Nguyễn Du dưới góc nhìn lịch sử - Pdf 16

Nguyễn Du dưới góc nhìn lịch sử
Hà Quảng
Trong thiên tài của Nguyễn Du, ông đã thừa hưởng được cái tính dịu dàng, nhã
nhặn và phong lưu của xứ Kinh Bắc nhờ ảnh hưởng của mẹ, đã hưởng được hào khí
của đất Hồng Lam, hùng tâm của người xứ Nghệ, cùng là lòng tiết nghĩa, khiếu văn
chương, do gia phong truyền xuống trải bao nhiêu đời nhờ ảnh hưởng của cha.
Hồn vẫn đi về, cảo thơm sực nức
Nguyễn Du tên tự là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên, sinh năm 1765 và mất năm 1820. Quê ông
gốc làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh và trải qua thời niên thiếu ở
Thăng Long. Ông thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt, cha là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm
đậu nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ, phong tước Xuân quận công (tể tướng dưới
triều Lê); mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm), con gái quan Câu kê họ Trần ở
làng Hoa Thiền huyện Đông Ngạn xứ Kinh Bắc (nay là tỉnh Bắc Ninh).
Câu ca dao “Bao giờ ngàn Hống hết cây, sông Rum hết nước họ này hết quan” là chỉ cái việc làm
quan của họ Nguyễn Tiên Điền vậy.
Anh đầu Nguyễn Du là Nguyễn Khản đậu đồng tiến sĩ, làm quan đến chức Tham tụng, cùng ở
một triều với thân phụ. Anh thứ hai là Nguyễn Điều trúng tam trường thi Hội, làm quan đến chức
Trấn thủ Hưng hoá, phong tước Điền Nhạc hầu. Anh thứ ba là Nguyễn Dao trúng tứ trường thi
Hương, chịu chức Hồng lô Tự thừa. Anh thứ tư là Nguyễn Luyện trúng tam trường thi Hương.
Anh thứ năm là Nguyễn Trước trúng tứ trường thi Hương. Anh thứ sáu là Nguyễn Nễ trúng tứ
trường thi Hương, một nhà đều là khoa giáp xuất thân, cùng làm quan ở triều Lê cả.
Dòng họ Nguyễn Du không những nổi tiếng về khoa hoạn mà lại còn chiếm nhiều danh tiếng
trong lĩnh vực văn chương. Nguyễn Nghiễm còn để lại những tập Quân Trung liên vịnh, Xuân
đình tạp vịnh, và quyển Việt sử bị lâm cung cùng nhiều tác phẩm chữ Nôm, từng làm bài phú
Khổng tử mộng Chu công, nay còn truyền tụng. Nguyễn Nễ còn để lại Quê hiên giáp ất tập và
Hoà trình hậu tập cũng sở trường về văn Nôm. Cháu Nguyễn Du là Nguyễn Thiện có tập thơ
Đông phú và Nguyễn Đạm có tập thơ Quan hải, tập thơ Minh quyên đều là những văn hào đương
thời. Danh sĩ trong nước bấy giờ truyền có năm người lỗi lạc, người đời gọi là “An Nam ngũ
tuyệt” thì họ Nguyễn Tiên Điền có đến hai người là Nguyễn Du và Nguyễn Đạm rồi.
Dòng họ này lại còn được người đời nể trọng về lòng trung nghĩa. Tổ tiên thuở xưa theo Mạc thì
nhiều người tuẫn tiết khi nhà Mạc mất. Thời Lê, sau khi Lê mất, mấy anh em Nguyễn Khản,

Văn Nhậm ra giết, đến khi Nhậm theo vết xe cũ của Chỉnh lại tự mình ra giết. Vua Lê cầu cứu với
Trung Hoa, Bắc Bình Vương bèn bỏ Lê mà xưng đế trước khi đánh tan quân Tôn Sĩ Nghị. Bọn
tôi cũ nhà Lê, một số thì chạy theo vua Chiêu Thống sang Tàu để lo khôi phục, một số thì vì danh
lợi hoặc vì thế bức phải quy phục nhà Tây Sơn, số nữa thì lẻn lút ở nhà quê mà nuôi chí khí để
chờ cơ hội.
Nguyễn Du lúc bấy giờ nhân tập chức của cha nuôi, đương làm Chánh thủ hiệu, một chức quan
võ ở Thái Nguyên, nghe tin vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu (năm Kỷ Dậu -1789) toan theo
ngự giá nhưng không kịp bèn về quê vợ ở làng Hải An huyện Quỳnh Côi xứ Sơn Nam (bây giờ là
tỉnh Thái Bình). Ông cùng anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn tập hợp hào mục mưu đồ khôi phục nhà
Lê, nhưng chung quy thất bại bèn phải về quê nhà ở Tiên Điền, một thời gian toan kiếm đường
vào Gia Định giúp chúa Nguyễn Anh, nhưng việc tiết lộ, ông bị trấn tướng của Tây Sơn là Thận
Quận Công bắt giam. May Thận Quận Công quen biết với anh ruột ông là Nguyễn Nể lại mến tài
ông nên chỉ giam vài tháng rồi tha. Bấy giờ ông tự thấy mình không làm được người nghĩa sĩ đem
thân hy sinh cho chúa đành làm kẻ bình dân giữ trọn tiết trung trinh. Ngày tháng ông lấy sơn thuỷ
làm vui hoặc đi săn muông, hoặc đi câu cá, tuỳ hứng ngâm vịnh để khuây khoả, biệt danh Hồng
Sơn lạp hộ và Nam Hải điếu đồ có là vậy.
Khi thời thế xoay đổi, nhà Tây Sơn thất bại, Nguyễn Ánh thống nhất được Bắc Nam. Tháng sáu
năm Nhâm Tuất (1802), vua Gia Long sau khi khôi phục Phú Xuân ra Bắc xuống chiếu triệu tập
những người dòng dõi cựu thần nhà Lê, Nguyễn Du cũng bị triệu ở trong số ấy. Ông dẫu biết nhà
Lê không thể nào vãn hồi được nữa mà thiên hạ đã về theo nhà Nguyễn rồi, nhưng do lòng trung
quân, ông quyết từ chối, không chịu ra làm quan cho nhà Nguyễn.
Năm 1820, Nguyễn Ánh lật đổ nhà Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, lại mời Nguyễn Du ra làm
quan; ông từ mãi mà không được nên miễn cưỡng tuân mệnh. Tháng tám năm đầu hiệu Gia Long
(1802), ông được bổ tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam (bây giờ là Hưng Yên). Tháng 11 năm ấy,
ông được thăng Tri phủ Thường Tín.
Mùa thu năm Gia Long thứ ba, ông cáo bệnh về quê, được hơn một tháng thì bị triệu về Kinh.
Tháng giêng năm sau được thăng hàm Đông Các Học Sĩ và phong tước Du Đức Hầu. Tháng tư
năm Gia Long thứ tám, ông được bổ chức Cai bạ dinh Quảng Bình. Tháng chín năm thứ mười
một, ông lại xin nghỉ về quê, đến tháng chạp lại bị triệu về Kinh, rồi tháng giêng năm sau thăng
hàm Cần chánh điện Học sĩ, và được cử làm Chánh sứ đi tuế cống Thanh triều. Tháng tư năm thứ

trạng mà ta đã phân tích trên kia, dưới góc nhìn lịch sử, ta còn thấy nhiều nét nổi bật nữa ở con
người Nguyễn. Ông còn là một võ quan nhiều mưu đồ đại nghiệp, một vị văn quan biết cách chăn
dân, một nhà ngoại giao xuất chúng. Những năm làm Chánh thủ hiệu ở Thái Nguyên, thời kỳ tụ
tập nghĩa binh toan chuyện phò Lê thể hiện phẩm cách của một võ quan không an phận, nuôi chí
lớn khôi phục lại cơ nghiệp Lê triều. Những năm làm tri phủ Thường Tín, rồi cai bạ Quảng Bình,
ông đã nêu một gương sáng về đức trị dân của một ông quan thanh liêm. Tại nhiệm bốn năm,
chính sách rất là giản dị, chúng dân đều yêu mến. Nhờ vậy mới được phong tước Du Đức Hầu,
rồi về Kinh thăng hàm Cần chánh điện Học sĩ. Đáng kể nhất là những năm ông làm Chánh sứ đi
tuế cống Triều Thanh thành công rất được triều Nguyễn tín dụng.
Tháng Hai năm Quý Dậu (1813), Nguyễn Du nhận chỉ làm Chánh sứ, dẫn đầu phái đoàn gồm
Đàm Ân Hầu (tham sự bộ Lại) và Phong Đăng Hầu (tham sự bộ Lễ), đi tuế cống Trung Hoa.
Ngày 6/4 năm Quý Dậu, Chánh sứ Nguyễn Du chính thức bước qua ải Nam Quan, bắt đầu hành
trình đến Bắc Kinh. Những ngày tháng đua tài với các sứ thần Hàn, Nhật chắc Nguyễn đã tỏ rõ
được cái sở học uyên bác của mình. Trong thời gian đi sứ, Nguyễn Du đã được tận mắt chứng
kiến nhiều nỗi oan trái và cuộc sống khổ ải của dân nghèo, sau này đã được tập hợp lại trong tập
thơ mang tên Bắc hành tạp lục (131 bài). Cũng trong thời gian này Nguyễn Du đã có dịp tìm hiểu
sâu nền văn hoá Trung Quốc. Với vốn sống đa dạng và tài năng kiệt xuất của mình, sau khi về
nước, ông đã hoàn thành tác phẩm Truyện Kiều, lấy cảm hứng từ tập truyên của tác giả Trung
Quốc Thanh Tâm Tài Nhân. Truyện Kiều sau đó đã vượt lên trên nguyên tác, trở thành một kiệt
tác thơ trong lịch sử văn chương Việt Nam.
Tháng Tư năm Giáp Tuất (1814), Nguyễn Du cùng đoàn sứ thần về nước. Trong chuyến đi, ông
đã cho chọn giống cây hồng quý đem về trồng ở nhà vườn An Hiên (Huế) hiện vẫn còn được
người dân nâng niu chăm sóc. Sau khi hoàn thành trọng trách cùng với đoàn sứ bộ, Nguyễn Du
được thăng chức Lễ Bộ Hữu Tham Tri.
Trong quá trình giữ cương vị Chánh sứ, đại diện cho quốc gia, ông đã để lại nhiều áng thơ văn,
nhiều ghi chép đặc sắc giúp cho những nhà nghiên cứu ngày nay có được cái nhìn khá kỹ càng về
hành trình của một sứ giả trên đất khách quê người.
Những tài năng đa diện và công lao của Nguyễn Du sau này đã được thể hiện qua các bài văn truy
điệu, mà nguời đời sau thường đoc trong dịp kỷ niệm ngày mất của ông (10/8 Canh Thìn 1820).
Tài kiêm Văn, võ:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status