ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA
HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**************************
ĐINH THỊ NHÀN
THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN
KHUYẾN TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI
HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**************************
ĐINH THỊ NHÀN
THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN
KHUYẾN TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Hải Yến
HÀ NỘI - 2016
1
2.2.3. Bức tranh tứ thời trong thơ Nguyễn Khuyến............................................................... 56
2.2.4. Nơi chốn trong thơ viết về thiên nhiên của Nguyễn Khuyến................................. 62
Chương 3: "Phên giậu Hạ Di" giữa "hội Thăng Bình"............................................... 71
3.1.Phức cảnh thời đại cựu tân qua bức tranh thiên nhiên của Nguyễn Khuyến71
3.1.1. Trạng thái “đối cảnh” và thực trạng “tương dữ/tương cảm” của “thiênnhân”trong thơ Nguyễn Khuyến................................................................................................... 71
3.1.2. Thiên nhiên đổ vỡ trong đời sống tinh thần của “hưu quan” Nguyễn Khuyến
77
3.2. Một môi sinh bất an - ảnh xạ của bi kịch tinh thần.................................................. 80
3.2.1. Vị thế xuất – xử của Nguyễn Khuyến............................................................................. 80
3.2.2. Môi sinh bất an hay bi kịch tinh thần của Nguyễn Khuyến................................... 82
KẾT LUẬN......................................................................................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................... 87
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Là một phần trong đời sống của con người, từ cổ kim Đông Tây, thiên nhiên
thường à đề tài quen thuộc của văn chương ngh thuật. Quan h này đ c i t mật thiết
thời k tiền hi n đại, tiền công nghi p khi con người và thiên nhiên c n g n
ó rất ch t ch với nhau. Chính v vậy, quan sát thiên nhiên trong văn học ngh thuật
có th hi u đư c quan ni m của người sáng tạo về thế giới ên ngoài, c ng như nhận
thức của họ về mối quan h thiên nhiên-con người. Và c ng như các đề tài
khác, s hi n di n của thiên nhiên trong văn chương ngh
sử.
tư ng, th c đ y cách mạng phương thức sống, phương thức sản
tri n, ây d ng thức sinh thái. Còn trong nghiên cứu văn chương, phê nh sinh
thái à hướng tiếp cận các tác ph m văn chương ằng các tri thức
hội học, văn hóa học, khoa học k
thuật nhằm tác động đến nhận thức của con
người về s
tư
người với phần c
a
í do mang tính th
nh n ại vi c th
nhiều nghiên cứu trước đây àn
chương.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu chung về thơ Nguyễn Khuyến
Đ
khảo sát và
ch ng tôi d
a
phẩm do V
nh Vi t Nam nhưng chủ yếu khai thác s c thái trầm ng, tiêu điều. Không dừng ại đó,
năm 1981, 1982, Xuân Di u cho ra đời iên tiếp 2 tập Các nhà thơ cổ điển Việt Nam,
trong đó có đánh giá của ông về nhà thơ Nguy n huyến: "...s
5
trường nhất à nh ng nhuần nhị của nét cảnh nông thôn" [16,42]. Ông nâng Nguy n
huyến ên thành "nhà thơ của àng mạc và dân quê" [16,43], nhà thơ " ay ướm
và ãng mạn", "nhà thơ cổ đi n duy nhất của mùa thu Vi t Nam" [16,45]. Đến năm
1992, V Tiến Quỳnh đã tuy n chọn và cho ra đời cuốn Phê bình, bình luận văn
học Nguyễn Khuyến tổng h p nh ng ài phê nh, nh uận uất s c về thơ ca của Nguy n
huyến.
Vi c nghiên cứu thơ văn Nguy n
huyến đã đạt đư c một thành t u mới với
công tr nh Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ (năm 1994). Đây à chuyên khảo quy
mô, th hi n đư c tư tư ng đổi mới về cách nh n của tập th
ung quanh tác ph m và tư tư ng Nguy n
các nhà nghiên cứu
huyến.
Toàn ộ nh ng thành t u t m t i của giới nghiên cứu trong quãng thời gian nói
trên đã đư c trưng cất trong Nguyễn Khuyến, về tác gia và tác phẩm [58]. Đây chính
à d i u nghiên cứu có nghĩa đ năm 2008 i n Minh Điền th c hi n uận
án tiến sĩ với đề tài: hong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (Sự hình thành và những
huyến.
ét của công trình của
(1960), Giảng luận về Nguyễn Khuyến (NX
các nhà
Lam Giang - V
Tân Vi t, Sài G n): "...thơ Nguy n
huyến mang ốn đ c tính giản dị, d hi u, có tính dân tộc thuần t y, hướng về thiên
nhiên...". ế đó, nhà nghiên cứu Phạm Văn Diêu trong cuốn Việt Nam văn học
6
ỷ
giảng bình (1978) đã tái hi n khung cảnh trầm ng tiêu điều dưới ng i t của một nhà
nho. Đ c i t, Xuân Di u 1998 với ài viết đ c s c "Đọc thơ Nguy n
huyến" trong cuốn Các nhà thơ cổ điển Việt Nam - Tập 1 đã nghiên cứu một cách
tinh tế về thơ Nguy n
huyến. Ông nhận định: "Nguy n
huyến à nhà thơ của dân
t nh àng cảnh Vi t Nam". Gần với kiến giải trên, trong Thơ văn Nguyễn Khuyến Trần Tế Xương, nhà nghiên cứu Lê Trí Vi n viết: "G n
ã hội
qua tâm thế của tác giả.
5. Phương pháp nghiên cứu: Th c hi n đề tài, ch ng tôi sử dụng hai cách tiếp cận
chính à:
Phương pháp nghiên cứu văn học sử
Đây à một đề tài văn học sử nên vi c phân tích từng đơn vị tác ph m ho c
đánh giá ch ng s đư c đ t trong hoàn cảnh uất hi n của ch ng.
Phương pháp nghiên cứu phê bình sinh thái
Phương pháp nghiên cứu này à một tham chiếu mới, cho phép uận văn m
rộng thêm góc quan sát thiên nhiên trong thơ Nguy n huyến.
Cả hai phương pháp trên s đư c cụ th hóa qua các thao tác: khảo sát, phân
tích, thống kê, miêu tả, so sánh đối chiếu gi p cho uận văn có đư c kết uận sau cùng
một cách thuyết phục.
6. Đóng góp của đề tài
Về khoa học
Trên phương di n í thuyết, kết quả của uận văn góp phần ki m định hướng
tiếp cận Phê nh sinh thái trong văn học.
ết quả nghiên cứu của uận văn s góp phần t m kiếm một di n giải mới về
thơ thiên nhiên của Nguy n huyến.
Về thực tiễn
Do tính cấp thiết và giá trị nhân văn sâu rộng, vấn đề môi sinh đã đư c đưa
vào các giờ "Giáo dục công dân" ho c các giờ học ng ghép nhà trường phổ thông.
8
Với tư cách à nhà thơ trung đại Vi t Nam nổi tiếng giai đoạn cuối thế kỉ XIX,
đầu thế kỉ XX, thơ Nguy n huyến đã đư c giảng dạy thường uyên trong
chương tr nh văn học của nhà trường từ phổ thông đến đại học. Đề tài v vậy c n
trong vi c kích thích giảng dạy các môn học
nghiên cứu
ĩn
ngành đư
c coi à đ c
Trong
học", nhà nghiên cứu
định nghĩa khá rộng"
đến Phê
nh sinh thái và h
khuynh hướng phê
quan h
gi
nh ng văn
ac
ản
Trong
pháp nghiên cứu sinh thái học, sinh vật hóa học, toán học ho c phương pháp nghiên
cứu của ât k khoa học t nhiên nào khác vào phân tích văn học, "nó chỉ dẫn nhập
quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học mà thôi" [52].
Một đi m n
chính
à: Phê nh sinh thái t
sinh thái t
nhiên nghiên cứu
sinh thái tinh thần đ t
trường tinh thần
của văn học đối với môi trường tinh thần của con người.
nh văn học sinh thái trước hết à nói đến phê
nhiên,
u thế hi n nay, theo nhà triết học người Pháp Pi
cầu phải dành cho hi n tư ng tinh thần một vị trí
của nhân
nh sinh thái tinh thần
giải quyết các vấn đề sinh thái
ô
nhi m tinh thần, àm cho tinh thần trong sạch, cân ằng, góp phần àm ổn
định ã
11
ấy thiên nhiên
Thiên
pháp Đ
chước theo Trời, Trời
Đạo đức kinh). "Đạo pháp t
t
c, không
ộc
nhiên
àm khuôn mẫu. Trong Nam hoa kinh, Trang Tử c
yêu thích của con người do cảnh tư ng thiên nhiên mang
nhưỡng dư? Sử ngã hân hân nhiên nhi thủy dư? " (N i rừng ư G
ư
Tất cả đều àm ta vui vẻ, vậy vui vẻ
cho rằng: con người chỉ h a vào thiên nhiên mới t m thấy
nhất với thiên nhiên, ấy vẻ đẹp thiên nhiên
thiên nhiên. Tư tư
tiêu dao phóng nhi m . Nó chủ trương một cuộc sống không
tục, không vương vấn chuy n đời, cổ s
thân m nh, không ưu hoạn
à đi m kết th c duy tr s
nhiên như
cân ằng
của tất cả mọi sinh vật. Con người cần phải th c hi n nghĩa vụ đối với sinh vật ung
quanh.
1.2.2. Thiên nhiên trong sáng tác văn học trung đại Việt Nam
Do ảnh hư ng
i a h tư tư ng như đã nói
trên, ngh thuật cổ trung đại
phương Đông rất coi trọng đề tài thiên nhiên, đ ng như H Chí Minh đã có ần nhận
ét khi đọc Thiên gia thi: "Cổ thi thiên ái thiên nhiên m ".
ốn mùa thiên nhiên chuy n vận đều gây cho con người cảm
Nhà nghiên cứu Lưu Cương
ỷ trong cuốn Chu Dịch và mỹ học viết:
c khác nhau.
C n như
ngọn gió cánh chim mùa uân, vầng trăng tiếng ve mùa thu, tầng mây trận mưa rào
mùa hạ, ánh trăng, cái ạnh mùa đông, đó à cái cảm thụ ốn mùa th hi n trong thơ.
Cuộc vui th gửi thơ đ ày tỏ t nh thân thiết, a cách th mư n thơ đ ngụ t nh ai oán 40,
37].
ên ngoài mà coi nó như một người đ ng đẳng đ
cảm
nhận, sẻ chia, thậm chí dùng nó đ phát i u các triết í Thiền.
Ví dụ: Trong ài Thị đệ tử
ảo các đ
đ
dưới đây của nhà sư Vạn Hạnh
viết ngày 15 tháng 5 năm 1088, sư gọi tăng ch ng đến đọc ài k :
Thân như đi n ảnh, h u toàn vô,
Vạn mộc uân vinh, thu h u khô
Người đời như óng chớp, có r i ại không, Như
cây cối mùa uân tốt tươi, mùa thu khô héo.
16
M c cho vận đời thịnh hay suy, đừng s hãi.
V s thịnh suy c ng mong manh như giọt sương đầu
ngọn
cỏ .
ài thơ chỉ có một ch "thân" tr c chỉ con người, nh ng h nh ảnh c n ại là thuộc
Thu quang h c ạch tùy duyên s c,
Liên nhị h ng hương ất trước nê.
Di u kh c
ản ai tu cử ướng,
Mạc tầm Nam
c d Đông Tây.
Đừng có t m Thiếu Thất với Tào hê,
Th tính vằng v c chưa có mê ầm.
M t trăng ưa soi k g
a hay gần,
Gió trời thổi nào chọn nơi cao hay thấp.
Ánh sáng mùa thu l c đen
c tr ng tùy theo duyên s c,
Nhị sen đỏ thơm chẳng nhuốm ùn.
h c k di u của
Chẳng phải t m
ản ai nên cất giọng hát,
Nam,
Thị ch ng -
Mạc vị uân tàn hoa ạc tận
Đ nh tiền tạc dạ nhất chi mai.
Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa đua n
Vi c đời trôi qua trước m t
Cảnh già hi n ra trên mái đầu
Chớ ảo uân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một nhành mai.
Cáo tật thị ch ng - Có
nh ảo mọi người
Như vậy, các tác ph m trên cho thấy thiên nhiên có vai tr
rất quan trọng
trong văn chương Phật giáo nhưng s t n tại trong trạng thái t thân th ít có.
19