TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA NGỮ VĂN
----------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HỌC ĐÔNG ÂU - NGA
ĐỀ TÀI: GIỌT RỪNG CỦA MIKHAIL PRISHVIN TỪ
GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Hà Nội, 2019
1
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS. TS. Thành Đức Hồng Hà –
người đã tận tình hướng dẫn em thực hiện công trình nghiên cứu, đồng thời đã
giúp đỡ em suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận.
Em xin tỏ lòng biết ơn Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn,
các thầy cô trong khoa Ngữ văn, các thầy cô tổ Bộ môn Văn học nước
ngoài Trường ĐHSP Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành
nhiệm vụ.
Em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã tận tình giúp
đỡ, động viên em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Do một số điều kiện chủ quan và khách quan, khóa luận không thể tránh
khỏi thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, những ý kiến đóng góp
của thầy cô và bạn bè.
Xin chân thành cảm ơn!
KẾT LUẬN..........................................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................80
MỞ ĐẦU
3
1. Lí do chọn đề tài
Dòng văn học về đề tài thiên nhiên đã và đang được rất nhiều nhà văn
quan tâm. Từ cuối thế kỉ XIX, trong các tác phẩm văn học thiên nhiên xuất
hiện trong mối quan hệ mật thiết với con người. Dần dà thiên nhiên trở thành
đề tài chính. Đến thế kỉ XX, khi phê bình sinh thái xuất hiện và phát triển, văn
học về thiên nhiên phát triển mạnh mẽ hơn. Trong nền văn học Nga, có các
nhà văn thiên tài viết về thiên nhiên Nga với một tình yêu và niềm say mê như
A. Pushkin, L.Tolstoy, I.Turgenev, A. Chekhov, Ts. Aitmatov, K.Paustovsky
… và chúng ta không thể không nhắc tới nhà văn M. M. Prishvin. Trong cuốn
Giọt rừng, người dịch đã viết về ông như sau: “Mikhail Prishvin là một trong
những nhà văn Nga viết về thiên nhiên nổi tiếng nhất. K. Paustovsky, tác giả
Bông hồng vàng rất quen thuộc với độc giả Việt Nam đã viết về ông: “Nếu
như thiên nhiên có thể cảm thấy sự biết ơn đối với con người vì con người đã
đi sâu vào đời sống bí ẩn của thiên nhiên và ca ngợi vẻ đẹp của nó, thì trước
hết sự biết ơn đó phải dành cho Mikhail Prishvin” [23;7].
Giọt rừng là tác phẩm được ra đời “như một trải nghiệm nghiên cứu
đầy chất thơ cái thiên nhiên được hiểu trong sự hòa hợp với con người sống
trong nó và tạo ra nó” [23;9] theo như lời của chính Mikhail Prishvin. Tác
phẩm không phản ánh gay gắt những hành vi của con người dành cho thiên
nhiên, mà đưa ra một cách nhìn khác về thái độ của con người đối với thiên
nhiên. Mang theo cảm quan sinh thái để nghiên cứu tác phẩm, chúng ta được
hòa mình vào thiên nhiên, vận dụng mọi cảm thức, cảm xúc để thấm thấu các
chuyển sang làm giáo viên ở vùng nông thôn. Năm 1905 ông bắt đầu viết bài
cho các tạp chí như Buổi sáng nước Nga. Tác phẩm đầu tay của Prosshvin
5
mang tên Sashok đã được xuất bản vào năm 1906, trong đó ông đề cập tới chủ
đề xuyên suốt trong sự nghiệp sáng tác mình – đó là thiên nhiên và con người.
“Mikhail Mikhailovich Prishvin lần lượt cho ra đời những cuốn sách tạo
nên tên tuổi của ông trong làng văn nước Nga như Ở xứ sở những con chim
không sợ hãi (В краю непуганых птиц, 1907), Bên những bức tường của
thành phố vô hình (У стен града невидимого, 1909). Năm 1925, ông viết
Những nguồn mạch Berendei (Родники Берендея) và năm 1935 tác phẩm
được bổ sung in lại với tên mới Lịch thiên nhiên (Календарь природы). Từ
năm 1927 đến 1930, nhà văn xuất bản Tuyển tập tác phẩm gồm bảy tập với
lời giới thiệu của M. Gorki. Năm 1933 là năm ra đời một trong những tác
phẩm hay nhất của Prishvin - Nhân sâm (Женьшень). Năm 1940, ông viết
trường ca bằng văn xuôi Phaselia (Фацелия) và tập tiểu phẩm trữ tình – triết
học Giọt rừng (Лесная капель), cả hai được xuất bản năm 1943. Sau thế
chiến II, những tác phẩm đáng chú ý của M. Prishvin có thể kể Kho mặt trời
(Кладовая солнца, 1945), Câu chuyện của thời đại chúng ta (Повесть
нашего времени, 1946), Rừng thông cao vút (Корабельная чаща, 1954), Đôi
mắt của đất (Глаза земли, 1957), v.v…” [23;7,8].
Giọt rừng đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam, tuy nhiên chỉ xuất bản
một lần vào năm 2011 và không tái bản. Theo khảo sát của chúng tôi, tác
phẩm chưa được độc giả, các nhà nghiên cứu chú ý tới. Các công trình nghiên
cứu khoa học có nhắc đến tác phẩm này chỉ nằm trong những bài khái quát về
văn học Nga, hoặc vấn đề dịch thuật văn học Nga như “…Những tác phẩm
tiêu biểu của các cây đại thụ trong văn học Nga chưa được dịch trước đó cũng
được bổ sung như tác phẩm Bản sonate Kreutzer (2011) của Lev Tolstoy
với độc giả Việt Nam đã viết về ông: “Nếu như thiên nhiên có thể cảm thấy sự
biết ơn đối với con người vì con người đã đi sâu vào đời sống bí ẩn của thiên
nhiên và ca ngợi vẻ đẹp của nó, thì trước hết sự biết ơn đó phải dành cho
Mikhail Prishvin” [23; 7] .
7
Bên cạnh đó, một số dòng phân tích độc đáo dành cho tác giả Prishvin
cũng có trong lời bạt ở cuối cuốn sách. Đó là lời bình của K. Paustovsky
được trích từ Bông hồng vàng. “Trong sự nghiệp nhà văn của mình, Prishvin
là người chiến thắng. Bất giác tôi nghĩ đến những lời của ông: “… Nếu đến cả
những đầm hoang chỉ một mình chứng kiến chiến thắng của bạn thì chúng sẽ
bung nở một vẻ đẹp khác thường, - và mùa xuân sẽ mãi mãi còn với bạn, một
mùa xuân, một vinh quang giành cho chiến thắng”. Vâng, mùa xuân của văn
xuôi Prishvin sẽ còn mãi trong cuộc sống của những con người chúng ta và
trong nền văn học xô viết của chúng ta.” [23; 282].
Chúng tôi nhận thấy, những bài nghiên cứu Giọt rừng từ góc nhìn phê
bình sinh thái chưa có ở Việt Nam. Với sự hứng thú dành cho những khu rừng
ở Nga, cũng như những quan tâm đến vấn đề sinh thái, chúng tôi chọn tác
phẩm này để nghiên cứu dưới góc nhìn phê bình sinh thái. Việc nghiên cứu sẽ
góp phần giúp cho lí thuyết phê bình sinh thái được phát triển sâu rộng hơn,
đồng thời đóng góp thêm một số phương pháp trong việc giảng dạy về sinh
thái cho học sinh ở bộ môn Ngữ Văn trong nhà trường.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Dựa trên lí thuyết về sinh thái, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi
tập trung khảo sát một số hiện tượng trong tác phẩm từ nội dung để thấy được
thông điệp sinh thái trong tác phẩm Giọt rừng mang đến.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đây là công trình nghiên cứu về tác phẩm Giọt rừng từ góc nhìn phê
ngữ này được sử dụng rộng rãi và được các nhà nghiên cứu định nghĩa nhiều
lần. Đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau quanh khái niệm này.
9
Năm 1990, trong công trình Những giá trị của văn học (The Value(s) of
Literature), học giả James S. Hans đưa ra định nghĩa: “Phê bình sinh thái là
nghiên cứu văn học (và các ngành nghệ thuật khác) từ bối cảnh xã hội và địa
cầu” [26;141].
Năm 1994, tại hội thảo khoa học về phê bình sinh thái ở thành phố Salt
Lake (Mỹ), Scott Slovic đã đưa ra định nghĩa và được các nhà nghiên cứu
đánh giá cao: “Phê bình sinh thái chỉ là hai phương diện nghiên cứu: vừa có
thể sử dụng bất kì một phương pháp nghệ thuật nào để nghiên cứu lối viết tự
nhiên, vừa có thể khảo sát cặn kẽ hàm nghĩa sinh thái và mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên trong bất cứ văn bản văn học nào, cho dù những văn
bản ấy thoạt nhìn có vẻ như rõ ràng miêu tả thế giới phi nhân loại.” [28;146].
Năm 1996, GS. Cheryll Glotfty nhà phê bình sinh thái đầu tiên của Mỹ
đưa ra định nghĩa về phê bình sinh thái như sau: “Phê bình sinh thái là khoa
học nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và môi trường tự nhiên” [Dẫn theo
22].
Trong chuyên luận Tưởng tượng môi trường: Thoreau, sáng tác tự
nhiên và hình thành văn hóa Mỹ, GS. Lawrence Buell đưa ra định nghĩa: “Từ
tinh thần thực tiễn của chủ nghĩa bảo vệ môi trường, tiến hành nghiên cứu
mối quan hệ giữa văn học và môi trường” [Dẫn theo 22].
Nhà phê bình sinh thái Vương Nặc, nhà nghiên cứu người Trung Quốc,
đã đưa ra định nghĩa: “Phê bình sinh thái là phê bình văn học nghiên cứu mối
quan hệ giữa văn học và tự nhiên từ định hướng tư tưởng của chủ nghĩa sinh
thái, đặc biệt là chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái.” [26; 157].
Sau khi tìm hiểu và phân tích các khái niệm khác nhau, chúng tôi xin
ĐỐI THOẠI SINH THÁI
11
Đối thoại trong văn học là một biện pháp nghệ thuật quan trọng để xây
dựng tác phẩm tự sự, nhất là tiểu thuyết. Đối thoại không chỉ nhìn nhận đơn
giản từ góc độ ngôn ngữ mà rộng hơn, nó phải được xem xét trong tác phẩm
văn học như một phương tiện nhằm khám phá nghệ thuật thể hiện cuộc sống
của nhà văn. Lí thuyết đối thoại này sau đó đã được mở rộng bởi M.Bakhtin.
Ông cho rằng trong tiểu thuyết đa thanh, cái quyết định tư tưởng của tác phẩm
là quan hệ đối thoại của các nhân vật. Mỗi nhân vật trong tác phẩm tồn tại
một nhà tư tưởng. Nhà phê bình sinh thái Michael McDowell chủ trương áp
dụng lí luận đối thoại của M.Bakhtin để ứng dụng trong phê bình văn học.
Ông nói : “…một dạng đối thoại giữa các quan điểm khác nhau, đưa đến giá
trị cho một loạt những quan điểm xã hội - chính trị. Bắt đầu với ý nghĩ rằng,
tất cả các thực thể trong mạng lưới rộng lớn của tự nhiên đều đáng được thừa
nhận và có một tiếng nói, phê bình văn học sinh thái có thể khám phá cách
thức tác giả miêu tả những tiếng nói của nhân loại và phi nhân loại trong bối
cảnh như thế nào”. [Dẫn theo 27]. Chính vì thế thông qua đối thoại, nhân loại
và thế giới phi nhân loại mới có thể thấu hiểu về nhau. Đối thoại cũng là hình
thức để phê bình sinh thái phản đối sự độc đoán, trung tâm hóa, đề cao tính
chất đa điểm nhìn, đa chủ thể, đa thanh trong văn học. “Qua đối thoại, chúng
ta không chỉ nghe được tiếng nói của con người mà còn nghe được tiếng nói
của tự nhiên, hiểu được tự nhiên phải chống lại, hoài nghi, khiếp sợ và chạy
trốn con người như thế nào” [26;174].
1.1. Kẻ hủy diệt và kẻ bị hủy diệt
Con người luôn có tư tưởng phân biệt giữa con người và sinh vật phi
nhất, Thor đã hoàn toàn biến đổi.” [Dẫn theo 22]. Số phận của con vật chỉ
được quyết định trong vòng mấy giây, một động tác bóp cò. Để chứng minh
sức mạnh đỉnh cao của con người, trước con mồi lớn nhất từ trước tới nay, cả
13
hai con người trở thành những kẻ khát máu, sẵn sàng xả súng để đạt được
mục đích. Sự khát máu ấy không phát ra từ lí do như cần da, cần thịt hay
chống lại mối nguy hiểm… nó được kích phát từ cảm giác kích thích cực
mạnh của cuộc truy đuổi. Nhìn con vật hoảng loạn trốn chạy, con người cảm
giác như đã chinh phục, thống trị được tự nhiên. “Con người ta săn bắn, tàn
sát, rồi lại săn bắn tàn sát”, “tôi bắt đầu cảm nhận được niềm khoái lạc thực
thụ của săn bắn”, “nó ngấm vào máu chúng ta rồi,… chúng ta như thể sinh ra
là để tàn sát vậy” [Dẫn theo 22]. Lời thú nhận của hai nhân vật trong Vua Gấu
Xám khiến ta phải rùng mình trước sự tàn nhẫn của con người.
Prishvin miêu tả hành động săn bắn của con người ở một mức độ nhẹ
nhàng hơn.
“Họa sĩ Boris Ivanovich bò trong sương mù đến gần đàn thiên nga,
giương súng ngắm ở một khoảng cách gần, nhưng chợt nghĩ rằng dùng đạn ria
nhỏ bắn vào đầu sẽ tốt hơn nên mở khóa súng rút hộp đạn chì ra, bỏ đạn ria
dùng để săn vịt trời vào.” [23; 239].
Mô tả hành động đi săn của một con người, tác giả đã chỉ ra điều đặc
biệt, đây không là một thợ săn để kiếm bộ lông, thịt để bán, đây là một họa sĩ.
Đôi tay dùng để cầm bút vẽ nên những bức tranh đẹp nhất đang cầm trên tay
khẩu súng chĩa thẳng vào sinh vật mĩ lệ kia. Đầu óc dùng để suy nghĩ xem
nên sử dụng màu sắc, nét vẽ nào thích hợp hiện đang suy nghĩ nên dùng đầu
đạn nào để bắn chết con mồi. Con người đem việc đi săn như là một thứ nghệ
thuật chứng minh bản thân. Từ xa xưa, khi con người săn bắn để kiếm ăn, họ
dần dần cải tiến vũ khí của mình để có thể đảm bảo cuộc sống ấm no, đầy đủ.
Tuy nhiên xã hội càng hiện đại, những cải tiến, văn minh không chỉ còn phục
thú vui, một cuộc đua, đua xem ai bắn chuẩn hơn, con mồi lớn hơn hay thậm
chí vết bắn đẹp hơn,…Đi săn là một hoạt động truyền thống, thậm chí trở
15
thành môn thể thao ở Nga. Người đi săn đều trang bị vũ khí, chó săn đầy đủ
và con mồi là chiến lợi phẩm cho những cuộc vui đó.
Tác giả cũng đề cập đến câu chuyện đi săn chồn của đám trẻ. Những
đứa trẻ, từ khi còn nhỏ, đi săn đã là một trò chơi của chúng. Có thể đó chưa
hẳn là khát khao chinh phục, chế ngự thiên nhiên, nhưng người lớn đã dạy
cho chúng cách đi săn, những con vật nhỏ bé kia là con mồi. Và dần dần khi
lớn lên, con mồi lớn hơn, vũ khí có sức sát thương cao hơn và con vật bị bắn
giết nhiều hơn. Số phận của chú chồn con như thế nào sau đó chúng không
cần quan tâm. Không có ai dạy cho đám trẻ biết, chỉ là một trò chơi của chúng
đã đủ khiến chú chồn con bị chó săn xông vào hang và lôi xềnh xệch và tách
khỏi mẹ. Không có ai nói cho trẻ con, chú chồn con tuy khác loài cũng là một
con non, cũng sẽ đau khổ khi tách khỏi mẹ giống như con người.
Chúng ta luôn băn khoăn tự hỏi: có phải do người lớn hủy diệt thiên
nhiên mà trẻ nhỏ cũng bắt chước làm theo? Hay tự chúng đã quen với việc
săn bắt, bẻ cành để chơi mà khi lớn lên chúng không còn biết yêu thương tự
nhiên nữa? Chúng ta chỉ nhận ra được, con người luôn tư duy cố hữu: họ có
thể, có quyền hủy diệt thiên nhiên.
Con người luôn muốn tìm hiểu thiên nhiên, hiểu cách nó sống và chết
như thế nào. Vì lẽ đó họ có thể sẵn sàng bắt lấy con chuột, con chim chỉ để
thử nghiệm những giả thiết họ muốn.
“Chúng tôi muốn thử xem nó có thể ăn một lúc được bao nhiêu giun.
Sau đó, cũng với con chuột chù này, muốn thử xem nó có thể ăn những gì:
chúng tôi cho nó ăn tất cả mọi thứ. Cuối cùng, chúng tôi quyết định thử có
đúng là ánh nắng chiếu trực tiếp sẽ giết được chuột chù như người ta vẫn nói
tâm.
17
Con người viết câu chuyện về vương quốc kiến lớn nhất của khu rừng,
ca ngợi vẻ đẹp của nó, trong khi chính con người châm lửa đốt cái vương
quốc ấy thành đống tro tàn. Lí do đốt tổ kiến rất giản đơn: con người cần một
chỗ nghỉ trong lúc đợi bắt con chồn quý. Bên trong tổ kiến là bấy nhiêu sinh
mệnh, chúng đã sinh sống và làm tổ ở đây từ rất lâu. Con người từ xa đến, vô
cớ đốt nhà, giết hại chúng, hành vi này có khác nào kẻ xâm lược. Con người
không ý thức được điều đó. Những con kiến nhỏ bé không đáng để con người
phải suy ngẫm về hành động của mình. Tôi bỗng nhớ tới câu “Bóp chết dễ
dàng như bóp một con kiến” - đó là câu nói mà người ta dùng khi muốn khinh
rẻ, chà đạp ai đó. Con kiến nhỏ không được coi như một sinh mệnh trong mắt
con người.
Có ai biết rằng khu rừng rậm, nhiều tầng lớp cây lại từng là một nghĩa
địa rừng, nơi có bãi đốn cây mà con người để lại. Để đánh dấu bãi đẵn gỗ,
người ta đã bẻ gãy một cây bạch dương non: “phần thân gãy của nó rủ xuống
treo lủng lẳng gần như chỉ trên một rẻo vỏ mảnh hẹp” [23; 95]. Đối với con
vật, con người không coi trọng sinh mệnh của chúng, đối với cây cối, con
người càng không nghĩ chúng có sinh mệnh. Con vật bẻ gãy cánh tay còn đổ
máu, còn kêu đau nhưng cây cối thì không. Trong mắt con người hành vi bẻ
cành, bẻ ngọn chẳng hề mang đến tổn thương nào. Chúng ta không hề biết, từ
phần thân gãy ấy, chảy ra dòng nhựa trắng trong. Đó là nước mắt của cây. Cái
cây cũng rất đau, phần thân bẻ đi đấy chính là phần ngọn cây mà rễ cây, thân
cây dồn hết sức để vươn lên, chúng đã mất rất nhiều thời gian, công sức để có
thể vươn dài. Và con người chỉ mất mấy giây để bẻ nó đi. Dòng nhựa trắng
vốn chảy đến để nuôi ngọn cây, nay hóa thành dòng lệ. Chúng cứ chảy, chảy
mãi, cho tới khi trở nên khô cứng dưới ánh mặt trời. Dòng lệ trong veo, khi
giờ chỉ còn nhô ra những que cành trơ trụi.” [23;86].
19
Con người đã trở thành nỗi sợ hãi cho khu rừng, không chỉ động vật mà
còn là thực vật. Sự phát triển của chúng bị chi phối bởi bàn tay con người.
Càng đáng buồn hơn, con người hoàn toàn không ý thức được hành vi của
mình đã gây tổn thương đến loài sinh vật khác. Đối với con người chỉ là tiện
tay vịn cành hay tò mò muốn bẻ cành để xem rồi vứt đi,… Đối với cây dã anh
hành động đó khiến chúng không thể sinh tồn được trong thiên nhiên. Cây dã
anh còi cọc kia sẽ chống cự như thế nào với nắng, gió. Không có lá, cái gì sẽ
mang đến lương thực cho chúng. Chúng ta cứ cho rằng chặt phá rừng mới là
hủy diệt mà quên đi một điều, khi ta bẻ cành tức là đã bẻ đi một phần cơ thể
của cây, như con người bị bẻ mất cánh tay mà thôi.
Tại sao con người có thể tùy ý làm thương tổn thiên nhiên mà không hề
có một sự bất an nào cả? Đó là bởi con người mang theo định kiến đối với
những loài phi nhân. Định kiến phân biệt giống loài. Con người không hề có
suy nghĩ động vật, cây cối có sinh mệnh, có thân thể, có tình cảm, cảm xúc và
có quyền được sống, được tôn trọng của nó. Trong xã hội ngày nay người
với người còn không có được sự tôn trọng huống chi là loại vật. Con người sở
dĩ coi thường thiên nhiên là bởi vì chúng không nói tiếng người mà không hề
biết rằng thiên nhiên cũng có tiếng nói, chẳng qua đó không phải là ngôn ngữ
loài người mà thôi.
Thiên nhiên ở đây chính là kẻ bị hủy diệt. Khi con người hủy diệt thiên
nhiên, chúng còn chưa nhận thức được, kẻ đang tàn phá bản thân là ai. Chúng
dần nhận ra sinh vật mang tên “người” ấy qua từng ngày. Đó là sinh vật nguy
hiểm, tàn nhẫn và có sức sát thương cao hơn so với những kẻ thù trước đây.
Để sinh tồn, thiên nhiên phải trốn chạy. Lũ chuột chù không rời khỏi địa bàn
an toàn của mình. Đó là lòng đất. Chim chóc phải bay cao khi có người xuất
người ta cũng dạy chúng tôi cách ứng xử với thiên nhiên như thế: được dẫn ra
21
ngoài cánh đồng, mỗi người hái một bông hoa rồi bứt cánh để đếm xem hoa
có bao nhiêu cánh, bao nhiêu nhuỵ, đài hoa kết cấu ra sao v.v... Nói chung, sự
thể xảy ra với bông hoa cũng hệt như với những đồ chơi thời thơ bé: hình
dạng bị dập nát, xé nhỏ - và không còn cả bông hoa cũng chẳng còn cả đồ
chơi nữa.” [23; 9]. Con người cho là những hành vi nhỏ nhặt, không ác ý của
mình không thương tổn thiên nhiên, bản thân chỉ đang khám phá, hiểu biết
thiên nhiên, mà không hiểu được rằng đó chính là hủy diệt. Chúng ta không
muốn hủy diệt nhưng thực chất lại là kẻ hủy diệt. Vậy sai lầm ở đâu? Đó là do
chúng ta chưa từng đặt mình vào cuộc đối thoại với thiên nhiên, xem thiên
nhiên ở vị thế kẻ bị hủy diệt nên chúng ta không nhìn thấy những tổn thương
đó.
Đối thoại ở đây không chỉ là đối thoại của nhân vật với thiên nhiên
trong tác phẩm mà quan trọng hơn là đối thoại giữa tác phẩm và con người –
cũng chính là người đọc – để từ đó rút ra được ý nghĩa sinh thái. Chúng ta
lắng nghe được tiếng nói của con người và tiếng nói của tự nhiên. Nghe được
tiếng nói của con người, ta nhận thức được thái độ của con người với thiên
nhiên, đó là thái độ của kẻ hủy diệt, kẻ thống trị. Chúng ta cũng lắng nghe
tiếng nói của tự nhiên, nghe được nỗi đau, lo sợ mà thiên nhiên phải chịu,
phản hồi của thiên nhiên không còn ở tình trạng mất tiếng nữa. Khi nghe được
những phản hồi này, con người mới hiểu được sai lầm của bản thân, từ đó bồi
dưỡng tình yêu thương cũng như thái độ và hành động đúng đắn, nhân văn
đối với thiên nhiên.
1.2. “Chủ nhân” và “lai khách”
Con người luôn tự cho mình là chủ nhân trên trái đất này, luôn đặt mình
23
“Và khi trời trở nên ấm hơn thì lá dã anh trông giống như những con
chim nhỏ cánh xanh cũng bay về và ngụ lại như những vị khách; những cánh
sen gió tim tím bay lại, dây dầu đắng vươn thật xa, cho đến khi tất cả các tầng
rừng đều được phủ kín chồi xanh.” [23;90].
Khu rừng trống trải vào mùa đông bắt đầu được phủ xanh bởi lá dã anh,
và điểm thêm sắc màu của hoa sen gió. Sau mấy tháng nghỉ ngơi, cây cối
trong rừng đâm chồi nảy lộc. Và trong mắt “chủ nhân” của chúng ta, sự xuất
hiện của những chồi non như là những vị “khách” từ xa tới.
Những “vị khách” lần lượt xuất hiện khiến cho vùng đất nơi đống củi trở
nên ồn ào, náo nhiệt. Khung cảnh ban đầu chỉ có đống củi mục nay trở nên
ngập tràn sức sống. Con người thấy vui vì điều đó. Sự gia nhập của “khách”
khiến cho khoảnh khắc trở nên tuyệt diệu. Trong các vị “khách” có cây cối, có
chim muông, có ong bướm, cũng có thú dữ như cáo, rắn,… nhưng không
khiến con người thấy sợ hãi bất an mà lại cảm thấy bình yên.
Vị khách tiếp theo mà tác giả giật mình phát hiện là “hằng hà sa số
những con cung quăng ấu trùng của muỗi”. Những con cung quăng này, khi
lớn lên sẽ là những con côn trùng hút máu, sẽ tấn công con người. Nhân vật
“tôi” không sợ hãi hay đề phòng vị khách ấy, bởi lẽ ông biết vị khách này xuất
hiện ở đây có sứ mệnh bảo vệ vẻ nguyên sơ cho cánh rừng đầm lầy.
Và vị khách cuối cùng xuất hiện khi chủ nhân đã rời khỏi, được chủ nhân
vô cùng cảm kích đó là bầy ri đá. Chúng mổ những gì còn sót lại, dọn sạch
những dấu vết con người để lại, trả cho khu rừng sự yên tĩnh, sạch sẽ ban đầu.
Các nhân vật xuất hiện trên được đặt trong chương “Những vị khách”,
được tác giả gọi là “khách” nhưng chúng ta đặt một câu hỏi thắc mắc: Tại sao
những con vật, cây cối được gọi là “khách” lại sinh hoạt một cách tự tại, thoải
mái trên vùng đất của người khác như vậy? Chú chim chìa vôi ung dung xuất
24