SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
" LÀM THẾ NÀO ĐỂ TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN NGỮ
VĂN THCS CHO HỌC SINH"
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hiện nay, tình trạng học sinh chây lười học bài trở nên phổ biến nhất là đối với các
môn khoa học xã hội nói chung và môn Ngữ văn nói riêng.Trong giờ học, các em luôn có
những biểu hiện tiêu cực như: ít phát biểu, khả năng đọc bài yếu kém, khả năng diễn đạt
trong quá trình làm bài lủng củng, thiếu mạch lạc và hành văn không mang tính văn
chương. Đặc biệt là kỹ năng trình bày bài luyện nói trước tập thể của các em rất yếu kém:
không tự tin và tác phong không nghiêm túc.
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
1/ Cơ sở lý luận:
Trước thực trạng đó gióa viên không nên chán nản, bỏ cuộc và đổ tất cả lỗi cho học sinh.
Người xưa có câu: “Tiên trách kỷ-hậu trách nhân”, muốn trách người thì phải trách mình
trước! Tôi nghĩ rằng mỗi giáo viên cần xem lại phương pháp dạy của mình, cách thức
truyền đạt kiến thức của mình đến học sinh. Quan trọng là thái độ của người dạy đối với
người học như thế nào trong những tình huống người học có lỗi như: không thuộc bài,
không làm bài, làm chuyện riêng, phát biểu linh tinh…Nói chung là phải có lòng bao
dung, vị tha, phải đứng trên quan điểm khách quan, có sự nghiên cứu tìm ra giải pháp để
lôi cuốn học sinh đến gần hơn và yêu thích hơn với bộ môn.
2/ Cơ sở thực tiễn:
Trong học tập là thế, nhưng các em lại rất hiếu động và dễ bị ảnh hưởng bởi những hoạt
động mới lạ. Chính vì thế mà các em dễ bị sa vào các trò game... Khi bàn luận về vấn đề
phim ảnh, những vấn đề vui chơi của giới trẻ thì các em lại rất hào hứng và ngôn ngữ sử
dụng phần nhiều là tiếng lóng, từ ngữ sử dụng không đúng chính tả mà là ngôn ngữ của
“chat” trên mạng như: “pít rùi” (biết rồi); “h’ nèy” (giờ này); “cug” (cũng); “lun” (luôn);
“zậy” (vậy); “bùn wá” (buồn quá); “phẽ ko” (khỏe không)…
38
02
08
26
02
/
9A2
42
01
05
29
06
01
TC:
80
chọn đề tài nghiên cứu: “Một số sáng kiến-kinh nghiệm nhằm giúp học sinh hứng thú
với môn Ngữ văn”.
3.1-Hoạt động chính khóa “EM TẬP LÀM GIÁO VIÊN TƯƠNG LAI”
a) Đăng ký danh sách:
- Mỗi tổ sẽ đề cử từ một đến hai học sinh tham gia thuyết trình (tất cả học sinh còn lại
vẫn soạn bài theo quy định).
- Học sinh được chọn phải có thái độ, tác phong học tập nghiêm túc để việc soạn bài,
trình bày bài soạn đạt kết quả tốt.
b) Đăng ký văn bản:
- Sau khi đã có danh sách, các em thảo luận để đưa ra sự thống nhất về việc lựa chọn văn
bản nhằm mục đích cùng soạn và cùng trình bày một văn bản.
- Thời gian cho các em chuẩn bị soạn bài ít nhất phải là một tuần.
c) Công việc chuẩn bị:
- Sau khi các em đã soạn xong, giáo viên cần xem lại để giúp các em sửa chữa những lỗi
cần thiết về: từ ngữ sử dụng, cách diễn đạt. Hướng các em biết phát hiện nghệ thuật sử
dụng để từ đó triển khai nội dung.
- Hướng dẫn học sinh về tư thế, tác phong khi thuyết trình. Đặc biệt là khả năng tự tin
trước tập thể.
- Lưu ý cho các em chuẩn bị lời tự giới thiệu trước khi thuyết trình và lời chúc, lời cảm
ơn sau khi kết thúc phần trình bày.
d)Tiến hành thuyết trình :
- Thời gian cho mỗi em thuyết trình từ 7-10 phút và mỗi tiết sẽ thực hiện 3 học sinh/3 tổ.
- Trong lúc các bạn thuyết trình về bài soạn của mình, cả lớp chú ý lắng nghe, đối chiếu
với nội dung, kiến thức của bài mình soạn. Đồng thời kết hợp ghi chép lại những ưu
điểm, nhược điểm qua phần trình bày của bạn.
e) Đánh giá kết quả:
- Sau phần trình bày của các bạn, cả lớp đóng góp ý kiến để xây dựng cấu trúc bài dạy,
thống nhất về nội dung bài, chốt lại các ý chính để học sinh ghi vào vở học.
ngã
đau
- Cung cấp cho học sinh các mẹo về sử dụng dấu ngã và dấu hỏi đối với từ Hán-Việt:
+Sử dụng dấu ngã khi có phụ âm đầu là: l (dũng, dữ, dưỡng...) , l (lãm, lãnh,
lĩnh, lễ, liễu, lỗi...) , m (mẫu, mã, mẫn, mỹ, miễn...), n, nh, ng, ngh (não, ngã, ngãi, ngũ,
nghĩa, nghĩ, nghiễm...), v (vãng, vỹ, võ, vũ, võng...).
+Sử dụng dấu hỏi khi có phụ âm đầu là: ch (chuẩn, chỉnh, chuyển, chưởng...),
gi (giải, giả, giảng, giản...), kh (khải, khả, khởi, khuẩn, khẩn, khổ, khuyển...), và các từ
Hán- Việt không có phụ âm đầu như: ải, ảm, ảnh, ảo, ẩm, ấn, ẩu, ổn, uẩn, ủng, uổng, uỷ,
uyển, ỷ, yểm, yểu.
- Ghi nhớ những từ ngữ thường dễ mắc lỗi chính tả thông qua thơ và những đoạn văn để
dễ ghi nhớ. Ví dụ như:
+Từ “tấc” (10 cm) chỉ có một trường hợp và phụ âm cuối là “c”, đọc là “xê”:
Thước xê (c) thì tấc cũng xê
Tấc xê có một, tấc xê tới mười
+Từ “chặt” phụ âm cuối là “t”, đọc là “tê”:
Chặt là tê, tê mà thôi
Ai mà viết trật là tôi đánh đòn
+Từ “phác” phụ âm cuối là “c”, đọc là “xê”:
Cô C (xê) chất phác hiền lành
Óc luôn phác họa chương trình làm ăn
+Từ “băn khoăn” và “bâng khuâng”:
Băn khoăn ăn nói ngại ngùng
Bâng khuâng vâng dạ mà lòng quạnh hiu
+Cách nhớ các tiếng có phụ âm cuối là “c” và “t” thông qua những câu bình thường như:
.Lác đác đó đây: người mắt lác, kẻ bệnh lác, ngồi chiếu lác.
- Soạn bài theo quy định mỗi khi học bài mới.
- Tìm đọc đầy đủ các tác phẩm văn-thơ đã được học qua các đoạn trích như: “Những
ngày thơ ấu (Nguyên Hồng); “Lão Hạc” (Nam Cao), “Truyện ngắn Nam Cao”; “Tắt
đèn”; “Chiếc lá cuối cùng”; “Cô bé bán diêm”; “Lặng lẽ Sa Pa” (Nguyễn Thành Long);
“Chiếc lược ngà”(Nguyễn Quang Sáng)…Các tập thơ của các tác giả như: thơ Tố Hữu,
thơ Xuân Diệu, thơ Xuân Quỳnh, thơ Huy Cận…Tác phẩm truyện thơ Nôm như: “Truyện
Kiều” (Nguyễn Du); “Lục Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu)…
- Học thuộc lòng các tác phẩm, các đoạn trích theo yêu cầu môn học. Khích lệ các em
học thuộc lòng các truyện thơ Nôm là “Truyện Kiều” và “Lục Vân Tiên”.
b) Về phía Giáo viên:
- Yêu cầu và kiểm tra thêm Sổ tay sưu tầm văn thơ của học sinh.
- Giáo viên kiểm tra bài cũ phải kiểm tra tập soạn. Có thể giao việc cho các tổ trưởng và
phó học tập kiểm tra và báo cáo việc soạn bài của tổ viên.
- Sưu tầm và trang bị cho bản thân những quyển sách cần thiết để phục vụ cho nhu cầu
của việc dạy. Khi yêu cầu học sinh thực hiện thì bản thân giáo viên phải gương mẫu trong
việc sử dụng tốt tư liệu và đồ dùng dạy học.
- Cung cấp cho các em những mẩu chuyện có liên quan đến điển tích, điển cố, thành
ngữ…của các bài học có trong chương trình.
Ví dụ:
- Các tiết “Tổng kết về từ vựng” và “Trau dồi vốn từ” có một số từ ngữ khó liên quan
đến điển tích hay như:
+Tri âm (tri: biết, âm: âm thanh). Có tích từ truyện “Bá Nha-Tử Kỳ”: Khi Bá Nha đánh
đàn, diễn tả tâm tư, tình cảm, cảnh vật thông qua tiếng đàn, chỉ có Tử Kỳ là người biết
nghe và hiểu tiếng đàn ấy.
+Khối tình (chỉ khối máu nơi trái tim của người có tình yêu đơn phương, khi hỏa táng
hoặc khi chôn xuống đất lâu ngày vẫn không tiêu biến). Có tích từ truyện “Người lái
buôn” của Trung Quốc và truyện Trương Tri-Mỵ Nương của Việt Nam.
…
Mua vui cũng được một vài trống
canh
3-“Truyện Kiều em học đã nhiều
3-Làm cho cho mệt cho mê
Đố em đọc được câu Kiều năm “cho”?
Làm cho dan díu ê chề cho coi
4-“Truyện Kiều có mấy ngàn câu
4-Câu này có khó gì đâu
Em mà nói được là người nhớ lâu?”
Ba hai năm bốn nhớ ngay nói liền!
………………………..
(3 254 câu)
3.4- Hoạt động về nguồn: “THAM QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ”
Mộ cụ
Phan Văn Trị -Phong Điền
Chùa Ông –Ninh Kiều
- Giới thiệu được những quyển sách mới về của thư viện trường.
- Ghi chép những câu ca dao, thành ngữ, tục ngữ và những câu nói hay...
*Mục đích:
- Rèn luyện khả năng diễn đạt trôi chảy
tiếp với mọi đối tượng trong cuộc sống hàng
trong giao
ngày.
- Khả năng phát biểu lưu loát trong giờ học
biểu trước tập thể.
và
- Hình thành kỹ năng tự tin trước đông
người…
*Biện pháp thực hiện:
a) Về phía Học sinh:
- Tóm tắt các văn bản tự sự đã học trong lớp.
- Chuyên cần luyện tập tóm tắt văn bản.
phát
- Hăng hái xung phong trong các giờ luyện nói trên lớp. Mạnh dạn đăng ký tuyên truyền
giới thiệu sách do Thư viện trường, của Phòng GD&ĐT huyện phát động.
b) Về phía Giáo viên:
- Thực hiện tốt và đầy đủ các giờ luyện nói về tóm tắt văn bản trên lớp.
- Điểm của các em cũng được khích lệ hơn và đặc biệt là tránh không - Điểm kiểm tra bài
cũ của các em ở mỗi cột là điểm trung bình của từ ba đến năm cột điểm. Mục đích là để
theo dõi quá trình tiến bộ của các em, kịp thời nhắc nhở và động viên.
- Nên có sơ-tổng kết bộ môn ở từng giai đoạn nhằm kịp thời tuyên dương, khen thưởng
những học sinh đạt thành tích cao trong bộ môn, luôn cả những em có sự tiến bộ trong
học tập.
4/ Hiệu quả:
Các hoạt động trên tôi vừa áp dụng vào đầu năm học và mới thí điểm ở lớp 9A1, 9A2.
Qua quá trình thực hiện tôi rút ra được kinh nghiệm như sau:
- Đối với hoạt động: “Em tập làm giáo viên tương lai”, các em rất hứng thú với việc đăng
ký thuyết trình bài soạn. Có em đã cố gắng thuộc lòng bài để thuyết trình một cách lưu
loát bài soạn của mình.
- Mỗi học sinh thuyết trình đều cố gắng thể hiện tốt năng lực của mình. Em thực hiện sau
rút kinh nghiệm thực hiện tốt hơn em thực hiện trước.
- Những em không thực hiện đều có sự hiếu kỳ, rất chú ý quan sát cách thực hiện của các
bạn.
- Kết thúc tiết học, các em được khắc sâu kiến thức vì được nghe thuyết trình nhiều lần.
Nhất là đối với các em thuyết trình thì hiểu bài, nhớ bài và có ấn tượng về bài học mà bản
thân mình đã có dịp trình bày trước lớp.
- Những hoạt động ngoại khóa, hoạt động hỗ trợ cho việc học môn văn, học sinh cũng
được học sinh nhiệt tình hưởng ứng. Trong các buổi báo cáo thi đua củ các lớp trong sinh
hoạt dưới cờ, phát biểu cảm nghĩ trong các buổi lễ, tuyên truyền giới thiệu sách…Khả
năng thuyết trình của các em có tiến bộ rõ rệt, tự tin và phong cách cũng trở nên chững
chạc hơn.
- Trong giờ ra chơi, các em thích đến thư viện để tranh thủ đọc sách báo. Kết quả của
tuyên truyền giới thiệu sách mỗi năm đều có học sinh tham gia và được công nhận.
- Việc tham quan học tập ngoại khóa cũng được học sinh đăng ký nhiều hơn.
- Các cuộc thi do Huyện đoàn triển khai, phát động đều được các em tham gia đầy đủ
như: viết thư UPU, Nét bút tri ân…
- Các em đã bắt đầu tham gia viết báo (Có 2 bài viết của 2 học sinh được đăng trên đặc
/
/
9A2
42
03
07
32
/
/
TC:
80
03
13
55
08
- Đối với Tổ thư viện, mong được bổ sung những loại sách có trong chương trình học đê
các em tham khảo.
* Kế hoạch năm sau:
- Tiếp tục thực hiện những kinh nghiệm đã đúc kết được trên cơ sở có bổ sung và điều
chỉnh các hoạt động.
- Hướng nghiên cứu và phát triển của đề tài trên là tôi sẽ biên soạn một quyển sách về
những mẹo vặt để viết đúng chính tả dưới dạng văn vần, cho các em dễ thuộc, giúp học
sinh tránh được những lỗi chính tả thường gặp.
*Tài liệu tham khảo:
1- Từ điển tiếng Việt ( Các tác giả: Nguyễn Như Ý, Đỗ Việt Hùng, Phan Xuân
Thành).
2- Từ điển Hán-Việt (Tác giả Đào Duy Anh).
3- Những điển tích hay trong Truyện Kiều (Tác giả Phạm Đan Quế-sưu tầm và biên
soạn).
Ý kiến đánh giá, nhận xét:
Ngày 25 tháng 10 năm 2011
Giáo viên thực hiện