Báo cáo nghiên cứu khoa học: "TIẾP NHẬN TÁC PHẨM CỦA Y.KAWABATA Ở VIỆT NAM" - Pdf 19

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 54, 2009 TI
ẾP NHẬN TÁC PHẨM CỦA Y.KAWABATA Ở VIỆT NAM
Hà V n L ng
Tr
ng i h c Khoa h c, i h c Hu
TÓM TẮT
Yasunari Kawabata (1899 - 1972), là m t nhà v n l n c a v n h c Nh t B n và th gi i.
Ông là nhà v
n châu Á th hai c nh n gi i Nobel v n h c (1968). Nh ng tác ph m c a
Kawabata
c d ch và ph bi n nhi u n c trên th gi i, trong ó có Vi t Nam.
n c ta, Y.Kawabata c ti p nh n s m nh t vào n m 1969 và di n ra trong m y
th
p niên cu i th k XX n g n ch c n m u th k XXI. Bài vi t c a chúng tôi nghiên c u
s
ti p nh n tác ph m c a Y.Kawabata Vi t Nam di n ra ch y u trên ba ph ng di n: d ch
thu
t, nghiên c u và gi ng d y. Qua ó nh m kh ng nh v trí quan tr ng và tài n ng ngh
thu
t c áo c a nhà v n Y.Kawabata, giúp cho c gi n c ta hi u bi t sâu s c h n v t
n
c và tâm h n con ng i x s Phù Tang.
Là một nhà văn hiện đại lớn của văn học Nhật Bản và văn học thế giới, những
tác ph
ẩm của Y.Kawabata được dịch và giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới. Tổ chức
qu
ốc tế UNESCO đã có chủ trương kêu gọi và dịch tác phẩm của nhà văn ra nhiều thứ
ti

các b
ản dịch từ tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật và tiếng Nga. Theo khảo sát của
chúng tôi, cho
đến nay, tác phẩm của Y.Kawabata đã được giới thiệu ở Việt Nam với
m
ột số lượng lớn: Truyện ngắn trong lòng bàn tay: 85/140 (chiếm trên 60%); Truyện
ng
ắn: 7/11 (chiếm trên 70%); Tiểu thuyết: 6/14 (chiếm gần 50%); Tạp văn (ký, tiểu luận
phê bình): 3/4 (chi
ếm hơn 80%).
Qua th
ống kê trên, cho thấy các tác phẩm của Y.Kawabata đã được dịch ở nước
ta vào kho
ảng gần 70% đầu sách, trong đó, tạp văn và truyện ngắn chiếm số lượng
nhi
ều nhất. Đặc biệt, những tác phẩm nổi tiếng như Vũ nữ Izu, Cánh tay, Thuỷ nguyệt…
(truy
ện ngắn); Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, Người đẹp say ngủ (tiểu thuyết); Nhật
B
ản, xứ đẹp và tôi (Diễn từ văn chương nhận giải Nobel)… đã được giới thiệu ở Việt
Nam khá s
ớm.
Ngay t
ừ năm 1969, một số bản dịch tác phẩm của Y.Kawabata đã được giới
thi
ệu như Cô đào miền Izu, Tiếng núi rền, Ngàn cánh hạc (Vũ Thư Thanh dịch), Thủy
nguy
ệt (Chu Sỹ Hạnh dịch), Nốt ruồi (Mai Dzam dịch) đăng trên tạp chí Văn (miền
Nam) s
ố 140; ngày 15.10.1969; Xứ tuyết (Vũ Thư Thanh dịch) - Tạp chí Văn số 122

Nh
ật Chiêu, Lê Huy Bắc và một số tác giả khác dịch đăng trên các báo, tạp chí hoặc
xu
ất bản thành tuyển tập. Đó là Tuyển tập Y.Kawabata (NXB Hội Nhà văn, 2001),
Tuy
ển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel (NXB Hội Nhà văn, 2004), Tuyển tập
tác ph
ẩm Yasunari Kawabata (NXB Lao động, Trung tâm văn hóa và Đông Tây, 2005).
Bên c
ạnh đó, một số tạp chí, báo như tạp chí Văn nghệ Quân đội, Văn học nước ngoài,
Tác ph
ẩm mới, Sông Hương, báo Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Phụ nữ…cũng đăng tải những
truy
ện ngắn của Y.Kawabata.
Như vậy, thông qua các nhà xuất bản, tạp chí và báo chí và vai trò của các dịch
gi
ả, các tác phẩm của Y.Kawabata đã đến với độc giả nước ta trong vòng hơn bốn mươi
n
ăm nay, giới thiệu cho công chúng bạn đọc một cách đầy đủ, hệ thống toàn bộ những
sáng tác c
ủa nhà văn. So với một số nhà văn lớn Nhật Bản nói riêng và các nhà văn
khác c
ủa thế giới nói chung được giới thiệu ở Việt Nam, thì Y.Kawabata thuộc trong số
ít nh
ững tác giả được dịch nhiều nhất. Chính điều này góp phần khẳng định tài năng
ngh
ệ thuật đặc sắc của nhà văn; đồng thời nói lên sự tiếp nhận một cách chọn lọc, có ý
th
ức của độc giả nước ta trong việc tiếp thu, học tập những tinh hoa nghệ thuật thế giới.
2. Nghiên cứu và phê bình

ật Bản để khẳng định sự tiếp thu và cách tân của nhà văn đối với văn học Nhật Bản.
M
ục đích chính của công trình là trên cơ sở “khảo sát Nhật Bản và cái đẹp lấy đó làm
n
ền tảng, (kết hợp với lý thuyết tự sự hiện đại phương Tây) để tìm hiểu Nghệ thuật kể
chuy
ện của Yasunari Kawabata qua các bình diện: người kể chuyện, nhân vật, không
gian, th
ời gian…” [7, tr.211]. Từ sự phân tích, khảo sát các yếu tố của nghệ thuật kể
chuy
ện trong tác phẩm của Y.Kawabata, tác giả Đào Thị Thu Hằng khẳng định: đó là
“ngh
ệ thuật kể chuyện vừa mang tính dân tộc vừa mang tính quốc tế. Được đánh giá cao
b
ởi thi pháp chân không và những nguyên lý thẩm mỹ độc đáo do tiếp thu Thiền tông
trong th
ơ haiku, trong thư họa, trong văn chương cổ điển, Kawabata cũng được so sánh
v
ới Hemingway…, đặc biệt là nghệ thuật kể chuyện độc đáo với thủ pháp tảng băng
trôi” [7, tr.214].
Ở các bài nghiên cứu, phê bình và giới thiệu về sáng tác của Y.Kawabata, các tác
gi
ả chủ yếu tập trung vào ba vấn đề lớn: những vấn đề chung về tác giả, những vấn đề
c
ụ thể của tác phẩm và thi pháp thể loại.
Nghiên cứu những vấn đề chung về tác giả, tác phẩm, xuất hiện sớm nhất là các
bài Chân dung Yasunari Kawabata - gi
ải văn chương Nobel 1968 của Đào Hữu Dũng
(T
ạp chí Văn (Miền Nam), số 90, tháng 6/1969), Yasunari Kawabata - cuộc đời và sự

- ng
ười nghệ sỹ Nhật Bản thuần túy trong những trang văn trực cảm và duy mỹ, nhưng
c
ũng là nhà văn của thế giới khi biết dùng ngòi bút của mình hướng tới những chủ đề
v
ĩnh cửu của nhân loại” [15, tr.400]. Giới thiệu và khảo sát sáng tác của Y.Kawabata
trong bài Yasunari Kawabata gi
ữa dòng chảy Đông - Tây, tác giả Đào Thị Thu Hằng đã
kh
ẳng định rằng, những tác phẩm của nhà văn vừa mang những đặc điểm phương Đông
v
ừa đan cài những yếu tố phương Tây hiện đại. Và “chảy trong huyết quản dòng máu
ph
ương Đông thuần khiết cộng thêm một tâm hồn rộng mở, tư tưởng tiên tiến, ông luôn
bi
ết đón nhận cái mới bằng thái độ cầu thị đầy cẩn trọng và có chọn lọc… Ông chính là
ng
ười xây cầu nối giữa hai bờ Đông – Tây… một lữ khách u buồn lang thang đi tìm cái
đẹp” [8, tr.104]. Cũng trong mạch chung đó, trong bài Tago trong mắt Kawabata và
Nh
ật Bản trong mắt Tago, tác giả Đoàn Minh Tiến đã dẫn ra những cảm nhận và đánh
giá c
ủa Tago về Y.Kawabata và về văn học Nhật Bản. Và nhà văn Y.Kawabata đã làm
đúng như lời của Tago: “Mỗi dân tộc phải giới thiệu những gì tốt đẹp nhất của mình với
các dân t
ộc khác”.
Nghiên c
ứu về những đặc điểm thể loại văn xuôi Y.Kawabata đã được nhiều
ng
ười hướng đến nhằm phân tích, chỉ ra những đóng góp của nhà văn từ góc nhìn loại

Yasunari Kawabata - nhà v
ăn lớn Nhật Bản (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9/1999).
Nh
ấn mạnh những yếu tố thuộc về đặc trưng thi pháp tiểu thuyết Y.Kawabata như: thi
pháp chân không, thi pháp th
ơ haiku, kết cấu, cốt truyện thể hiện trong một số tác phẩm
tiêu bi
ểu (Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô), tác giả Lưu Đức Trung đã khẳng định: “Ba
b
ộ tiểu thuyết xuất sắc trên đây đã thể hiện rõ phong cách nghệ thuật của Kawabata. Cái
ch
ất trữ tình sâu lắng, nỗi buồn êm dịu đó phải chăng Kawabata đã kế thừa từ trong
dòng v
ăn học “nữ tính” trong thời đại Heian (794 - 1192), từ tác phẩm Genji
Monogatari (Truy
ện Genji) của Murasaki Shikibu (978 - 1044) đầy chất bi cảm” [1,
tr.47].
Hướng tập trung nghiên cứu về những tác phẩm và những vấn đề cụ thể của văn
xuôi Y.Kawabata chi
ếm số lượng bài nhiều hơn cả (khoảng 15 bài) đăng trên các tạp
chí: Nghiên c
ứu văn học, Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, Châu Mỹ ngày nay,
V
ăn… và các trang web. Viết về cái đẹp biểu hiện trong sáng tác của Y.Kawabata từ
nhi
ều hướng tiếp cận, đã có một số bài viết nghiên cứu khá sâu sắc. Nhà nghiên cứu phê
bình v
ăn học Nhật Chiêu trong bài Thế giới Kawabata Yasunari (hay là cái đẹp: hình và
bóng) và Kawabata Yasunari và th
ẩm mỹ của chiếc gương soi, đã chỉ ra đặc điểm của

ường”, “vẻ đẹp thanh tao, trong sáng”, “vẻ đẹp thanh xuân”, “vẻ đẹp hài hoà”,
“v
ẻ đẹp u buồn” và “vẻ đẹp hư ảo”, thì tác giả Đào Thị Thu Hằng lại thống kê và chỉ ra
các lo
ại nhân vật lữ khách đi tìm cái đẹp như Shimamura (Xứ tuyết), Shingo (Tiếng rền
c
ủa núi), Eguchi (Người đẹp say ngủ) và kết luận rằng: “Trong hành trình tìm kiếm của
mình, h
ọ luôn được sống trong cảm giác chân - thiện - mỹ rất con người. Họ đã trở
thành m
ột kiểu nhân vật quen thuộc không thể thiếu. Họ chính là phiên bản của
Kawabata - “l
ữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp”. [5, tr.62]. Phân tích vẻ đẹp của Cánh
tay mang b
ản chất nữ tính đã qua đêm cùng với một người đàn ông, Trần Thị Thuận
nh
ấn mạnh “cái đẹp cũng là cái thiện được thể hiện trong sự tuơng giao giữa người đàn
ông và cánh tay cô gái mang m
ột ý nghĩa nhân bản đẹp đẽ… được ngời sáng từ cái đẹp
c
ủa bản ngã nữ tính”.
S
ử dụng các yếu tố huyền ảo như một thủ pháp nghệ thuật để phản ánh và khai
thác chi
ều sâu tâm lý nhân vật được Y.Kawabata thể hiện trong hầu hết các sáng tác của
mình.
Đặt trong sự so sánh đối chiếu, Đào Thị Thu Hằng đã nêu ra những sự giống và
khác nhau gi
ữa các yếu tố huyền ảo trong sáng tác của Y.Kawabata và G.G.Marquez qua
bài Y

ủa nhà văn. Những cái kỳ ảo này đặt trong mối quan hệ với các yếu tố thực tạo nên
m
ột trường thẩm mỹ nghệ thuật có sức hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Và “những yếu tố
k
ỳ ảo trong sáng tác của Y.Kawabata… là những yếu tố nghệ thuật độc đáo mang vẻ đẹp
của phương Đông gắn với tư duy nghệ thuật và thi pháp của nhà văn. Đó là sự tiếp nối
mang tính truy
ền thống trong văn học Nhật qua các thời đại và sự học tập những
ph
ương thức nghệ thuật hiện đại của phương Tây” [11, tr.59]. Tiểu thuyết Người đẹp say
ng
ủ là tác phẩm lớn cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác của Y.Kawabata đặt ra nhiều
v
ấn đề mang tính thời sự và nhân sinh. Phân tích những “thủ pháp tương phản” trong
truy
ện Người đẹp say ngủ của Kawabata Yasunari, bên cạnh việc chỉ ra sự tương phản
v
ề không - thời gian, hình thức - nội tâm, già - trẻ…, Khương Việt Hà đã cho rằng
“t
ương phản được Kawabata Yasunari sử dụng như một thủ pháp cốt yếu bàng bạc trong
t
ừng trang Người đẹp say ngủ… Với thủ pháp tương phản và thành công của tác phẩm
Ng
ười đẹp say ngủ, Kawabata Yasunari đã hoàn thiện văn đạo của mình” [9, tr.105-106].
Trong bài Th
ời gian và không gian nghệ thuật tiểu thuyết “Người đẹp say ngủ” của
Yasunari Kawabata, tác gi
ả Hà Văn Lưỡng đi vào khảo sát các loại thời - không gian
bi
ểu hiện khác nhau và vai trò của nó đối với các yếu tố nghệ thuật trong Người đẹp say

báo chí c
ũng đã chỉ ra được những tài năng nghệ thuật đặc sắc của Y.Kawabata, đồng
th
ời có ý nghĩa định hướng tiếp nhận cho độc giả nước ta đối với tác phẩm của nhà văn
này nói riêng và v
ăn học Nhật Bản nói chung.
3. Tác phẩm của Y.Kawabata trong nhà trường Việt Nam
Trong ch
ương trình giảng dạy văn học nước ngoài ở nước ta, so với văn học
Trung Qu
ốc, văn học Pháp, văn học Nga, văn học Mỹ…, văn học Nhật Bản đưa vào dạy
ở bậc phổ thông, cao đẳng và đại học không chỉ muộn hơn về thời gian mà số lượng tác
gi
ả, tác phẩm quá ít ỏi. Trong khi đó, nền văn học Nhật Bản với một chiều dài lịch sử
phát tri
ển đã có những thể loại văn học và tác giả lớn được giải Nobel văn học: thơ
haiku, kịch No (thế kỷ XVII), Y.Kawabata (Nobel 1968), K.Ôe (Nobel 1994). Điều này
có th
ể lý giải bằng nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Cho đến nay, một số tác
gi
ả văn học Nhật Bản như M.Basho, R.Akutagawa và Y.Kawabata đã được giảng dạy
ở nhà trường Việt Nam. Tuy nhiên, số lượng giờ và tác phẩm trích giảng cũng rất ít.
3.1. Tác ph
ẩm của Y.Kawabata trong trường phổ thông
Nh
ư trên chúng ta đã nói, tác giả M. Basho (1664 - 1694) gắn với thể thơ haiku
đưa vào chương trình học của phổ thông trung học (lớp 10). Chọn 11 bài thơ haiku của
M.Basho v
ới những nội dung phản ánh khác nhau để khẳng định những giá trị nghệ
thu

ư vậy, so với tài năng nghệ thuật và khối lượng tác phẩm của Y.Kawabata
được phổ biến ở nước ta, việc chỉ chọn giảng dạy một truyện ngắn là còn ít. Nếu đưa
thêm m
ột số truyện ngắn trong lòng bàn tay và trích giảng một số đoạn trong Xứ tuyết
ho
ặc Ngàn cánh hạc thì sẽ cung cấp cho học sinh có một kiến thức rộng hơn về nhà văn
Y.Kawabata.
3.2. Tác ph
ẩm của Y.Kawabata trong trường đại học và cao đẳng
Ở khoa Ngữ Văn của các trường đại học và cao đẳng nước ta, việc giảng dạy văn
h
ọc Nhật Bản nói chung và Y.Kawabata nói riêng mang tính hệ thống và với khối lượng
tác gi
ả, tác phẩm nhiều hơn. Môn văn học Nhật Bản được giảng dạy thành một học
ph
ần riêng biệt, hoặc nằm trong phần văn học phương Đông. Tác giả Y.Kawabata cùng
v
ới những tác phẩm của ông được trình bày một cách đầy đủ, theo thể loại bên cạnh các
tác gi
ả khác như M.Basho, R.Akutagawa, Y.Mishima… Cũng như văn học Mỹ, văn học
Đức, văn học Nhật được giảng dạy trong các trường đại học và cao đẳng mới non hai
chục năm trở lại đây. Mặt khác, chương trình giảng dạy văn học Nhật và Y.Kawabata
(bao g
ồm số tiết và nội dung) ở các trường cũng không giống nhau. Một số trường
không d
ạy văn học Nhật Bản thành một học phần riêng biệt mà nó nằm chung trong học
ph
ần văn hóa Nhật Bản. Theo chúng tôi biết, hiện nay Y.Kawabata và văn học Nhật Bản
ch
ủ yếu được giảng dạy ở khoa Ngữ Văn các trường đại học tại Hà Nội, Huế và thành

Nh
ư vậy, việc tiếp nhận Kawabata ở Việt Nam trên các phương diện: dịch thuật,
nghiên c
ứu, giảng dạy diễn ra khá toàn diện so với các tác giả văn học Nhật Bản khác.
Tuy nhiên, v
ới một tác gia lớn như Y.Kawabata, việc tiếp nhận diễn ra chậm và một số
tác ph
ẩm của nhà văn vẫn chưa dịch hết sang tiếng Việt (đặc biệt là tiểu thuyết). Mặt
khác, nh
ững công trình nghiên cứu tổng thể và cụ thể tác giả, tác phẩm Y.Kawabata hãy
còn th
ưa thớt. Các bài viết chưa khám phá hết đặc sắc nghệ thuật văn chương của ông;
th
ời lượng giảng dạy tác giả này trong trường phổ thông và đại học, cao đẳng còn chưa
h
ợp lý. Vì vậy, việc tiếp nhận Y.Kawabata ở nước ta vẫn tiếp tục trong hiện tại và tương
lai.
TÀI LI
ỆU THAM KHẢO
1. Nh t Chiêu, Kawabata Yasunari và th m m c a chi c g ng soi, T p chí Nghiên c u
Nh
t B n, s 4 (28), 2000.
2. Nh
t Chiêu, Th gi i Kawabata Yasunari (hay là cái p: Hình và bóng), T p chí V n
h
c, s 3/2000.
3.
ào Ng c Ch ng, c X tuy t ngh v cái nhìn huy n o c a Kawabata Yasunari,
T
p chí V n, s 15 tháng 6/2001.

n L ng, Th i gian và không gian ngh thu t trong ti u thuy t Ng i p say
ng
c a Y.Kawabata, T p chí ông B c Á, s 81, tháng 11/2007.
13. V
Th Thanh, Y. Kawabata, cu c i và s nghi p, T p chí V n s 140/1969.
14. L
u c Trung, Yasunari Kawabata – cu c i và tác ph m, NXB Giáo d c, Hà N i,
1997.
15. Hà Thanh Vân, T Murasaki n Kawabata trong cu n V n hóa h c t m t góc nhìn,
NXB H
i Nhà v n, Hà N i, 2002. THE ABSORPTION Y. KAWABATA’S WORKS IN VIETNAM
Ha Van Luong
College of Sciences, Hue University
SUMMARY
Yasunari Kawabata (1899 - 1972), was the greatest writer of Japanese Literature and of
the world. He was the first Japanese and the second Asian writer who received the Nobel Prize
in Literature (1968). Kawabata’s works have been translated and have become popular in many
countries all over the world, especially in Vietnam.
In our country, Y.Kawabata had been received the earliest since 1969 until the end of
the 20
th
century and nearly ten years by the beginning of the 21
st
century. Our article presents
the research on receiving Y.Kawabata’s work in Vietnam focusing on three aspects: translation,
research and teaching. Through these aspects, we can affirm Y.Kawabata’s important position
and his original talent of art which help our readers to understand the nation and human soul of


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status