skkn môn ngữ văn đề tài cái đẹp trong văn thạch lam và nguyễn tuân dưới góc nhìn so sánh - Pdf 29

1
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HÀ TĨNH
oOo
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm

®Ò TµI:

Cái đẹp trong văn Thạch Lam và Nguyễn Tuân dưới góc nhìn so sánh
LĨNH VỰC: NGỮ VĂN THPT
TÁC GIẢ ĐỀ TÀI: NGUYỄN TRỌNG ĐỨC
ĐƠN VỊ: TRƯỜNG THPT CHUYÊN HÀ TĨNH
giới hạn của mọi kỳ thi.
1.3. Nói đến văn chương là nói đến cái đẹp. Tìm đến cái đẹp là tìm đến cái
đích của văn chương, tìm vào cái đẹp của Thạch Lam và Nguyễn Tuân (những
người suốt đời đi tìm cái đẹp) lại càng trở nên hết sức cần thiết.
1.4. Từ thực tiễn giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi chúng tôi thấy tác
phẩm của Thạch Lam và Nguyễn Tuân nói chung, cái đẹp trong văn của hai tác
giả này nói riêng luôn thu hút sự quan tâm của nhiều người, nhưng đây lại là
vấn đề rất khó cho cả giáo viên và học sinh.
1.5. Khảo sát hệ thống các công trình nghiên cứu về Thạch Lam và
Nguyễn Tuân chúng tôi thấy chưa có công trình nào chỉ ra đặc trưng về cái đẹp
trong tác phẩm của hai nhà văn này trong mối quan hệ so sánh.
Từ những lí do trên đây, kết hợp với nhu cầu nâng cao trình độ chuyên môn
của bản thân và niềm say mê hai tác giả nổi tiếng này, chúng tôi chọn đề tài Cái đẹp
trong văn Thạch Lam và Nguyễn Tuân dưới góc nhìn so sánh để nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích nghiên cứu
Chọn đề tài này để nghiên cứu chúng tôi hướng đến mục đích: đưa ra một tài
liệu đáng tin cậy, có cơ sở khoa học để giúp giáo viên và học sinh ở trường THPT
tham khảo khi giảng dạy và học tập tác phẩm của Thạch Lam và Nguyễn Tuân. Đề
3

tài này đi vào khám phá cái đẹp – một phương diện nổi bật trong phong cách nghệ
thuật của Thạch Lam và Nguyễn Tuân. Thực hiện đề tài này sẽ góp phần giúp bản
thân và đồng nghiệp cũng như các em học sinh khám phá tác phẩm của hai nhà văn
này một cách đúng hướng. Từ đó nhìn nhận, đánh giá đúng giá trị và những đóng
góp của các nhà văn này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi đặt ra một số nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, phải chỉ ra và chứng minh, lí giải được cái đẹp trên hành trình sáng
tạo của Thạch Lam và Nguyễn Tuân.

Theo chủ quan chúng tôi, đề tài này rất có ý nghĩa cả về lí luận và thực
tiễn. Trước hết, đề tài đưa đến một hướng tiếp cận mới về cái đẹp trong văn
phẩm của Thạch Lam và Nguyễn Tuân – tìm vào cái đẹp tức là tìm vào bản
chất của văn chương, tìm vào hồn cốt của Thạch Lam và Nguyễn Tuân.
Về mặt thực tiễn, đề tài này sẽ giúp ích cho giáo viên và học sinh trong
việc khám phá, giảng dạy và học tập tác phẩm của hai nhà văn này nói chung
và các tác phẩm của họ trong nhà trường nói riêng. Từ việc khám phá hai nhà
văn này mà có thể vận dụng để khám phá những nhà văn khác.
5. KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị, đề tài này được triển khai
thành bốn phần như sau:
- Phần 1. Cơ sở khoa học
- Phần 2. Vài nét về cái đẹp
- Phần 3. Cái đẹp trong văn Thạch Lam và Nguyễn Tuân.
- Phần 4. Cái đẹp trong văn Thạch Lam và Nguyễn Tuân nhìn từ một
số tác phẩm trong chương trình trung học phổ thông.
5

NỘI DUNG

1. CƠ SỞ KHOA HỌC

ý niệm, xem cái đẹp là hồi quang của ý niệm siêu nhiên, thần thánh. Ngược lại, các nhà
mĩ học duy tâm chủ quan lại tuyệt đối hóa cái đẹp theo quan niệm chủ quan, tìm nguồn
gốc của cái đẹp trong ý thức của chủ thể, trong cảm xúc cá nhân. Nhà mĩ học Hume
quả quyết rằng: “Cái đẹp không phải là phẩm chất tồn tại trong bản thân sự vật, nó tồn
tại chủ yếu trong tâm linh người quan sát nó” [10,53]. Còn nhà triết học học người Đức
Kant thì cho rằng: “Cái đẹp không ở trên đôi má hồng của người thiếu nữ mà ở trong
con mắt của kẻ si tình” [3,83]. Đến thế kỷ XX, các nhà mĩ học dân chủ cách mạng Nga
đã kéo cái đẹp trở về với mảnh đất trần thế, họ cho rằng ở đâu có cuộc sống là ở đó có
cái đẹp. Thừa nhận sự tồn tại khách quan của cái đẹp, nhà nghiên cứu Tsernushevski
đưa ra định nghĩa: “Cái đẹp là cuộc sống” [12,24]. Kế thừa thành tự của mĩ học trước
đó, mĩ học Marx – Lenin lí giải rằng: “Bản chất của cái đẹp là sự thống nhất biện
chứng giữa hai yếu tố khách quan và chủ quan” [2,76]. Trên cơ sở nghiên cứu lịch sử
mĩ học từ cổ đại đến hiện đại, các tác giả của cuốn sách Mĩ học đại cương đưa ra khái
niệm: “Cái đẹp là một phạm trù thẩm mĩ dùng để chỉ một phẩm chất thẩm mĩ của sự
vật khi nó phù hợp với quan niệm của con người về sự hoàn thiện và tính lí tưởng, có
khả năng gợi lên ở con người một thái độ thẩm mĩ tích cực do sự tác động qua lại giữa
đối tượng và chủ thể” [2,83].
Như vậy, nhìn vào lịch sử tư tưởng mĩ học chúng ta thấy rằng quan niệm cụ thể
về cái đẹp có thể khác nhau, thậm chí là đối lập nhau giữa các trường phái mĩ học,
nhưng cái đẹp luôn được coi là tiêu chuẩn quan trọng nhất, phổ biến nhất, và là điểm tựa
trung tâm để con người đánh giá đời sống về mặt thẩm mĩ; cái đẹp bao giờ cũng đứng ở
vị trí trung tâm trong mối quan hệ thẩm mĩ giữa con người với hiện thực.
Trong tác phẩm nghệ thuật, cái đẹp là yếu tố giữ vai trò then chốt. Bàn
về phương diện này, nhà nghiên cứu Bielinski từng khẳng định: “Cái đẹp là điều
kiện không thể thiếu được của nghệ thuật, nếu thiếu cái đẹp thì không có và
không thể có nghệ thuật. Đó là một định lí” [8,77]. Cũng cần phải nói thêm rằng,
nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng không phải là nơi độc quyền sản xuất
ra cái đẹp, nhưng đó lại là nơi tập trung nhất, lãnh trách nhiệm nặng nề nhất trong
việc tìm kiếm, sáng tạo và thỏa mãn nhu cầu về cái đẹp cho xã hội.
7

cũng có thể nhận thấy mà chỉ có những đôi mắt tinh tường, đủ sự nhạy cảm cần
8

thiết mới có thể nhận ra. Quan niệm của Thạch Lam gợi chúng tôi nhớ đến câu nói của
Hoàng Đức Lương trong bài tựa Trích Diễm thi tập: “Đến như văn thơ thì lại là sắc đẹp
ngoài cả sắc đẹp, vị ngon ngoài cả vị ngon, không thể đem mắt tầm thường mà xem,
miệng tầm thường mà nếm được”[13]. Quan niệm trên đây của Thạch Lam cũng cho
thấy thiên chức cao quý của nhà văn là phát hiện cái đẹp để “cho người khác một bài
học trông nhìn và thưởng thức”, để “làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong
phú hơn”. Cái đẹp trong quan niệm của Thạch lam không phải là một thứ trừu tượng,
cái đẹp ấy dù kín đáo, dù bị khuất lấp trong cuộc sống, nhưng dưới ngòi bút của ông thì
cái đẹp ấy là sự sống được cảm thấy, được “trông nhìn” và “thưởng thức”.
3.1.2. … đến thực tiễn sáng tác
Quan niệm của Thạch Lam đã trở thành máu thịt trong tác phẩm của ông.
Đến với truyện ngắn của Thạch Lam trước hết người đọc được đắm mình trong vẻ
đẹp trinh nguyên, dịu dàng, gần gũi của thiên nhiên. Này đây “một chiều êm ả
như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”,
“phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp
tàn” (Hai đứa trẻ), và này đây “một cảm giác mát lạnh bỗng trùm lên hai vai. Tâm
ngẩng đầu nhìn lên, chàng vừa đi vào dưới vòm lá tre xanh trong ngõ” (Trở về);
“chàng thấy mát hẳn cả người, trên con đường gạch Bát Tràng rêu phủ, những
vòng ánh sáng lọt qua vòm cây xuống nhảy múa theo chiều gió. Một mùi lá tươi
non phảng phất trong không khí (…). Yên tĩnh quá, không một tiếng động nhỏ
trong căn vườn, tựa như bao nhiêu sự ồn ào ở ngoài kia đều ngừng lại trên bực
cửa (…), bóng tối dịu và man mát loáng qua những màu sắc rực rỡ chàng đem ở
ngoài trời vào” (Dưới bóng hoàng lan); “… mùa đông đột nhiên đến, không báo
trước. Nhìn ra ngoài sân, Sơn thấy đất khô trắng, luôn luôn cơn gió vi vu làm bốc
lên những màn bụi nhỏ, thổi lăn những cái lá khô lạo xạo. Trời không u ám, toàn
một màu trắng đục. Những cây lan trông chậu, lá rung động và hình như sắc lại vì
rét” (Gió lạnh đầu mùa). Có thể nói, trong tác phẩm của Thạch Lam, thiên nhiên

rét. Nhân vật Bình (Người bạn trẻ) thấy lòng thắt lại khi bạn bị ốm. Thanh (Một
cơn giận) day dứt, đau khổ và hối hận vì hành vi của mình đã làm gia đình anh
phu xe phải gian truân suốt đời. Những đứa trẻ (Tiếng chim kêu) thương cho
những người lữ khách trên đường vắng giữa đêm khuya giá rét, ái ngại cho
những nhà nghèo. Thạch Lam đặc biệt chú tâm khai thác vẻ đẹp của thế giới
10

tinh thần con người với đầy đủ những cung bậc tình cảm, những biến thái tinh
vi, những cảm xúc cảm giác hết sức tế vi trong tâm hồn con người. Người đọc
chắc hẳn sẽ day dứt với cảm giác “buồn man mác”, “mơ hồ không hiểu” của cô
bé Liên trong truyện Hai đứa trẻ, hay “cảm giác vui mừng khi thấy cạnh bông
lúa sắc xát vào da thịt” (Nhà mẹ Lê). Trong một bài viết tác giả Nguyễn Việt
Thắng từng nhận xét rất chí lí rằng: “Thạch Lam có khả năng tái tạo những
rung động tâm hồn con người nhiều khi chỉ khẽ như cánh bướm. Cái khả năng
ấy chỉ có thể có ở một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm cao độ” [1,175].
Có thể nói, nếu chữ “đẹp” là cái gốc, là điểm xuất phát trong quan niệm nghệ
thuật của Thạch Lam về con người và cuộc sống, thì đọc văn Thạch Lam người đọc
được tắm mình trong vẻ đẹp ở muôn hình vạn trạng, ở những chỗ mà không ai ngờ tới:
vẻ đẹp của thiên nhiên thơ mộng (Hai đứa trẻ, Gió lạnh đầu mùa, Dưới bóng Hoàng
Lan…), vẻ đẹp của con người mang đậm phong vị Việt Nam (Nhà mẹ Lê, Cô hàng
xén…), vẻ đẹp của cuộc sống vốn luôn sinh thành (Đứa con đầu lòng), vẻ đẹp của
truyền thống văn hoá dân tộc (Hà Nội băm sắu phố phường). Đặc biệt, văn Thạch Lam
chinh phục lòng người bởi cái đẹp của đời sống tâm hồn và phẩm chất con người (Gió
lạnh đầu mùa, Một cơn giận, Tiếng chim kêu, Sợi tóc, Ngày mới…). Quả đúng là trong
văn Thạch Lam cái đẹp có muôn hình vạn trạng như ông từng quan niệm.
3.2. Nguyễn Tuân – “người suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật”
“Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật” (Nguyễn
Đình Thi, Điếu văn truy điệu Nguyễn Tuân). Lời khẳng định của Nguyễn Đình
Thi có thể được minh chứng bằng chính hành trình sáng tạo của Nguyễn Tuân.
Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân “muốn mỗi ngày có được cái say sưa

hoa của cụ Kép thật đặc biệt, “mỗi lần có người động mạnh vào giò lan đen, cụ Kép
lại suýt xoa như có người châm kim vào da thịt mình”.
Nguyễn Tuân còn đặc biệt thích thú trước tục thả thơ, đánh thơ. Trong
Vang bóng một thời, hai truyện ngắn Thả thơ và Đánh thơ đã tạo cho người
đọc những “khoái cảm thẩm mĩ đặc biệt” bởi vì nhà văn “đã dạy cho ta nghệ
thuật sống để tận hưởng ý vị tinh túy, sâu sắc của cuộc sống”.
Vậy là, ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, để thỏa mãn nhu cầu
săn tìm cái đẹp và phản kháng lại xã hội, Nguyễn Tuân đã tìm về với những
phong tục văn hóa, những nét đẹp truyền thống của cha ông. Ông viết về thú
12

uống trà, về việc thả thơ, đánh thơ, chơi chữ,… với một giọng điệu say sưa và
thái độ trân trọng, ngợi ca. Nguyễn Tuân say vẻ đẹp văn hóa cổ truyền như say
men rượu tối tân hôn. Điều đó cho thấy sự tài hoa, uyên bác và tấm lòng yêu
nước thiết tha, sâu sắc và kín đáo của nhà văn.
Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân bắt tay làm lành với xã hội. Lúc
này ông không còn phải tìm về quá khứ với thái độ hoài cổ, tiếc nuối nữa, mà tìm
cái đẹp ngay trong cuộc sống hiện tại. Ông nhận thấy “phong cảnh tự nhiên của ta
thật là lớn đẹp, con người mình cũng phải lớn đẹp theo lên với nó. Núi sông lúc nào
cũng nhắc nhở ta,… mỗi ngày trưởng thành lại đem thêm cái đẹp hình học, cái đẹp
kỹ thuật, cái đẹp nhân tạo và hiện đại vào giữa cái đẹp thiên tạo đủ cả núi dựng
thành, sông uốn khúc” [9,189]. Nếu trước đây Nguyễn Tuân xê dịch, phiêu lưu tìm
cái đẹp trong tâm trạng của một người “thiếu quê hương”, thèm khát được làm chủ
giang sơn đất nước, thì sau Cách mạng ông cũng xê dịch, nhưng là xê dịch đến các
chiến dịch, đến các công trường, bến cảng, đến những vùng miền xa xôi của thời kỳ
đổi mới. Nếu trước đây văn Nguyễn Tuân có giọng điệu giễu nhại, thì nay chỉ thấy
đặc một giọng điệu ngợi ca. Nào là “Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi”, nào là ông lái đò với
tay lái ra hoa như một nghệ sĩ trên mặt trận lao động, nào là con sông Đà cuộn mình
như mái tóc dài của người thiếu nữ đa tình,
Cái đẹp trong văn Nguyễn Tuân gắn liền với chất tài hoa tài tử. Dưới ngòi

nói với viên quản ngục ta sẽ thấy rõ điều này: "Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay
quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ. Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và
một bức trung đường cho ba người bạn thân của ta thôi". Sang giai đoạn sau Cách
mạng tháng Tám, chất tài hoa tài tử vẫn là một đặc điểm lớn trong sáng tác của
Nguyễn Tuân. Trong tùy bút Sông Đà, Nguyễn Tuân miêu tả ông lái đò với tay lái ra
hoa, vượt qua mọi cửa tử cửa sinh của dòng sông Đà hung bạo để trở thành người
nghệ sĩ trên mặt trận lao động. Dòng sông Đà dưới ngòi bút Nguyễn Tuân cũng thật lạ, đó
là một nhân vật với hai nét tính cách hung bạo và trữ tình. Đặc biệt, ông miêu tả: “con sông
Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây
Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói Mèo đốt nương xuân”.
Nhìn lại cuộc đời Nguyễn Tuân chúng ta có thể khẳng định: chất tài hoa tài tử
trong các nhân vật của Nguyễn Tuân chính là chất người của ông tỏa vào trong nhân
vật, trở thành một điểm phong cách nghệ thuật thể hiện xuyên suốt sự nghiệp sáng tác
14

của Nguyễn Tuân. Cảm ơn đời đã sinh ra Nguyễn Tuân – một phong cách sống và một
phong cách văn độc đáo, góp phần thỏa mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp của người
đọc, góp phần làm phong phú nền văn học nước nhà.
Nguyễn Tuân là môn đồ của thuyết Nghệ thuật vị nghệ thuật, cái đẹp
trong tác phẩm của ông vì thế mang đậm tính duy mĩ. Ông đặt nghệ thuật lên trên
mọi thứ thiện ác ở đời, đề cao cái đẹp một cách thuần túy, không vụ lợi. Cái đẹp,
văn chương cũng như nghệ thuật, theo ông, không có nội dung xã hội, giai cấp và
thời đại. Chính thái độ nâng niu, trân trọng cái đẹp và với cách nhìn nghiêng về
nghệ thuật của ông đã tạo nên một Nguyễn Tuân “vị nghệ thuật” trong văn chương.
Ông từng phát biểu: “Văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước
hết phải là nghệ thuật”. Ở chỗ khác ông khẳng định: “Mĩ thuật vốn không là bà con
với luân lí của thời đại” [9,92]. Quan niệm ấy thể hiện rõ nhất trong thực tiễn sáng
tác của ông trước cách mạng: một thằng ăn cắp trở nên đẹp đẽ vô cùng khi hắn cắt
túi người ta rất gọn, rất nhanh (Chuyến xe tình), một ngón tài bẻ khóa vượt ngục
cũng góp phần làm cho Huấn Cao nổi danh trong thiên hạ (Chữ người tử tù), một

gì đều mang vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ. Nói cho cùng, tất cả cũng chỉ là những hóa
thân khác nhau của chính nhà văn - “con người sinh ra để mà thờ Nghệ Thuật
với hai chữ viết hoa”. Nguyễn Tuân thường xuyên sử dụng thủ pháp lí tưởng hóa
để biến nhân vật của ông thành những con người mang vẻ đẹp toàn bích. Tiêu
biểu như các nhân vật Huấn Cao, người lái đò… Ngược lại, Thạch Lam quan
niệm: “Chỉ có thánh nhân mới hoàn toàn. Người bao giờ cũng có cái dở, cái
khuyết điểm, bên cạnh cái hay, trong con người ta cái cái xấu và cái tốt lẫn lộn,
(…) một người rất tốt cũng có những lúc giận giữ, tàn ác. Nhưng một người rất
ác cũng có lúc hiền hậu, nhân từ. Người ta là người với những sự cao quý và hèn
hạ của con người” (Theo dòng). Chẳng hạn, ở truyện Đói, nhân vật Sinh do thất
nghiệp, vợ chồng Sinh sống cùng quẫn không có lối thoát. Sau khi đã bán hết đồ
đạc trong nhà, họ phải đối diện với một thực tế phũ phàng, cay đắng, đó là cái
đói. Mai là vợ Sinh phải bán mình lấy tiền mua thức ăn cho chồng. Sinh đau
khổ, tủi nhục, nhưng sau cái cảm giác đau đớn, chán nản, nhục nhã đó là sự dày
vò của cái đói. Sinh đã đầu hàng một cách thảm hại, anh vụng trộm ăn những
thức ăn do đồng tiền bán mình của vợ mà có. Vậy là Sinh đã đặt sự tồn tại lên
16

trên nhân cách. Đó là dấu hiệu dự báo về quá trình tha hoá, biến đổi nhân cách
con người do tác động của hoàn cảnh. Nhân vật Thanh trong truyện Một cơn
giận đã lạnh lùng hành động trong giận dữ để đẩy gia đình anh phu xe vào cảnh
khốn cùng, sau đó chính Thanh lại day dứt, sám hối vì tội lỗi của mình. Thành
trong truyện Sợi tóc là người lương thiện, có bản lĩnh để vượt qua sự cám dỗ của
đồng tiền, nhưng chính anh đã từng có ý định lấy cắp hai tờ giấy bạc của bạn.
Thứ ba, trong văn Nguyễn Tuân, cái đẹp gắn với chất tài hoa tài tử. Với
ông, cái đẹp luôn gắn liền với cái tài, cái thiên lương trong sáng; nói cách khác,
cái tài và cái tâm cũng là một phương diện của cái đẹp. Nguyễn Tuân thường
vận dụng một cách tổng hợp cách khảo sát của nhiều nghành văn hóa nghệ
thuật khác nhau để đào sâu cho đến “sơn cùng thủy tận”. Chẳng hạn như trong
Người lái đò sông Đà, ông lái đò với vẻ đẹp phi thường, nắm giữ mọi bí mật

thức thể hiện chúng tôi xin được bàn kĩ ở một công trình nghiên cứu khác.
Với Thạch lam và Nguyễn Tuân, tác phẩm của họ đã có mặt trong chương
trình phổ thông hàng chục năm nay. Trong đó, ở chương trình THPT, Thạch lam
có truyện ngắn Hai đứa trẻ, còn Nguyễn Tuân có truyện ngắn Chữ người tử tù
và tùy bút Người lái đò sông Đà. Xung quanh các tác phẩm này đã có rất nhiều
công trình, bài viết bàn luận đủ mọi phương diện. Bởi vậy, tác giả công trình này
xin phép không trình bày theo hướng cảm thụ hay phê bình chung về tác phẩm,
mà chỉ xin được đưa ra một số điểm đáng lưu ý khi khai thác các tác phẩm này,
đó là nhìn tác phẩm dưới phương diện cái đẹp.
4.1. Thạch Lam với “Hai đứa trẻ”
Cái đẹp trong Hai đứa trẻ biểu hiện trên những phương diện nào? Giá trị
thẩm mĩ được thể hiện qua cái đẹp ấy?
Trước hết, truyện ngắn Hai đứa trẻ hấp dẫn người đọc bởi cái đẹp của khung
cảnh phố huyện. Khi chiều buông, “tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ;
từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều. Phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những
đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ
rệt trên nền trời”. “Một chiều êm ả như ru” thấm đượm nỗi buồn dịu nhẹ, có màu sắc
của mặt trời trong cảnh ngày tàn, có âm thanh của ếch nhái kêu ran, có gió nhẹ thoang
thoảng từ ngoài đồng thổi vào, có cả mùi riêng của đất.
18

Cảnh sắc thiên nhiên dịu nhẹ, mang nỗi buồn man mác thấm vào lòng
người nơi phố huyện nghèo. Nổi bật lên giữa khung cảnh ấy là hình bóng mờ
nhạt của những mảnh đời bé nhỏ, những kiếp sống nghèo đói, leo lắt: mấy đứa trẻ
con nhà nghèo đi lại nhặt nhạnh những thanh nứa thanh tre, hay bất cứ cái gì có
thể dùng được mà những người bán hàng bỏ lại trên sau buổi chợ tàn. Chị Tí ban
ngày mò cua bắt tép, tối đến dọn hàng nước bên gốc cây bàng. Cái “cửa hàng
nước” ấy chỉ có hai cái ghế và cái chõng, vài thứ điếu đóm mà tối tối hai mẹ con
cứ mang đi mang về nhưng cũng “chả kiếm được bao nhiêu”. Bà cụ Thi hơi điên
với tiếng cười khanh khách và dáng đi lảo đảo lần bước lần vào đêm tối.

tối, “tiếng ngắn khô khan, không vang động xa, rồi chìm ngay vào bóng tối”. Trong
cảnh đêm khuya vắng lặng, buồn tẻ, chừng ấy con người nơi phố huyện vẫn gắng đợi
đoàn tàu, và đoàn tàu đã đến – một chuyến tàu “không đông như mọi khi, thưa vắng
người và hình như kém sáng hơn” nhưng cũng đủ xua tan cái màn đêm tĩnh lặng
đang bủa vây không gian và lòng người nơi phố huyện nghèo.
Thiên nhiên hiu hắt, cuộc sống con người nghèo khổ, buồn tẻ được Thạch
Lam cảm và tả với đủ màu sắc, âm thanh, hương vị đã tạo nên một không gian đặc
trưng trong truyện ngắn Hai đứa trẻ - một kiểu không gian nửa mùi thôn ổ nửa đã thị
thành, một kiểu không gian ngập đầy bóng tối. Không gian ấy góp phần chuyển tải
cái nhìn của Thạch Lam về hiện thục đời sống con người và xã hội thời bấy giờ.
Trong khi Vũ Trọng Phụng thẳng thừng bảo rằng đó là một “xã hội chó đểu”, Nam
Cao không phát ngôn trực tiếp mà cô đặc xã hội trong bức tranh làng Vũ Đại đầy
những cảnh trái ngang phi lí, còn Nguyễn Tuân gọi đó là xã hội “ối a ba phèng” , thì
Thạch Lam phản ánh xã hội một cách nhẹ nhàng, kín đáo – phản ánh qua cái không
gian nửa thành thị nửa nông thôn nghèo nàn, buồn tẻ. Vậy là, cái đẹp của không gian
phố huyện không chỉ ở cảnh và người, mà còn ở giá trị thẩm mĩ mà nhà văn gửi gắp
trong không gian ấy. Qua bức tranh phố huyện – một bức tranh đẹp và man mác
buồn như chính cuộc sống con người nơi đây, Thạch Lam vừa phản ánh được
hiện thực đời sống tối tăm, bế tắc, vừa thể hiện được nỗi niềm thương cảm sâu
xa của mình đối với những kiếp sống mòn mỏi, và thái độ nâng niu, trân trọng
đối với những tâm hồn trẻ thơ. Đồng thời, cũng qua đó tác giả đã gửi đến người
đọc một thông điệp: hãy mở rộng tấm lòng thương yêu, trân trọng, và nâng niu
20

đối với những mảnh đời tối tăm, bé nhỏ, đặc biệt là những tâm hồn trẻ thơ,
đừng để ước mơ của chúng bị vùi lấp vào đêm tối.
Hai đứa trẻ đặc biệt hấp dẫn người đọc bởi cái đẹp của lòng người và
tình đời. Thạch Lam đã rất tinh tế khi khai thác những cảm xúc, cảm xác hết
sức tế vi trong thế giới tâm hồn con người, đặc biệt là tâm hồn nhạy cảm của
nhân vật Liên. Không gian buồn và cuộc sống nghèo khổ của phố huyện trong

Tí bên ngọn đèn leo lét, vợ chồng bác Xẩm với mấy tiếng đàn bầu bật trong yên
lặng… Những kiếp sống nghèo khổ, leo lắt, nhưng bóng đêm không dập tắt hy
vọng trong họ. Cuộc sống của họ dẫu nghèo, vất vả nhưng tâm hồn họ vẫn ấm cúng
lạ thường. Trong đêm khuya, những con người nghèo khổ ấy chụm đầu bên nhau,
cùng mong đợi một cái gì tươi sáng hơn. Sự nhẫn nại chờ đợi đoàn tàu đến đã thể
hiện cái khát vọng cao đẹp ấy. Chuyến tàu đi qua phố huyện có ý nghĩa biểu tượng
cho cuộc sống tươi sáng đẹp đẽ, lấp đi khoảng trống trong tâm hồn người, nuôi
dưỡng ước mơ hy vọng về tương lai. Có lẽ chính vì vậy mà dù chỉ vụt qua trong
chốc lát nhưng chuyến tàu như khiến cả phố huyện thoát ra khỏi cái không khí tù
đọng vốn có và con người lại lặng theo những mơ tưởng mơ hồ.
Như vậy, cái đẹp trong Hai đứa trẻ là cái đẹp của khung cảnh thiên
nhiên, của con người lao động nghèo khổ nhưng ăm ắp tình yêu thương, sự cảm
thông chia sẻ, là kỷ niệm về tuổi thơ tươi đẹp và khát vọng về ngày mai tươi
sáng hơn. Qua tâm trạng của Liên, qua nỗi lòng ngóng đợi đoàn tàu của chừng
ấy người nơi phố huyện, Thạch lam đã cho người đọc thấy rằng: cuộc sống tối
tăm, tù túng và đơn điệu không giam hãm được tâm hồn luôn khát khao ánh
sáng của con người nơi phố huyện nghèo. Họ nghèo về vật chất nhưng lại giàu
có về tinh thần, họ sống khổ nhưng tâm hồn vẫn ấm cúng, vẫn lạc quan tin
tưởng và luôn hy vọng vào tương lai.
Qua cái đẹp của cảnh, của người Thạch lam còn gửi đến người đọc một
thông điệp mang tính thời đại: hãy nâng niu, trân trọng những tâm hồn trẻ thơ,
những khát vọng chân chính của người dân nghèo, đừng để ước mơ khát vọng của
họ bị vùi lấp trong bầu trời đen tối. Truyện ngắn Hai đứa trẻ vì thế có thể xem như
một minh chứng cho quan niệm của Thạch Lam: “văn chương là một thứ khí giới
thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối
và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn” [4].
22

4.2. Nguyễn Tuân: từ “Chữ người tử tù” đến “Người lái đò Sông Đà”
Chữ người tử tù là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật

hành động của một viên quan coi ngục đối với một phạm nhân tử tù, mà đó là
thái độ và hành động của một con người có lương tâm trong sáng trước cái đẹp,
cái tài và cái tâm sáng ngời nơi Huấn Cao. Trong cảnh cho chữ, vẻ đẹp tài hoa
của Huấn Cao tỏa sáng, khiến cho viên quản ngục “khúm núm”, còn thầy thơ
lại thì “run run”, vừa vì vui mừng vừa vì kính phục.
Vậy là, trong không gian tù ngục tối tăm bẩn thỉu, cái tài cái đẹp vẫn tỏa
sáng. Miêu tả Huấn Cao với tài viết chữ đẹp, Nguyễn Tuân đã thể hiện một đặc
điểm trong phong cách nghệ thuật của mình, đó là luôn khám phá con người ở
phương diện tài hoa nghệ sĩ.
Thứ hai, Huấn Cao là người có vẻ đẹp khí phách phi thường. Vẻ đẹp khí
phách mạnh mẽ, phi thường, hiên ngang bất khất của nhân vật Huấn Cao cũng
được nhà văn giới thiệu ngay từ đầu tác phẩm, trước khi Huấn Cao xuất hiện,
qua lời đối thoại giữa viên quản ngục và thầy thơ lại: “người ta đồn Huấn Cao,
ngoài cái tài viết chữ tốt, lại còn có tài bẻ khóa và vượt ngục nữa”, Huấn Cao là
người “văn võ đều có tài cả”, “giả sử tôi là đao phủ, phải chém những người
như vậy, tôi nghĩa mà thấy tiêng tiếc”.
Khi vừa đến cửa đề lao, trước mặt lính áp dải, “Huấn Cao lạnh lùng,
chốc mũi gông nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá
tảng đánh thuỳnh một cái”. Hành động ấy gợi cho người đọc liên tưởng đến
hành động của những bặc anh hùng Chọc trời khuấy nước mặc dầu / Dọc
ngang nào biết trên đầu có ai (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Trong thời gian ở nhà
lao, Huấn Cao thản nhiên hưởng sự biệt đãi của thầy trò viên quản ngục, lại còn
chửi mắng, khinh bỉ họ. Huấn Cao biết rằng ông có thể sẽ bị những trận đòn roi và
sự tàn bạo của quan coi ngục, nhưng ông không hề sợ hãi. Với ông “đến cái cảnh
chết chém ông còn chẳng sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này”.
Là tử tù, nhưng trong nhà lao, Huấn Cao vẫn sống ung dung, đường
hoàng, không chút vướng bận. Mặc dù cổ đeo gông, chân vướng xiềng nhưng
ông vẫn say sưa cho chữ viên quản ngục, không hề nghĩ đến cái chết đang cận
kề. Khi nghe thầy thơ lại thông báo việc ngày mai phải về kinh chịu án tử hình,
Huấn Cao vẫn bình thản. Trước khi cho chữ viên quản ngục, Huấn Cao đã nói

cuộc sống tối tăm, và kín đáo bộc lộ tấm lòng yêu nước thiết tha của nhà văn.
25

Nói thêm về viên Quản ngục, về vị trí xã hội, Quản ngục là người mang
chức phận cai tù, sống giữa gông xiềng và tội ác, luôn phải chứng kiến những
cảnh tàn nhẫn, lừa lọc. Cảnh sống ấy dễ đẩy con người vào bùn nhơ. Thế nhưng
trong chốn tù ngục tối tăm ấy, viên quản ngục vẫn xuất hiện như một thanh âm
trong trẻo giữa chốn hỗn loạn xô bồ. Quả đúng là “Gần bùn mà chẳng hôi tanh
mùi bùn” (ca dao). Trong cảnh ngục tù, viên quản ngục luôn ý thức rõ về bản
thân: “cỏi thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”, và ông luôn day dứt vì đã chọn
nhầm nghề. Điều đặc biệt là đối lập với công việc quản ngục, nhân vật này lại
có một sở nguyện hết sức thanh cao, đó là thèm có được chữ Huấn Cao để treo
trong nhà như một báu vật. Mặc dù phải làm cái công việc biểu trưng cho tội ác
và sự tàn nhẫn, nhưng viên quản ngục lại rất biết quý trọng, nâng niu cái tài cái
đẹp, khát khao cái đẹp, lo sợ đánh mất cái đẹp, bất chấp cả sự nguy hiểm đến
tính mạng chỉ vì cái đẹp. Hành động biệt đãi của viên quản ngục đối với Huấn
Cao suốt nửa tháng trời đủ nói lên điều đó. Trước lời khuyên của Huấn Cao, viên quản
ngục đã khúm núm vái lạy, nước mắt nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Cái
vái lạy và dòng nước mắt không làm viên quản ngục nhỏ bé, thấp hèn. Trái lại, càng
làm cho nhân cách của nhân vật này trở nên cao đẹp và sáng ngời hơn. Quả đúng như
Nguyễn Tuân đã viết trong truyện: “Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn
nhẫn, bằng lừa lọc, tính cách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của
viên quan coi ngục này là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc
luật đều hỗn loạn xô bồ”.
Quản ngục khác với Huấn Cao về vị thế xã hội, nhưng lại là tri âm tri kỉ
với Huấn Cao về tâm hồn, họ đều là những người có lương tâm trong sáng, biết
quý trọng và nâng niu cái đẹp. Nếu Huấn Cao là người sáng tạo ra cái đẹp, thì
viên Quản ngục là người hướng về cái đẹp, hưởng thụ và nâng niu cái đẹp.
Chính sự gặp gỡ ấy đã đưa hai con người vốn xa nhau về địa vị xã hội đến gần
nhau, trở thành tri âm tri kỉ của nhau. Qua hai nhân vật Huấn Cao và viên Quản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status