Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
**************
HÀ THỊ VƯNG
GIÁO DỤC VĂN HÓA ỨNG XỬ CHO SINH VIÊN
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học
GVC: NGUYỄN CÔNG TIẾN
HÀ NỘI - 2011
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 2
Tôi xin cam đoan những nội dung tôi trình bày trong khóa luận là kết
quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự của các thầy cô trong khoa
Gíao dục Chính trị - Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội2. Những nội dung này
không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác. Những câu trích
trong đề tài có nội dung chính xác và các tài liệu có xuất xứ rõ ràng. Hà Nội, tháng 05 năm 2011
Sinh viên Hà Thị Vưng
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 4 MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU……………………………………………………… 1
NỘI DUNG…………………………………………………………………6
Chương I: Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa và văn hóa
ứng xử 6
1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa ứng xử 6
1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa và văn hóa ứng xử 9
1.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa 9
giá trị mới vừa phù hợp tryền thống của dân tộc vừa đáp ứng xu hướng phát
triển của xã hội hiện đại, nhất là việc lụa chọn hành vi ứng xử trong cuộc
sống,trong học tập, công tác và các mối quan hệ xã hội.
Ứng xử như thế nào để được coi là người có văn hóa và làm thế nào để
hướng giới trẻ tới ứng xử có văn hóa? Ðây là vấn đề cấp thiết đặt ra, đòi hỏi
chúng ta cần có sự nhìn nhận nghiêm túc và khách quan.
Về hành vi ứng xử có văn hóa của giới trẻ hiện nay, có nhiều ý kiến
khác nhau. Tuy nhiên cần có cái nhìn khách quan khi đề cập về vấn đề này.
Có thể nói, tuổi trẻ ngày nay phần đông là những con người năng động, có
kiến thức rộng, sống có hoài bão và lý tưởng, đồng thời không ngừng học hỏi
vươn lên để dựng xây đất nước. Nhìn chung họ có những cách ứng xử tích
cực, phù hợp với truyền thống, đạo lý dân tộc. Giới trẻ ngày nay phần đông đã
thể hiện trách nhiệm với xã hội, với chính bản thân mình, không ngừng học
hỏi, vươn lên, sống có hoài bão, lý tưởng rõ ràng.
Trong học tập, công tác, tuổi trẻ ngày nay không ngừng vươn lên để đạt
được những thành công. Trong nhiều kỳ thi Ô-lim-pích các môn học, những
giải thi đấu thể thao khu vực và quốc tế, nhiều bạn trẻ Việt Nam đã nỗ lực
vươn lên mang vinh quang về cho đất nước. Gần đây nhất, tại kỳ thi Ô-lim-
pích Toán học quốc tế IMO 50 được tổ chức tại Ðức, Ðoàn Việt Nam có sáu
thành viên đều giành huy chương, trong đó có hai vàng, hai bạc và hai đồng.
Ðây chỉ là một trong số những cuộc thi mà giới trẻ của chúng ta tham gia và
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 6
đạt được thành tích cao. Bên cạnh đó, ngay ở trong nước, tuổi trẻ không
ngừng vươn lên để đạt được những thành tích đáng kể.
Ðáp lại sự nỗ lực đó, hằng năm, có rất nhiều chương trình và giải thưởng
khác nhau tôn vinh các bạn trẻ tiêu biểu do trung ương Ðoàn TNCS Hồ Chí
Minh thực hiện. Bên cạnh đó, các Diễn đàn dành cho thanh niên và các tầng
dưỡng tình cảm, hình thành niềm tin và có những hành vi ứng xử đẹp trong
cuộc sống. Có rất nhiều những việc làm cụ thể và thiết thực để hướng giới trẻ
sinh viên có cách ứng xử văn hóa: nêu gương của những người sung quanh để
làm chuyển biến nhận thức giới trẻ; phát động các phong trào thi đua trong
mọi lĩnh vực để hướng họ vào những hành động tốt; ngoài ra còn sử dụng
những tấm gương gần gũi như bạn bè, người thân, những tấm gương điển
hình cùng trang lứa để tác động lên nhận thức, tình cảm và nhất là khơi gợi
lòng tự trọng của họ; tổ chức các diễn đàn thanh niên, sinh viên nói về sống
đẹp, sống có ích, sống có văn hóa Bên cạnh đó, cần có sự quan tâm đúng
mức, hướng dẫn, giúp đỡ và tháo gỡ những khó khăn, điều chỉnh những hành
vi ứng xử không đẹp nảy sinh trong quá trình giới trẻ tham gia vào những
quan hệ xã hội.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài.
Khóa luận nhằm làm rõ đặc điểm, tình hình giáo dục văn hóa ứng xử cho
sinh viên ở nước ta hiện nay, từ đó thấy được thực trạng giáo dục văn hóa ứng
xử cho sinh viên và đưa ra những giải pháp để tiếp tục và xây dựng, giáo dục
văn hóa ứng xử cho sinh viên trong thời kỳ đổi mới. Trên cơ sở đó khóa luận
nhằm làm sáng tỏ quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với giáo
dục văn hóa ứng xử cho sinh viên ở nước ta hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài.
Với khuôn khổ phạm vi của đề tài, tác giả tập trung đi sâu tìm hiểu
những đặc điểm, tình hình giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên trong giai
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 8
đoạn hiện nay ở Việt Nam, đồng thời nghiên cứu những chính sách chủ yếu
để giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên của Đảng và Nhà nước ta. Từ đó để
thấy được tầm quan trọng của việc tổ chức và thực hiện giáo dục văn hóa ứng
xử cho sinh viên của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới đất nước
5. Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài này, tác giả dựa trên cơ sở thế giới quan và phương
pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tuân thủ
tính Đảng và tính khoa học.
Trong quá trình thực hiện, tác giả sử dụng các phương pháp:
+ Phương pháp phân tích tổng hợp.
+ Phương pháp xã hội học.
+ Phương pháp logic-lịch sử.
Đồng thời tác giả cũng tham khảo các công trình nghiên cứu xã hội học
có liên quan đến vấn đề mà khóa luận đề cập đến.
6. Kết cấu khóa luận.
Tên đề tài: giáo dục văn hóa ứng xử cho sinh viên theo tư tưởng Hồ
Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài phần mở đầu, phần nội dung gồm 3 chương và phần kết luận.
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 10
qua mỗi một chu kỳ của sự phát triển, dân tộc đó tương tác với mình và với
những dân tộc khác, cái còn lại được gọi là bản sắc, hay còn gọi là văn hóa.
Cựu Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor khi ông đưa ra một định
nghĩa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sông động mọi
mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá
khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu
thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên
đó từng dân tộc tự khẳng đinh bản sắc riêng của mình"- sách văn hóa và con
người.
Văn hóa là một hiện tượng khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía
cạnh của đời sống. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhặt nhất của cuộc sống
cũng mang những dấu hiệu văn hóa. Rất nhiều thứ mới thoạt nhìn thì giống
nhau, nhưng nếu xem xét kỹ thì lại có những điểm riêng biệt. Trong thực tế,
không có sự giống nhau tuyệt đối.
Theo cẩm nang ứng xử bí quyết trẻ lâu sống lâu – Ts Nguyễn Thế Hùng
đầu tiên quan tâm đến khái niệm này. Ông cho rằng văn là đẹp, hóa là giáo
hóa. Văn hóa là dùng văn để giáo hóa. Văn hóa nghĩa là lấy cái đẹp để giáo
hóa con người.
Sau đó xuất hiện nhiền định nghĩa văn hóa khác nhau:
Theo E. Hẻniotte: Văn hóa là cái gì còn lại sau khi người ta đã quên đi
tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả.
Theo từ điển tiếng việt, văn hóa được định nghĩa là: Văn hóa là tổng thể
nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong
quá trình lịch sử.
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 12
TS. Nguyễn Thế Hùng viết: Văn hóa có vai trò quan trọng trong đời
sống con người, là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần xã hội, thể hiện
(gia đình) đến vĩ mô (nhân gian). Văn hóa ứng xử phải được nhìn nhận từ ít
nhất dưới bốn chiều kính của con người: quan hệ với tự nhiên _ chiều cao,
quan hệ với xã hội _ chiều rộng, quan hệ với chính mình chiều sâu, quan hệ
với tổ tiên và con cháu mai sau _ chiều lịch sử.
1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa và văn hóa ứng xử.
1.2.1Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hóa.
Nền văn hóa Việt Nam được hình thành và phát triển trong lịch sử lâu
dài của dân tộc không phải là kết quả vận động chỉ riêng những yếu tố nội
sinh. Trong diễn văn khai mạc Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ nhất ngày
24/11/1946, Hồ Chí Minh nói: “ Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau
của văn hóa Đông phương và Tây phương chung đúc lại…
Tây Phương hay Đông Phương có cái gì tốt ta học lấy để tạo ra một nền
văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa
nay, trau dồi cho văn hóa thật có tinh thần thuần túy Việt nam để hợp với tinh
thần dân chủ” [8,137].
Như vậy việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, của cả cổ kim Đông
Tây là một vấn đề lớn trong tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh. Nhưng đây
không phải là sự tiếp thu xô bồ mọi thứ của thiên hạ, mà là chọn lọc những
cái hay, cái tốt, cái đẹp để làm giàu thêm cho văn hóa dân tộc. Đây thật sự là
sự thâu hóa những tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho những tinh hoa ấy trở
thành những cái hay, cái tốt, cái đẹp mang tinh thần thuần túy Việt Nam. Đây
thực sự là “Việt Nam hóa” những cái từ ngoài đến, biến chúng thành những
cái bên trong, tự nhiên như những yếu tố nội sinh của văn hóa Việt Nam.
Như Hồ Chí Minh quan niệm, trong nền văn hóa Việt Nam có sự
chung đúc lại những tinh hoa văn hóa Đông Phương và Tây Phương. Điều đó
cũng có nghĩa là nền văn hóa Việt Nam là do dân tộc Việt Nam tạo dựng
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 14
hay chỉ làm tha hóa con người. Điều này có thể thấy khá rõ trong lĩnh vực văn
hóa văn nghệ, trong lối sống, và trong các lĩnh vực khác nữa.
Một mặt tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, nhưng mặt khác, phải góp
phần làm phong phú thêm văn hóa nhân loại. Đó là quan niệm trong lĩnh vực
văn hóa mà Hồ Chí Minh thường dặn cán bộ: Mình có thể bắt chước cái hay
của bất kỳ nước nào ở Âu – Mỹ, nhưng điều cốt yếu là sáng tác. Mình đã
hưởng cái hay của người thì cũng phải có cái hay cho người ta hưởng. Mình
đừng chịu vay mà không trả. Trong văn hóa, nếu chỉ muốn viện trợ không
hoàn lại, thì chính điều đó không chỉ là một thái độ rất không văn hóa mà còn
không thể phát huy được bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc.
Hơn nữa, nền văn hóa mới Việt Nam còn phải bổ sung những thiếu
hụt, phát triển những nội dung mới do những yêu cầu mới của nhiệm vụ xây
dựng và phát triển đất nước đang đặt ra, cũng như xu thế chung của thời đại
đang đòi hỏi. Quan điểm của Hồ Chí Minh về tính chất dân tộc của văn hóa là
quan điểm rất hoàn chỉnh. Tính dân tộc mà Hồ Chí Minh nêu cao là tính dân
tộc hướng tới tính quốc tế, tinh nhân loại, tính dân tộc không tan biến vào tính
quốc tế, tính quốc tế lại nâng tính dân tộc lên ngang tầm thời đại, cả hai đều
làm phong phú cho nhau. Phải chăng tính dân tộc mãi mãi là động lực lớn
trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa mới. Cũng như Nguyễn Ái
Quốc đã từng viết từ năm 1924, đối với Việt Nam thì chủ nghĩa dân tộc là
động lực lớn của đất nước…, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành
chủ nghĩa quốc tế, cần phải phát động cho được động lực đó để đưa phong
trào cách mạng đi lên.
Hồ Chí Minh nêu lên khái niệm văn hoá như sau: Vì lẽ sinh tồn cũng
như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn
ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật,
những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 16
Trường ĐHSP Hà Nội 2 17
thẳng vào cái cốt lõi, cái bản chất của văn hoá là chủ nghĩa nhân văn. Cốt lõi
của nhân văn là thái độ đối với con người. Văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là
động lực phát triển của xã hội Việt Nam bởi vì nó luôn luôn hướng tới giải
phóng con người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh lấy con người làm trung tâm, mọi công việc
nhằm đi đến giải phóng con người đều là công việc của văn hoá. Xã hội như
thế nào thì sẽ chế định quyền con người như thế ấy. Một số người muốn đổi
trắng thay đen về vấn đề nhân quyền. Tự do là gì? Tự do là sự nhận thức và
hành động theo cái tất yếu. Bao giờ con người ta chưa nhận ra cái tất yếu của
những điều chung quanh, và do đó chưa thể nào hành động được theo cái tất
yếu đó, thì con người chưa có được tự do. Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
tộc của Việt Nam là sự nghiệp đấu tranh cho tự do, tự do cho mỗi người và tự
do cho cả một dân tộc, tức là cho cái tất yếu. Và, đó là sự nghiệp của văn hoá.
Văn hoá đi đến mục tiêu giải phóng con người, giải phóng con người khỏi
mọi sự áp bức, bất công, mọi sự đè nén, ức chế của tự nhiên, xã hội, đi đến
vương quốc của tự do - điều đó tạo ra sự thôi thúc mãnh liệt cho mọi người
hợp lực lại, đoàn kết lại để đạt được mục tiêu đó. Sự nghiệp xây dựng xã hội
mới ở nước ta cũng chính là sự nghiệp của văn hoá. Chính vì vậy, văn hoá có
vai trò, chức năng dẫn đường cho cách mạng Việt Nam. Và, Hồ Chí Minh đưa
ra một quan điểm tổng quát nhất về vai trò của văn hoá là: Văn hoá soi đường
cho quốc dân đi. Vì sao?
Trước hết, văn hoá định hướng đi cho cả một dân tộc. Bản thân Hồ Chí
Minh đã khởi đầu xây dựng một nền văn hoá mới cho dân tộc theo hướng dân
tộc, khoa học và đại chúng. Việc chọn hướng đi cho cả một dân tộc là một
công việc rất hệ trọng. Hồ Chí Minh đã chọn con đường độc lập dân tộc gắn
liền với CNXH. Đó cũng là sự lựa chọn của văn hoá. Sự định hướng đúng đắn
ấy đã có tác dụng huy động toàn bộ sức mạnh của dân tộc – cả quá khứ và
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 19
cứ thẩm thấu một cách tự nhiên cho các thế hệ tiếp theo. Cộng đồng dân cư
nào, dân tộc, quốc gia nào còn giữ được nhiều bản sắc của mình thì càng
chứng tỏ rõ sức sống của mình hơn.
Đồng thời, quá trình đó còn là quá trình nhận những yếu tố văn hoá
ngoại lai, nhào nặn, chắt lọc để làm giàu văn hoá cho mình nhưng cái gốc vẫn
là những yếu tố văn hoá bản địa. Xử lý vấn đề này phụ thuộc vào truyền
thống và phụ thuộc vào ý thức của mỗi cộng đồng dân cư, dân tộc, quốc gia.
Văn hoá bản địa, hay nói cách khác là bản sắc văn hoá dân tộc là cái nền để
trên đó xử lý toàn bộ quá trình giao lưu văn hoá. Do vậy, văn hoá của mỗi
quốc gia-dân tộc là yếu tố nội sinh có vai trò cực kỳ quan trọng để bảo tồn và
phát triển dân tộc mình. Đó là chỗ đứng vững chắc để vừa không bài ngoại,
vừa không bị lai căng.
Chính vì thấy rõ vai trò của văn hoá dân tộc cho nên Hồ Chí Minh đã
lưu ý mọi người khi tiếp nhận văn hoá bên ngoài. Đó là việc phải chủ động
giao lưu, không nên đóng cửa, không bài ngoại mà phải hội nhập. Đó là việc
phải tiếp thu những cái tốt, không được lai căng. Hồ Chí Minh cho rằng: phải
mở rộng tri thức của mình về văn hoá thế giới; đồng thời phải tránh nguy cơ
chúng ta trở thành những kẻ bắt chước; văn hoá của các dân tộc khác cần phải
được nghiên cứu một cách toàn diện, chỉ có như thế mới có thể thu lại được
nhiều hơn cho văn hoá của chính mình.
Nền văn hoá của mỗi một dân tộc đều có đóng góp chung vào quá
trình phát triển của thế giới. Trên thế giới, có thể có dân tộc lớn, dân tộc nhỏ.
Nhưng lớn hay nhỏ ở đây nên quan niệm về diện tích, dân số hoặc các chỉ số
phát triển kinh tế, v.v. Quyết không có dân tộc lớn hay nhỏ về văn hoá. Một
dân tộc diện tích nhỏ, dân số ít có khi lại có quá trình đóng góp rất lớn về mặt
văn hoá đối với thế giới. Điều này lại hoàn toàn trái ngược với sự phân biệt
nhắc nhở nhẹ nhàng hoặc phê bình kịp thời, nghiêm khắc mà vẫn khoan dung,
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 21
độ lượng, lay động cảm hoá lòng người cao độ. Văn hóa ứng xử của Hồ Chí
Minh đã thâu thái được cái gần gũi tế nhị với độ sâu sắc lịch lãm, cái dung dị
đời thường với tầm cao của tư duy bác học; sự hoà quyện trong phương sách
ứng xử Hồ Chí Minh đã đạt tới nghệ thuật đặc trưng riêng dĩ bất biến ứng vạn
biến ít pha lẫn với mọi người.
Chính nhờ sự giản dị, tế nhị trong phong cách ứng xử, Hồ Chí Minh đã
làm cho tất cả mọi người, dù địa vị, thành phần xuất thân, mục đích hoàn cảnh
gặp gỡ có khác nhau, nhưng sau khi tiếp xúc với Người, đều để lại ấn tượng
sâu sắc bằng sự nể trọng, chia sẻ, tôn vinh bởi sức cảm hoá cuốn hút từ chính
đạo đức, nhân cách, phép ứng xử văn hoá của Người.
Cách mạng Tháng Tám thành công, trước nạn đói - một trong 3 thứ giặc
đang hoành hành, Bác Hồ vừa kêu gọi đồng bào, cán bộ tăng gia sản xuất, vừa
phát động phong trào nhường cơm sẻ áo, 10 ngày nhịn ăn một bữa để góp gạo
cứu giúp người đói và chính Người đã gương mẫu nghiêm túc thực hiện. Đối
với thiếu nhi, mỗi lần đến thăm Bác thường chia kẹo, tặng sữa; đối với các cụ
cao tuổi, Bác thường biếu lụa để khích lệ động viên họ.
Hưởng ứng phong trào đóng góp vào quỹ mùa đông binh sĩ, Hồ Chí
Minh đã gửi tới Cụ Võ Liêm Sơn những dòng mộc mạc, chân tình “Thưa cụ,
Uỷ ban Trung ương mùa đông kháng chiến giúp binh sĩ chỉ quyên vải vóc
hoặc chăn áo. Nhưng tôi không biết may, không có vải, mà áo cũng chỉ có hai
bộ đã cũ. Vậy tôi xin quyên một tháng lương là 1000 đồng, nhờ Cụ mua giùm
vật liệu và may giùm mấy chiếc chăn, áo cho chiến sĩ, gọi là tỏ chút lòng
thành” [2, 125]. Quà tặng tuy không nhiều nhưng đó là sự tiết kiệm của
Người chứ không phải lấy từ công quỹ. Tình cảm bao la, sâu nặng, lòng yêu
thương con người ở Hồ Chí Minh luôn là như vậy.
người quy tụ lại sẽ thành sức mạnh to lớn của dân tộc. Lòng nhân từ, đại
lượng là giá đỡ cho sự bao dung. Lòng nhân từ, độ lượng hoàn toàn xa lạ với
thói tự kiêu, tự mãn, tự đại, tầm nhìn thiển cận, bệnh hẹp hòi. Người chỉ rõ
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 23
“Sông to, biển rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó
rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng tràn đầy, vì độ
lượng của nó hẹp và nhỏ. Người mà tự kiêu, tự mãn cũng như cái chén, cái
đĩa cạn” [2, 172]. Người rất tin tưởng quý trọng nhân dân nên trong giao tiếp
ứng xử với họ, Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở: Đối với tất cả mọi người trong
các tầng lớp dân chúng, ta phải có một thái độ mềm dẻo, khôn khéo, biết nhân
nhượng, biết trân trọng nhân cách của người ta. Riêng đối với những người
lầm đường, lạc lối hay đã từng cộng tác với bên kia trận tuyến, Người yêu
cầu: Không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những
người không nguy hiểm lắm, thì nên dùng chính sách cảm hoá khoan dung.
Sự khoan dung, độ lượng của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ bản sắc văn
hoá, truyền thống đại nghĩa của dân tộc nên đã cảm hoá đối với cả khối óc và
trái tim những người đứng bên kia trận tuyến. Trong cuộc đấu trí đó, Người
không có kẻ thù riêng nào, buộc tất cả các đối thủ phải kính nể, cảm phục một
con người mà họ không thể khuất phục và cuối cùng họ đành phải chấp nhận
là người đuối lý, thua cuộc bởi sự cao thượng, nhân ái, khoan dung, độ lượng
Hồ Chí Minh. Tướng P. Valuy đã nhiều lần tiếp xúc với Hồ Chí Minh trong
năm 1946 có nhận xét: hết sức nhã nhặn, hết sức lịch sự và sự quyến rũ của
Người. Được thuyết phục bởi phong cách văn hoá ứng xử của Người, ông đã
trở thành người đối thoại rất tâm đắc với Hồ Chí Minh và giữa hai người đã
có một “tình hữu nghị keo sơn”.Giá trị văn hoá ứng xử Hồ Chí Minh luôn
sống mãi với thời gian, là hành trang quý giá để Đảng và Nhà nước ta vận
dụng chủ trương mở cửa hội nhập, Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước,
trong đó những đặc điểm tương đồng dưới đây.
Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề, ở việc hướng đến
lựa chọn những kiến thức để học sao cho đáp ứng nhu cầu thực tế, chuẩn bị
kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng công việc sau khi ra trường,
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị Vưng – K33B GDCD
Trường ĐHSP Hà Nội 2 25
thích những công việc đem lại thu nhập cao, v. v Nói chung là tính mục
đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ.
Tính năng động: Nhiều sinh viên vừa đi học vừa đi làm làm thêm bán
thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty, hình
thành tư duy kinh tế trong thế hệ mới thích kinh doanh, muốn tự mình lập
công ty ngay khi đang còn là sinh viên, thể hiện sự tích cực chủ động tham
gia phong trào tình nguyện.
Tính cụ thể của lý tưởng: Đang có một sự thay đổi trong lý tưởng sống
gắn liền với sự định hướng cụ thể. Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là:
Sinh viên hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp
giữa lý tưởng của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không. Có
thể khẳng định là có, nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính
thế hệ, lý tưởng gắn liền với bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể. Lý tưởng
hôm nay không phải là sự lựa chọn những mục đích xa xôi, mà hướng đến
những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá nhân.
Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng
các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm. Các
nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ
nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận: Tính nhóm phụ thuộc vào
môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống. Sự thay đổi của đời sống
tinh thần trong sinh viên trước xu hướng toàn cầu hoá đang hướng mạnh đến
tính cộng đồng.