với nước, hiếu với dân trước hết phải có tinh thần yêu nước nồng
nàn, phấn đấu hy sinh vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, làm sao cho “dân giàu,
nước mạnh". Đối với SV, trung với nước, hiếu với dân, trước hết phải yêu Tổ
quốc, yêu nhân dân. Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân không phải là lý thuyết, siêu
hình mà được thể hiện cụ thể, thiết thực trong quá trình học tập, tu dưỡng,
trong mọi hoạt động của cuộc sống thường ngày.
22
Nói chuyện với nam nữ thanh niên, học sinh các trường Trung học ở
Hà Nội, Hồ Chí Minh căn dặn: “Yêu Tổ quốc: việc gì trái với quyền lợi của
Tổ quốc, chúng ta kiên quyết chống lại. Yêu nhân dân: việc gì hay người nào
phạm đến lợi ích chung của nhân dân, chúng ta kiên quyết chống lại”[25;
398]. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của SV là học tập thật tốt, học để nâng
cao nhận thức, học để nắm bắt khoa học kỹ thuật, học để nắm vững chuyên