Đề tài cảm hứng thiên nhiên trong sáng tác của trần nhân tông và huyền quang dưới góc nhìn so sánh - Pdf 34

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:
Những nội dung được trình bày trong luận văn là nghiên cứu của
riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Đoàn Thị Thu Vân.
Mọi tham khảo và trích dẫn sử dụng trong luận văn đều ghi nguồn
gốc cụ thể (tên tác giả, tên công trình, thời gian công bố).
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
Học viên
Đinh Thị Đào


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể thầy cô khoa Ngữ
Văn, phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã tận
tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường.
Nhân đây, tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên và chia sẻ với tôi những khó khăn.
Đặc biệt, xin gửi lời tri ân sâu sắc nhất tới PGS. TS. Đoàn Thị Thu Vân,
người thầy đã tận tâm hướng dẫn và góp ý cho tôi để hoàn thiện luận văn
này.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2015
Học viên
Đinh Thị Đào


MỤC LỤC
Trang bìa phụ
LỜI CAM ĐOAN........................................................................................1

3.2. Những nét dị biệt..............................................................................................107

KẾT LUẬN..............................................................................................117
TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................119


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trần Nhân Tông và Huyền Quang được biết đến là hai nhà Thiền học
lớn của dân tộc. Trần Nhân Tông trước hết là một vị vua tài ba, người đã lãnh
đạo quân dân nhà Trần hai lần đánh bại vó ngựa hung bạo của giặc Nguyên Mông. Trần Nhân Tông còn là người nổi tiếng khoan hòa nhân ái và thương
dân hết mực. Dưới sự lãnh đạo của Trần Nhân Tông, triều đại nhà Trần ngày
càng ổn định và có những bước phát triển đáng kể. Sau khi đất nước đã ổn
định, đời sống nhân dân được ấm no, Trần Nhân Tông truyền ngôi lại cho con
trai là Trần Anh Tông và kể từ đây, cuộc đời của Trần Nhân Tông gắn với
nghiệp tu hành. Người chuyên tâm vào nghiên cứu Phật học, đi thuyết pháp ở
nhiều nơi và đã sáng lập ra dòng thiền Trúc Lâm. Mặc dù không xuất thân từ
hoàng tộc như Trần Nhân Tông song Huyền Quang cũng được biết đến là một
người “sinh ra vì đạo” với nguồn gốc xuất thân và cuộc đời nhuốm màu
huyền thoại. Ông là người kế tục Trần Nhân Tông và Pháp Loa, trở thành vị
tổ thứ ba của dòng thiền Trúc Lâm. Có thể nói, ngoài sự nghiệp hoằng dương
phật pháp, xây dựng và phát triển dòng thiền Trúc Lâm thành một dòng Thiền
riêng của Việt Nam, những bậc cao tăng ấy còn đóng góp vào kho tàng văn
học dân tộc những tác phẩm đặc sắc, có giá trị nghệ thuật cao. Điều đó cho
thấy, bên cạnh một thiền sư, cả hai cùng được biết đến là những nhà thơ tài
hoa. Tuy nhiên, những tác phẩm văn học của họ vẫn chưa thực sự được quan
tâm đúng mức. Điều này có thể thấy qua số lượng các công trình nghiên cứu
về Trần Nhân Tông, Huyền Quang với tư cách là nhà vua, thiền sư nhiều hơn

thịnh trị của dân tộc- thời đại Lý - Trần ngày càng lùi xa. Đó là một quy luật
của tự nhiên và tất nhiên, con người không thể níu kéo được. Nhưng những gì
là tinh hoa của thời đại ấy sẽ trường tồn cùng dân tộc, sống mãi với thời gian


3

qua những trang văn lưu lại cho đời. Vì vậy, việc nghiên cứu di sản thơ của
Trần Nhân Tông và Huyền Quang sẽ góp phần vào việc bảo tồn những di sản
văn hóa của dân tộc, làm sống dậy hào khí một thời. Nó sẽ nhắc nhở thế hệ
cháu con niềm tự hào về một dân tộc đã sản sinh ra những người con vĩ đại
như thế - những con người như Trần Nhân Tông, Huyền Quang.
Đó là những lý do để chúng tôi lựa chọn đề tài Cảm hứng thiên nhiên
trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc nhìn so sánh.
Chúng tôi mong rằng sẽ góp một phần nhỏ bé vào hành trình tìm hiểu con
người và tư tưởng của hai vị sư tổ dòng thiền Trúc Lâm
2. Lịch sử vấn đề
Đến nay, theo tư liệu văn học, có thể khẳng định rằng Cảm hứng thiên
nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc nhìn so
sánh chưa được đề cập đến trong một công trình nghiên cứu cụ thể nào. Tất
nhiên, xoay quanh cuộc đời và sự nghiệp của Huyền Quang và Trần Nhân
Tông đã có không ít công trình nghiên cứu thuộc ngành Lịch sử, Văn học,
Phật học. Tuy nhiên vì tính chất của chuyên ngành, chúng tôi chỉ khái quát
những công trình, những bài viết khai thác dưới góc độ văn học hoặc ít nhiều
có liên quan đến văn học. Dưới đây có thể kể đến những công trình, những
bài viết nghiên cứu tiêu biểu nhất.
2.1. Lịch sử nghiên cứu Trần Nhân Tông
Trần Nhân Tông là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học
bởi ông không chỉ là một vị vua sáng - người đã có công lớn trong lịch sử
chống giặc ngoại xâm của dân tộc, một thiền giả xuất sắc - tác giả của nhiều

Nếu cuốn Thiền học đời Trần nhìn nhận Trần Nhân Tông với tư cách
là một thiền giả thì cuốn Thơ Thiền Việt Nam- những vấn đề lịch sử và tư


5

tưởng nghệ thuật của nhà nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng còn khai thác dưới
góc độ là một thi sĩ mà ông gọi là thi sĩ Thiền. Tác giải nhấn mạnh đạo và đời
trong ông thật là “vô phân biệt” đều có đều không thông qua việc phân tích
một bài thơ đặc sắc của Trần Nhân Tông - Thiên Trường vãn vọng. Trần Thị
Băng Thanh trong Những nghĩ suy từ văn học trung đại đã tiến thêm một
bước khi tìm hiểu về Trần Nhân Tông. Tác giả đã chỉ ra rằng núi Yên Tử vừa
là nơi di dưỡng tinh thần vừa là nơi khơi nguồn cảm hứng cho những sáng tác
của Trần Nhân Tông. Thiên nhiên tươi đẹp, thơ mộng trữ tình nơi đây đã hòa
quyện với tâm hồn nhạy cảm tinh tế tạo nên những tác phẩm mà ở đó “Nhân
Tông hiện ra hầu như trọn vẹn với tư cách nhà thơ”. Trong cách cảm nhận về
thiên nhiên, thật khó để có thể phát hiện được đó là xúc cảm của một thiền sư.
Chẳng hạn trong những cảm nhận của ông về hoa mai, nhà nghiên cứu Trần
Thị Băng Thanh viết “Có biết bao nhà thơ phương Đông đã vịnh hoa mai
nhưng Nhân Tông vẫn đến với hoa mai bằng những rung cảm riêng vừa thâm
trầm tinh tế, vừa sắc sảo nồng nàn”.
Bài nghiên cứu của Phạm Ngọc Lan - Trần Nhân Tông- cảm hứng
Thiền trong thơ được in trong tạp chí Văn học số 4/ 1992 cũng là một trong
những bài viết đáng chú ý. Chỉ với vẻn vẹn bốn trang viết nhưng người đọc đã
có thể hình dung khá trọn vẹn về Trần Nhân Tông. Tác giả bài viết cũng
khẳng định Trần Nhân Tông không chỉ là một vị vua sáng, một thiền sư lỗi
lạc mà còn là một nhà thơ có phong cách. Thơ ông là sự kết hợp hài hòa con
người thiền sư và con người thi nhân. Bài viết khai thác chất Thiền trong thơ
Trần Nhân Tông, đặc biệt những bài thơ viết về thiên nhiên. Tác giả chỉ rõ đó
là sự cảm nhận tinh tế, sâu lắng trước thiên nhiên. Thiên nhiên không ồn ào

một kiến trúc nhìn bề ngoài là một khối đơn giản nhưng càng đi càng phát
hiện nhiều tầng lớp ý nghĩa, cảm xúc ở cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Có thể


7

nói, nếu ví bài thơ như một ẩn số mà người đọc luôn luôn tìm cách giải mã thì
cách giải mã của bài viết này thật “tinh tế và nhạy bén” biết bao.
Trên đây, chúng tôi đã tóm lược ngắn gọn nhất các công trình nghiên
cứu về Trần Nhân Tông trên phương diện văn học. Ngoài ra, Trần Nhân Tông
còn được nghiên cứu ở một số sách, bài báo khoa học, luận văn. Có thể kể
đến:
- Trần Thị Hồng Y (2003), Tìm hiểu thơ các vua thời thịnh Trần (Từ
Trần Thái Tông đến Trần Minh Tông), Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn,
Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.
- Trần Lý Trai (2008), Giá trị văn học trong tác phẩm của thiền phái
Trúc Lâm, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Khoa học xã hội
và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh
- Nguyễn Lang (1979), Việt Nam Phật giáo sử luận (tập 1), NXB Văn
học Hà Nội.
2.2. Lịch sử nghiên cứu Huyền Quang
Huyền Quang trước hết là một thiền sư lỗi lạc. Vậy nên với tư cách là
một thiền giả, ông xuất hiện nhiều trong các công trình, bài viết nghiên cứu về
thiền học. Còn với tư cách là một nhà thơ, số lượng bài nghiên cứu về Huyền
Quang còn khá hạn chế và với quy mô nhỏ. Cho đến nay, cuốn sách được coi
là đầy đủ nhất về Huyền Quang là cuốn Huyền Quang - cuộc đời, thơ và đạo
do nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh chủ biên. Cuốn sách tập hợp nhiều
bài viết đã cho người đọc một cái nhìn hệ thống về cuộc đời và sự nghiệp thơ
ca của ông. Trong phần cuối của cuốn sách, tác giả đã liệt kê một thư mục khá
đầy đủ các bài nghiên cứu, sưu tầm, đánh giá cùng các giai thoại xoay quanh

ngôn mà hàm ngôn, không kể tâm trạng mà mượn cảnh ngụ tình…”. Đó thực
sự là những trang viết rất sâu sắc mà ở đó, tác giả cho thấy một Huyền Quang


9

với những tâm sự, những cảm xúc cá nhân và cả những suy tư trăn trở trước
cuộc đời.
Bài viết Huyền Quang- nhà sư thi sĩ của Nguyễn Phương Chi có thể
coi là một trong những bài viết đầu tiên nghiên cứu Huyền Quang với khía
cạnh một nhà thơ. Bài viết được đăng trên Tạp chí Văn học năm 1982 gây chú
ý bởi chất văn mượt mà nhẹ nhàng mà sâu lắng, cách cảm nhận văn chương
rất tinh tế, có những phát hiện thú vị. Dưới góc độ là người nghiên cứu những
thi phẩm viết về thiên nhiên của Huyền Quang, chúng tôi coi đây là người đã
đặt nền tảng cho công trình nghiên cứu của mình. Chỉ với khoảng một trang
viết, tác giả đã phần nào giải mã được con người nhà thơ - một “cái tôi” chủ
thể. Đối với Huyền Quang, thiên nhiên không chỉ như là cái nó vốn có mà
“Thiên nhiên trở thành người bạn cởi mở, chân tình, là nơi nhà thơ có thể giãi
bày tâm trạng, thổ lộ cảm xúc của mình không chút ngại ngần”
Có lẽ là thiếu sót nếu không kể đến các bài nghiên cứu của các thiền
sư về Huyền Quang thi sĩ. Có thể kể đến cuốn Thiền học đời Trần. Cuốn sách
tập hợp 28 bài viết về các thiền sư đời Trần từ những người đặt nền móng như
Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ đến những người có vai trò phát triển
như Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang. Trong đó có bốn bài viết về
thiền sư Huyền Quang. Những bài viết này tập trung xoay quanh những
“điểm mờ” trong thân thế đồng thời cũng khẳng định giá trị văn học to lớn
trong các sáng tác của ông. Ngoài ra cũng cần kể đến bài viết của thiền sư
Thích Phước An Huyền Quang và con đường trầm lặng của mùa thu đăng
trên Tạp chí Văn học số 4, năm 1992.
Đoàn Thị Thu Vân khi viết Con người nhân văn trong thơ ca Việt



11

- Lê Từ Hiển (2005), “Basho, Huyền Quang- Sự gặp gỡ với mùa thu hay
sự tương hợp về cảm thức thẩm mỹ”, Tạp chí văn học (7).
Bao quát chung về thiền phái Trúc Lâm có thể kể đến những đóng góp
của Trần Lý Trai (Thích Phước Đạt) trong luận án Tiến sĩ mang tên Giá trị
văn học trong tác phẩm của thiền phái Trúc Lâm (2008). Luận án đã bao quát
được những giá trị văn học cơ bản trong các tác phẩm của những tên tuổi nổi
bật trong dòng thiền này như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Tung,
Trần Nhân Tông, Huyền Quang… Theo đánh giá chủ quan của chúng tôi, đây
là một công trình nghiên cứu công phu không chỉ có giá trị Phật học mà còn
có giá trị lớn về văn học. Tác giả đã chỉ ra những tư tưởng thiền học đồng thời
cũng làm rõ những cảm hứng chủ đạo, những giá trị nghệ thuật của các tác
phẩm này. Trong công trình này, tác giả đã dành khoảng 7 trang viết về cảm
hứng cõi thiên nhiên và thiên nhiên mà đề tài khai thác là thiên nhiên được
nhìn qua lăng kính của những nhà thiền học, “thiên nhiên mang tính biểu
tượng bởi một cảm quan Phật giáo Thiền tông”.
Trên đây, chúng tôi đã khái quát lịch sử nghiên cứu về Trần Nhân
Tông và Huyền Quang dưới góc độ văn học. Có thể khẳng định rằng, cảm
hứng thiên nhiên trong sáng tác của Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới
góc nhìn so sánh chưa được đề cập đến trong một công trình nghiên cứu cụ
thể nào. Chính vì vậy, chúng tôi sẽ đi sâu về vấn đề trên để làm rõ cảm hứng
thiên nhiên trong sáng tác của mỗi thiền sư đồng thời bước đầu so sánh chủ đề
này trong thơ ca của họ nhằm khám phá tâm hồn Trần Nhân Tông, Huyền
Quang qua thơ ca.


12

5. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ
yếu sau:
- Phương pháp thống kê: chúng tôi tiến hành thống kê số lượng tác
phẩm lấy cảm hứng thiên nhiên nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu cảm hứng
thiên nhiên trong các tác phẩm của họ.
- Phương pháp phân tích tác phẩm văn học: đây là phương pháp được
sử dụng chủ yếu khi khái quát, lí giải sự tương đồng và sự dị biệt trong cảm
hứng thiên nhiên của hai tác giả.
- Phương pháp so sánh: sử dụng phương pháp này so sánh, đối chiếu
để chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt trong cảm hứng thiên nhiên của hai
tác giả. Đây là một trong những phương pháp nghiên cứu chính của luận văn.
- Phương pháp hệ thống: phương pháp này giúp chúng tôi có cái nhìn
khái quát về đề tài nghiên cứu.
Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn sử dụng thêm phương
pháp liên ngành (vì đề tài liên quan đến Lịch sử, Triết học, Phật học).
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn tìm hiểu Trần Nhân Tông và Huyền Quang dưới góc độ là
những thiền sư thi sĩ. Vì vậy, thông qua việc phân tích, so sánh di sản thơ của
hai tác giả này, chúng tôi sẽ góp phần hiểu thêm về con người, tư tưởng của
những nhân cách lớn Trần Nhân Tông, Huyền Quang. Luận văn cũng có thể


14

xem như tài liệu tham khảo tốt phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về
Trần Nhân Tông, Huyền Quang và thơ Thiền Lý - Trần.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có ba
chương:

mà thôi. Như vậy, nét đặc biệt của những người làm nghệ thuật đó chính là
những rung động trong tâm hồn. Chính những rung động đó mới tạo ra những
tác phẩm nghệ thuật thực sự có giá trị…
Cảm hứng là một khái niệm không còn xa lạ đối với những người
nghệ sĩ bởi chính nó đã tạo nên phần hồn cho tác phẩm nghệ thuật. Dù có cố
gượng ép, nhưng nếu không có cảm xúc thì người nghệ sĩ chỉ tạo ra những tác
phẩm có xác mà không hồn. Ngô Thì Nhậm đã từng viết “Hãy xúc động cho
ngọn bút có thần” có lẽ là vì thế. Vậy cảm hứng là gì? Từ xa xưa cho đến nay,
có thể nói có bao nhiêu người nghiên cứu là có bấy nhiêu khái niệm nhưng
tựu trung lại có thể hiểu cảm hứng hay cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình
cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư
tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của
những người tiếp nhận tác phẩm. Bê-lin-xki coi cảm hứng chủ đạo là điều
kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “biến


16

sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư
tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành” [9, tr.45]. Như vậy,
khái niệm này dùng để chỉ trạng thái cảm xúc của người nghệ sĩ trước một
hiện tượng trong đời sống mà hiện tượng này được coi như suối nguồn đam
mê, thích thú, thôi thúc họ sáng tạo nghệ thuật. Chính giây phút xuất thần ấy,
người nghệ sĩ được thăng hoa và tác phẩm là tinh hoa của trạng thái thăng hoa
đó. Nói một cách hình tượng như Nguyễn Quýnh trong lời tựa tập Tây hộ
mạn hứng của Ninh Tốn1 “Người như sông biển, chữ như nước, hứng thì như
gió. Gió thổi tới sông biển cho nên nước lay động làm thành gợn, thành sóng,
thành ba đào. Hứng chạm vào người ta cho nên như nổi dậy, không thể nín
được sinh ra trong lòng, ngâm vịnh ngoài miệng, viết nên ở bút nghiên giấy
mực”.

cuộc nội chiến thì cảm hứng yêu nước không còn nữa thay vào đó là cảm
hứng thế sự với những tác phẩm phản ánh tệ lậu và tình trạng suy thoái về đạo
đức trong xã hội (Thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyền kì mạn lục của
Nguyễn Dữ…). Đến cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, con người được đặt
vào vị trí trung tâm đặc biệt là người phụ nữ nên hình ảnh người phụ nữ xuất
hiện nhiều trong văn học. Nhà văn lên tiếng bênh vực, đòi quyền sống, quyền
hạnh phúc lứa đôi cho họ. Hàng loạt tác phẩm được viết ra trong bối cảnh đó
như Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm), Truyện Kiều
(Nguyễn Du), Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều)…
Cũng cần phải thấy rằng, dù cho người nghệ sĩ có cảm hứng giống
nhau nhưng mỗi người sẽ cảm nhận theo cách riêng của mình. Chẳng hạn,
cùng viết về mùa thu nhưng mùa thu với muôn hình vạn trạng. Mỗi bài thơ
đem đến cho ta một dư vị riêng. Mùa thu của Nguyễn Khuyến trong trẻo, nhẹ
nhàng với màu xanh đặc trưng “các điệu xanh” (Xuân Diệu). Thu trong thơ
Bích Khê lại ngập tràn sắc vàng buồn vương
Ơ hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! vàng rơi: Thu mênh mông
(Tỳ bà)
Còn với nhà thơ Hữu Thỉnh, thu gắn liền với những gì rất mong manh,
mơ hồ, những khoảnh khắc…
Bỗng nhận ra hương ổi


18

Phả vào trong gió se
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về
(Sang thu)
Tóm lại, cảm hứng là trạng thái say mê mãnh liệt của người nghệ sĩ

thường. Câu thơ viết về vầng trăng này có lẽ cho đến ngàn năm sau vẫn
không thể nào quên.
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi
(Ca dao)
Vẫn là thiên nhiên ấy nhưng trong thơ Thiền, thiên nhiên vừa là nó
nhưng đồng thời vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho triết lý Thiền. Vầng trăng
đẹp sáng trong hiền hòa kia còn là biểu tượng cho trí tuệ bát nhã của con
người đạt đạo. Một đóa hoa mai buổi sớm trỗi dậy nở ra thật đẹp, khoe sắc khi
những bông hoa khác đã tàn tạ héo úa, khi tiết xuân không còn… thật bình
thường nhưng lại mang trong nó những triết lý vô cùng.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
(Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai)
(Cáo tật thị chúng- Mãn Giác)
Nếu trong thơ Thiền, thiên nhiên là biểu tượng cho triết lý thì trong
thơ Nho, thiên nhiên mang cốt cách của người quân tử. Thi nhân thường
mượn hình ảnh thiên nhiên để bộc lộ khí phách của bản thân. Hình ảnh tùng,
cúc, trúc, mai là những hình ảnh quen thuộc trong thơ ca thời kỳ này. Những
hình ảnh ấy xuất hiện nhiều trong thơ ca Nguyễn Trãi, đặc biệt trong tập thơ
Nôm Quốc âm thi tập. Nguyễn Trãi ví mình như cây trúc, cây mai, cứng cỏi
mà thanh cao
Vườn quỳnh dầu chim kêu hót
Cõi trần có trúc đứng ngăn
(Tự thán- Bài 40)
Tất nhiên đối với người anh hùng ấy, thiên nhiên không chỉ là nơi để
bày tỏ khí tiết thanh cao, vững vàng mà đó còn là bến đậu cho tâm hồn ngày



Muôn dặm biếc mông lung,
Ta thảnh thơi nằm nghỉ bên trong…)
(Bài ca Côn Sơn)
Tuy nhiên có thể khẳng định, cho dù là phương tiện để chuyển tải nội
dung khác nhưng thiên nhiên trước hết là thiên nhiên, là vẻ đẹp của chính nó.
Ngay cả đến giai đoạn văn học hiện đại sau này cũng vậy, thi nhân mượn
cảnh để tả tình nhưng đó là những bức tranh đẹp mang hồn dân tộc. Thiên
nhiên đất nước thật thơ mộng dưới ngòi bút đầy phóng túng của một Nguyễn


21

Tuân tài năng “Thuyền tôi trôi trên sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ.
Hình như vào đời Lý đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế
mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa.
Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp.
Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại
như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa.”
[5, tr.191]
Như vậy, thiên nhiên là đề tài muôn thuở của thi nhân ta từ xưa đến
nay. Ở mỗi thời đại, thiên nhiên còn chứa đựng trong nó những nội dung khác
nữa. Nhưng xét đến cùng, cảm hứng của người nghệ sĩ xuất phát từ vẻ đẹp
thực sự, tiềm ẩn của thiên nhiên mà người nghệ sĩ muốn hòa mình chứ không
phải xuất phát từ những triết lý khô khan, những bài học đạo đức mà người
nghệ sĩ muốn truyền giảng.
1.2. Trần Nhân Tông và Huyền Quang – Con người, cuộc đời và thơ ca
1.2.1. Trần Nhân Tông
Theo các nguồn tư liệu hiện còn, Trần Nhân Tông hay Trần Khâm
(1258 - 1308) là con đầu lòng của Trần Thánh Tông. Lúc mới sinh ra, Trần
Nhân Tông đã có khí chất khác thường. Điều này được Đại Việt sử kí toàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status