ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**************************
ĐINH THỊ NHÀN
THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHUYẾN
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**************************
ĐINH THỊ NHÀN
THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHUYẾN
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Hải Yến
HÀ NỘI - 2016
1
2.2.3. Bức tranh tứ thời trong thơ Nguyễn Khuyến ................................................. 56
2.2.4. Nơi chốn trong thơ viết về thiên nhiên của Nguyễn Khuyến .......................... 62
Chƣơng 3: "Phên giậu Hạ Di" giữa "hội Thăng Bình" ..................................... 71
3.1.Phức cảnh thời đại cựu tân qua bức tranh thiên nhiên của Nguyễn Khuyến71
3.1.1. Trạng thái “đối cảnh” và thực trạng “tương dữ/tương cảm” của “thiênnhân”trong thơ Nguyễn Khuyến ............................................................................. 71
3.1.2. Thiên nhiên đổ vỡ trong đời sống tinh thần của “hưu quan” Nguyễn Khuyến
............................................................................................................................................ 77
3.2. Một môi sinh bất an - ảnh xạ của bi kịch tinh thần ....................................... 80
3.2.1. Vị thế xuất – xử của Nguyễn Khuyến ............................................................ 80
3.2.2. Môi sinh bất an hay bi kịch tinh thần của Nguyễn Khuyến .......................... 82
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 87
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Là một phần trong đời sống của con người, từ cổ kim Đông Tây, thiên nhiên
thường là đề tài quen thuô ̣c của văn chương nghê ̣ thuâ ̣t . Quan hê ̣ này đặc biệt mâ ̣t
thiế t ở thời kì tiền hiện đại , tiền công nghiệp khi con người và thiên nhiên còn gắn
bó rất chặt chẽ với nhau . Chính vì vậy , quan sát thiên nhiên trong văn học nghệ
thuật có thể hiểu được quan niệm của người sáng tạo về thế giới bên ngoài
, cũng
[28]. Nói cách khác, sự xuất hiện của phê bình sinh thái không chỉ đem lại lợi thế
cảnh tỉnh thái độ ứng xử của con người với tự nhiên mà còn mở ra cách tiếp cận
mới trong nghiên cứu văn học. Khi nói về phê bình sinh thái trong văn chương, nhà
nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng: "Phê bình văn học sinh thái ra đời từ gợi ý sinh
thái học, khoa học nghiên cứu quan hệ tương sinh, tương tác giữa các sinh thể cùng
mối quan hệ của chúng với môi trường xung quanh. Song phê bình sinh thái thịnh
hành ở nhiều nước phương Tây hiện nay tập trung vào vấn đề dùng tư tưởng sinh
thái để đánh giá văn học trong việc biểu hiện vấn đề sinh thái, khẳng định vai trò
của tự nhiên, xét lại quan điểm con người là trung tâm thời Khai sáng." [53]. Như
vậy, sứ mệnh của phê bình sinh thái là nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, khoa học,
phương thức sống và phương thức sản xuất, mô hình phát triển xã hội của con
người đã ảnh hưởng như thế nào đến hiện tượng xấu đi của môi trường tự nhiên, đã
dẫn đến nguy cơ sinh thái. Từ đây có thể thấy, phê bình sinh thái là một khuynh
hướng mang đậm tinh thần phê phán văn hóa , nó hướng đến cải cách văn hóa tư
tưởng, thúc đẩy cách mạng phương thức sống, phương thức sản xuất, mô hình phát
triển, xây dựng ý thức sinh thái. Còn trong nghiên cứu văn chương , phê bin
̀ h sinh
thái là hướng tiếp cận các tác phẩm văn chương bằng các tri thức liên ngành , như xã
hô ̣i ho ̣c , văn hóa ho ̣c , khoa học kỹ thuật nhằm tác động đến nhận thức của con
người về sự tương tác của chiń h min
̀ h và tự nhiên
, đến hành vi đạo đức của con
người với phần còn lại của thế giới tự nhiên.
Ba lí do mang tính thực tế và phương pháp luận nói trên là cơ sở để chúng tôi
nhìn lại việc thể hiện thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến - một đề tài đã được
nhiều nghiên cứu trước đây bàn luận nhưng phần lớn là ở góc độ bên trong của văn
chương.
, năm
1957, nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn đã dành 20 trang trong Lược thảo lịch sử văn học
Việt Nam. Đây là cuốn sách văn học sử đầu tiên của chế độ mới đánh dấu sự trưởng
thành của ngành nghiên cứu văn học
. Đến năm 1959 xuất hiện chuyên khảo về
Nguyễn Khuyến - Nguyễn Khuyến, nhà thơ Việt Nam kiệt xuất của Văn Tân với
những nhâ ̣n diê ̣n, phân tích, và khái quát tư tưởng, bút pháp, gương mặt của nhà thơ
kiệt xuất này . Năm 1960, xuất hiện công trình nghiên cứu của Lam Giang - Vũ Kỷ
tìm hiểu xu hướng thiên về thiên nhiên trong thơ của Nguyễn Khuyến. Đặc biệt năm
1971, Xuân Diệu cho ra đời cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến với những cảm bình đô ̣c
đáo, khi đinh
̣ danh cho Nguyễn Khuyến là nhà thơ của quê hương và dân tình Việt
Nam. Sau đó 7 năm, nhà nghiên cứu Phạm Văn Diêu viết cuốn Việt Nam văn học
giảng bình cũng tìm hiểu Nguyễn Khuyến với tư cách là nhà thơ của quê hương và
dân tình Việt Nam nhưng chủ yếu khai thác ở sắc thái trầm lặng, tiêu điều. Không
dừng lại ở đó, năm 1981, 1982, Xuân Diệu cho ra đời liên tiếp 2 tập Các nhà thơ cổ
điển Việt Nam, trong đó có đánh giá của ông về nhà thơ Nguyễn Khuyến: "...sở
5
trường nhất là những nhuần nhị của nét cảnh nông thôn" [16,42]. Ông nâng Nguyễn
Khuyến lên thành "nhà thơ của làng mạc và dân quê" [16,43], nhà thơ "bay bướm
và lãng mạn", "nhà thơ cổ điển duy nhất của mùa thu Việt Nam" [16,45]. Đến năm
1992, Vũ Tiến Quỳnh đã tuyển chọn và cho ra đời cuốn Phê bình, bình luận văn
học Nguyễn Khuyến tổng hợp những bài phê bình, bình luận xuất sắc về thơ ca của
Nguyễn Khuyến.
tinh tế về thơ Nguyễn Khuyến. Ông nhận định: "Nguyễn Khuyến là nhà thơ của dân
tình làng cảnh Việt Nam". Gần với kiến giải trên, trong Thơ văn Nguyễn Khuyến Trần Tế Xương, nhà nghiên cứu Lê Trí Viễn viết: "Gắn bó tha thiết với ngôi nhà
tranh, với mảnh vườn con đó là tấm lòng của Nguyễn Khuyến gần với nông dân
không phải bằng lí luận mà bằng tình cảm, bằng máu thịt của mình ...".
Qua những nghiên cứu công phu đó , các tác giả đã khai thác khá kĩ càng về
đề tài thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến. Tuy nhiên họ mới tiếp cận thiên nhiên
trong thơ ông như một đề tài , một chủ đề chứ chưa tiếp cận nó như một môi sinh
với những vấn đề liên quan.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi vấn đề: Với lí do chọn đề tài như đã xác định ở trên, luận văn sẽ
không đi sâu nghiên cứu toàn bộ những vấn đề xung quanh thơ mang chủ đề thiên
nhiên của Nguyễn Khuyến mà tìm hiểu từ góc nhìn phê bình sinh thái , tức là sự thể
hiện thiên nhiên qua ngòi bút của Nguyễn Khuyến như một môi trường sống của tác
giả trong thời kì giao thời.
Trong quá trình khảo sát, để làm rõ thêm các luận điểm , hoă ̣c tăng thêm tin
́ h
thuyế t phu ̣c khi nhâ ̣n đinh
̣ , luận văn sẽ so sánh với mảng sáng tác tương tự của các
tác giả trước và sau ông như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Tế Xương,
Tản Đà.
Phạm vi tư liệu: Như đã trình bày , năm 1984, Nguyễn Văn Huyền thực hiện
công trình sưu tầm, biên dịch mang tên Nguyễn Khuyến tác phẩm (NXB Khoa học
xã hội , Hà Nội ). Đây là công trình đầ y đủ nhấ t về tác phẩ m của Nguyễn Khuyến
cho đế n nay , vì vậy luận văn sẽ sử dụng cuốn sách này làm nguồ n dẫn chin
́ h trong
suố t quá triǹ h triể n khai các vấ n đề .
4. Mục đích nghiên cứu
7
vào các giờ "Giáo dục công dân" hoặc các giờ học lồng ghép ở nhà trường phổ
thông.
8
Với tư cách là nhà thơ trung đại Việt Nam nổi tiếng giai đoạn cuối thế kỉ
XIX, đầu thế kỉ XX, thơ Nguyễn Khuyến đã được giảng dạy thường xuyên trong
chương trình văn học của nhà trường từ phổ thông đến đại học. Đề tài vì vậy còn
mang một ý nghĩa thiết thực đối với việc giáo dục môi trường sinh thái ở bậc học
phổ thông qua văn học.
7. Cấu trúc của luâ ̣n văn
Ngoài phần MỞ ĐẦU , KẾT LUẬN , và TÀI LIỆU THAM KHẢO , luâ ̣n
văn sẽ gồ m 3 chương như sau:
Chƣơng 1. Mô ̣t số vấn đề văn ho ̣c sƣ̉ và phƣơng pháp tiế p câ ̣n cơ bản liên quan
đến đề tài
Chƣơng 2: Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến – “chốn cũ lui về”
Chƣơng 3: "Phên dậu Hạ Di" giữa "hội Thăng Bình"
9
NỘI DUNG
Chƣơng 1
Một số vấn đề văn học sử và
phƣơng pháp tiếp cận cơ bản liên quan đến đề tài
1.1. Những vấn đề cơ bản của phê bình sinh thái và khả năng của nó trong
nghiên cứu văn chương
Trước tình trạng môi trường toàn cầu đang ngày một xấu đi, giữa thập niên
70 của thế kỉ XX, phê bình sinh thái đã ra đời ở Mỹ với sứ mệnh cao cả là phân tích
Ba hệ tư tưởng Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo đều thống nhất với nhau ở
quan điểm coi trọng thiên nhiên, đề cao xu hướng hòa vào thiên nhiên. Bên cạnh đó,
mỗi hệ tư tưởng trên lại có điểm nhấn riêng thể hiện sự khác biệt. Quan hệ con
người và tự nhiên – thế giới bên ngoài theo quan điểm Nho giáo là thiên nhân tương
dữ, giao hòa; theo quan điểm của Phật giáo là thiên nhiên và con người bình đẳng,
Phật giáo rất coi trọng đức hiếu sinh; còn quan điểm của Đạo giáo có nét độc đáo là
coi trọng tự nhiên, lấy tự nhiên làm khuôn mẫu, thậm chí coi thiên nhiên như là tiêu
chuẩn cao nhất để con người hướng đến và khuyến khích con người hưởng thụ thế
giới tự nhiên.
Trong thế giới rộng lớn bên ngoài con người - vũ trụ, thực thể khách quan có
hàm chứa một thực thể là thiên nhiên. Như vậy, quan niệm về mối quan hệ con
người - thiên nhiên (hay vũ trụ - giới tự nhiên) thực chất là chịu sự quy ước của thế
giới quan.
Như đã nói ở trên, khi bàn về mối quan hệ giữa con người và tự nhiên - thế
giới bên ngoài nói chung, thiên nhiên nói riêng, theo quan niệm của Nho giáo là:
Thiên nhiên tương dữ, giao hòa. Suốt trong lịch sử phát triển của mình, kinh điển
Nho gia luôn khẳng định điều này. Và "kênh" phát lộ cái nhìn này ở những khía
cạnh đa dạng nhất chính là văn chương: "Nếu như trong cuộc sống của các nhà Nho
luôn tự buộc mình không ngừng phải vươn lên, vượt qua sự chi phối của hoàn cảnh
để tu luyện nhân cách bản thân, thì thiên nhiên của họ cũng là một thiên nhiên luôn
phải khắc phục, chống đỡ khó khăn do môi trường xung quanh đem lại để vươn lên.
Từ quan điểm trên của Nho gia, dễ hiểu vì sao trong thơ họ hình tượng tùng, cúc,
trúc, mai lại xuất hiện nhiều đến vậy" [48, 11].
Giống như Nho giáo , Đạo giáo cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng "Thiên nhân
hợp nhất" của Kinh Dịch, nhưng Đạo giáo đặt thiên nhiên, vũ trụ cao hơn thế giới
nhân sinh. Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên - thế giới bên ngoài, theo quan
niệm của Nho giáo là: Thiên nhiên tương dữ, giao hòa và là trạng thái hợp nhất giữa
con người và phẩm chất đạo đức con người. Còn mối quan hệ giữa con người và tự
hoa... được miêu tả không để hiểu vấn đề "thời tiết" của tự nhiên mà như chính con
đường sinh - tử, sắc - không, hữu - vô... Theo Trần Văn Cường, Phật giáo quan
niệm: Con người là một phần của thiên nhiên, con người sinh ra từ chính các yếu tố
14
của thiên nhiên: "Con người là hợp thể của Lục giới (Lục đại). Lục giới (sad
dhatvah) là sáu yếu tố hình thành con người gồm: đất, nước, gió, lửa, không, thức
[13, 37].
Cùng chung quan niệm con người và thiên nhiên có mối liên hệ chặt chẽ như
trên nhưng xuất phát từ ý thức về môi sinh hiện đại, một số nhà Phật học quốc tế
gần đây đã chủ trương: Thiên nhiên là một phần cuộc sống của con người, nhân loại
lệ thuộc vào môi trường sinh thái. Các thái độ, hành vi được ươm mầm nội tại trong
mỗi con người. Vấn đề cơ bản được quan tâm ngày nay về đạo đức chính là mối
quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Cùng với đà phát triển, con người vẫn đang
cố gắng kiểm soát và làm chủ thiên nhiên, qua đó tận dụng thiên nhiên vì mục đích
hưởng thụ. Hành xử này dẫn đến sự hủy hoại môi trường. Theo các nhà Phật học
hiê ̣n đa ̣i, thiên nhiên có thể sử dụng cho sự hưởng thụ về mặt tinh thần. Tuy nhiên,
lời dạy của Phật là hãy để thiên nhiên như nó vốn hiện hữu, và chỉ nên thưởng thức
vẻ đẹp của thiên nhiên với một thái độ không ham muốn. Hay nói khác đi thiên
nhiên cần được đối xử bình đẳng như con người [13, 75].
Như vậy, theo Phật giáo, mặc dù con người sử dụng các yếu tố tự nhiên như
một công cụ để sinh tồn, nhưng môi trường sẽ là điểm kết thúc duy trì sự cân bằng
của tất cả mọi sinh vật. Con người cần phải thực hiện nghĩa vụ đối với sinh vật xung
quanh.
1.2.2. Thiên nhiên trong sáng tác văn học trung đại Việt Nam
Do ảnh hưởng bởi ba hệ tư tưởng như đã nói ở trên, nghệ thuật cổ trung đại
phương Đông rất coi trọng đề tài thiên nhiên, đúng như Hồ Chí Minh đã có lần nhận
xét khi đọc Thiên gia thi: "Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ".
nhận, sẻ chia, thậm chí dùng nó để phát biểu các triết lí Thiền.
Ví dụ: Trong bài Thị đệ tử (Bảo các đồ đệ) dưới đây của nhà sư Vạn Hạnh
viết ngày 15 tháng 5 năm 1088, sư gọi tăng chúng đến đọc bài kệ:
Thân như điện ảnh, hữu toàn vô,
Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
(Người đời như bóng chớp, có rồi lại không,
Như cây cối mùa xuân tốt tươi, mùa thu khô héo.
16
Mặc cho vận đời thịnh hay suy, đừng sợ hãi.
Vì sự thịnh suy (cũng mong manh) như giọt sương đầu ngọn
cỏ).
Bài thơ chỉ có một chữ "thân" trực chỉ con người, những hình ảnh còn lại là
thuộc về thế giới tự nhiên. Và theo đó, nhà thơ muốn gửi gắm một thông điệp: con
người chỉ là một phần nhỏ bé của vũ trụ và nếu con người quên được "thân" (tức
"ngã") thì sẽ hòa được vào thế giới tuần hoàn đó, và đạt đến sự an nhiên, tự tại.
Cũng ảnh hưởng bởi tư tưởng Phật giáo, những sáng tác của Tuệ Trung
Thượng sĩ khi nhắc đến thiên nhiên đều thể hiện triết lí Thiền:
Sinh tử do lai bãi vấn trình,
Nhân duyên thời tiết tự nhiên thành.
Sơn vân dã hữu xuất sơn thế,
Giản thủy chung vô đầu giản thanh.
Tuế tuế hoa tùy tam nguyệt tiếu,
Triêu triêu kê hướng ngũ canh minh.
A thùy hôi đắc nương sinh diện,
Thủy tín nhân thiên tống giả danh.
Gió trời thổi nào chọn nơi cao hay thấp.
Ánh sáng mùa thu lúc đen lúc trắng tùy theo duyên sắc,
Nhị sen đỏ thơm chẳng nhuốm bùn.
Khúc kì diệu của bản lai nên cất giọng hát,
Chẳng phải tìm ở Nam, Bắc với Đông, Tây.)
(Thị chúng - Bảo mọi người)
Bài thơ là một lời "gợi bảo mọi người" về vấn đề tự tính bản thể con người.
Thượng sĩ khuyên mọi người nên đi tìm tự tính, chân như ở ngoài tâm. Bởi vì thể
tính là trong sáng vằng vặc và mỗi người đều có nó như là mặt trăng soi thì đâu phải
phân biệt xa, gần, gió thổi, đâu phân biệt nơi cao thấp. Tùy vào duyên mà mỗi
người chứng ngộ theo một cách khác nhau. Đây chính là một tư tưởng rất cơ bản
của Thiền tông được tác giả truyền tải qua các hình ảnh thiên nhiên.
18
Ngoài ra thiên nhiên thường xuất hiện trong thơ văn thời kỳ này chủ yếu là
để cho các nhà sư giảng dạy những lý thuyết Phật giáo của họ. Nhà nghiên cứu
Nguyễn Kim Sơn cho rằng: "Có những bài thơ Thiền mang một loạt hình ảnh thiên
nhiên nhưng mục đích cuối cùng của Thiền gia không phải miêu tả thiên nhiên đó
mà dùng thiên nhiên như một "công cụ ngoại hóa" mang tải những tư tưởng của
Thiền Tông. Để lĩnh hội Thiền ý trong mỗi bài thơ, người đọc không thể không
thông qua một quá trình "giải mã" các hình tượng thiên nhiên được Thiền gia sử
dụng" [48, 16].
Hình ảnh thiên nhiên trong thơ ở giai đoạn này không hề cứng nhắc mà rất
giàu xúc cảm với một niềm tha thiết yêu đời, yêu cuộc sống mặc dù thiên nhiên
trong thơ thường bị cái nhìn chi phối của “sắc – không”. Chẳng hạn Mãn Giác
Thiền Sư đã làm sáng tỏ quan điểm “sắc – không” của đạo Phật qua sự đối sánh thời
gian tuần hoàn của vũ trụ với thời gian ngắn ngủi của đời người đồng thời thể hiện
hy vọng của con người trong cuộc sống:
Trẻ chăn trâu thổi sáo dẫn trâu về hết,
Từng hàng cò trắng bay xuống ruộng.)
(Thiên Trường vãn vọng - Buổi chiều đứng
ở phủ Thiên Trường trông ra)
Như vậy, ở thời kỳ Lí - Trần, các sáng tác thơ ca nói chung và thơ viết về
thiên nhiên nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc và tập trung nhất là tư tưởng Phật giáo.
Bên cạnh đó, cần phải nhắc đến sự chi phối của tư tưởng Đạo giáo và Nho giáo
trong giai đoạn này. Khảo sát các sáng tác của Tuệ Trung Thượng Sĩ ta sẽ thấy điều
đó.
Tuệ Trung đã thể hiện tinh thần dung hợp tam giáo trong cách sống ở đời lẫn
sáng tác của mình. Trong kháng chiến chống quân Nguyên-Mông của nhà Trần, ông
đã hơn hai lần đem tài năng thao lược của mình ra giúp đất nước. Lúc đó, con người
Tuệ Trung đã thể hiện trọn vẹn tinh thần của một kẻ sĩ theo học Nho giáo: "Làm trai
cho đáng nên trai / Xuống Đông, Đông tĩnh; lên Đoài, Đoài yên" (Ca dao). Song
con người không ngại xông pha trận mạc ấy đồng thời cũng là một thiền gia, lại có
phong thái tiêu dao của tư tưởng Lão - Trang. Đất nước thái bình, Tuệ Trung tham
vấn Thiền cùng thiền sư Tiêu Dao. Khi lãnh hội được yếu chỉ, Thượng Sĩ lấy việc tu
Thiền làm thú vui, lui về điền trang sống đời bình dị, không màng đến danh lợi. Tuệ
20
Trung đã sống đúng với tinh thần "hòa quang đồng trần", trộn lẫn cùng thế tục, hòa
mình với cuộc đời. Song tư tưởng của ông qua thơ văn cũng thể hiện tương đối rõ
nét tinh thần của Đạo giáo. Khi không do dự trở về thái ấp, Tuê ̣ Trung đặt nơi ở của
mình là "Dưỡng Chân" nhằm trút bỏ mọi ảo vọng, giữ lấy chân tính:
Suy táp hình hài khởi túc vân,
Phi quan, lão hạc tị kê quần.
Thiên thanh vạn thúy mê hương quốc,
Hải dốc thiên đầu thị dưỡng chân.
Mặt khác, trong thi phẩm của Tuệ Trung cũng có những hình tượng tùng,
cúc, trúc, mai - những cây vốn rất quen thuộc trong văn chương nhà nho. Chẳng hạn
cây tùng:
Tối ái thanh tùng chùng kỷ niên,
Hưu ta địa thế sở cư thiên.
Đống lương vị dụng nhân hưu quái,
Dã thảo nhàn hoa mãn mục tiền.
(Rất yêu cây thông xanh trồng mấy năm trước,
Đừng thở than ở vào địa thế hưu quạnh.
Tài rường cột chưa được dùng người đời chớ lấy làm lạ,
Nơi đây có cỏ nội hoa nhàn đầy cả trước mắt.)
(Giản để tùng - Cây thông dưới khe)
Ở bài thơ trên, cây tùng tượng trưng cho phẩm chất mà nhà nho rất đề cao:
tài lương đống, làm trụ cột triều đình. Cây tùng ở "vị thế hưu quạnh", phải sống
cùng "cỏ nội hoa nhàn", chưa được sử dụng ở vị trí "rường cột" cũng giống như nhà
nho ẩn dật chờ thời. Trong một bài thơ khác của Tuệ Trung Thượng Sĩ, dù có hình
ảnh "ngọn gió thiền", "mặt trời Phật", thiền ý mênh mang nhưng rõ ràng vẫn có cái
ẩn ý của một nhà nho chưa gặp thời tạm náu mình trong rừng sâu, làm bạn cùng
muông thú chờ ngày được thi thố tài năng giúp đời:
Phúc đường cảnh chí dĩ lang đang,
Lại hữu thiên phong tập tập lương.
Lưu lạc tiêu sơ trìu duẩn sấu,
Môn đình u thúy tịch tung hoang.
Vị phùng thì thái hiền nhân xuất,
22
Thả hỉ lâm thâm thụy thú tàng.
Tảo vãn lão thiên khai Phật nhật,