ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**************************
ĐINH THỊ NHÀN
THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHUYẾN
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
**************************
ĐINH THỊ NHÀN
THIÊN NHIÊN TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN KHUYẾN
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Hải Yến
HÀ NỘI - 2016
1
2.2.3. Bức tranh tứ thời trong thơ Nguyễn Khuyến ................................................. 56
2.2.4. Nơi chốn trong thơ viết về thiên nhiên của Nguyễn Khuyến .......................... 62
Chương 3: "Phên giậu Hạ Di" giữa "hội Thăng Bình" ..................................... 71
3.1.Phức cảnh thời đại cựu tân qua bức tranh thiên nhiên của Nguyễn Khuyến71
3.1.1. Trạng thái “đối cảnh” và thực trạng “tương dữ/tương cảm” của “thiênnhân”trong thơ Nguyễn Khuyến ............................................................................. 71
3.1.2. Thiên nhiên đổ vỡ trong đời sống tinh thần của “hưu quan” Nguyễn Khuyến
............................................................................................................................................ 77
3.2. Một môi sinh bất an - ảnh xạ của bi kịch tinh thần ....................................... 80
3.2.1. Vị thế xuất – xử của Nguyễn Khuyến ............................................................ 80
3.2.2. Môi sinh bất an hay bi kịch tinh thần của Nguyễn Khuyến .......................... 82
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 87
2
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Là một phần trong đời sống của con người, từ cổ kim Đông Tây, thiên nhiên
thường à đề tài quen thuộc của văn chương ngh thuật. Quan h này đ c i t mật
thiết
thời k tiền hi n đại, tiền công nghi p khi con người và thiên nhiên c n g n
ó rất ch t ch với nhau. Chính v vậy, quan sát thiên nhiên trong văn học ngh
thế giới t nhiên ên ngoài, nh ng thừa tiếp từ h h nh văn học phương Đông trung
đại sang phương Tây cận hi n đại
Vi t Nam.
1.3. Gi a thập niên 90 của thế kỉ XX Phê
nh sinh thái đã ra đời với sứ m nh ã
hội nhân văn à phân tích chỉ ra căn nguyên văn hóa, tư tư ng dẫn đến nguy cơ sinh
thái, và đ t vấn đề nghiên cứu mối quan h gi a con người và môi trường t nhiên
đ nh n nhận căn nguyên của t nh trạng nói trên: "Trước t nh trạng môi trường toàn
cầu đang ngày một ấu đi, gi a thập niên 90 của thế kỉ XX Phê
nh sinh thái đã ra
đời với sứ m nh cao cả à phân tích chỉ ra căn nguyên văn hóa tư tư ng dẫn đến
nguy cơ sinh thái, nghiên cứu mối quan h gi a con người và môi trường t nhiên"
3
[28]. Nói cách khác, s
uất hi n của phê
nh sinh thái không chỉ đem ại
i thế
nh sinh thái à một khuynh
hướng mang đậm tinh thần phê phán văn hóa, nó hướng đến cải cách văn hóa tư
tư ng, th c đ y cách mạng phương thức sống, phương thức sản uất, mô h nh phát
tri n, ây d ng
thức sinh thái. Còn trong nghiên cứu văn chương, phê
nh sinh
thái à hướng tiếp cận các tác ph m văn chương ằng các tri thức iên ngành, như ã
hội học, văn hóa học, khoa học k thuật nhằm tác động đến nhận thức của con
người về s tương tác của chính m nh và t nhiên, đến hành vi đạo đức của con
người với phần c n ại của thế giới t nhiên.
a í do mang tính th c tế và phương pháp uận nói trên à cơ s đ ch ng tôi
nh n ại vi c th hi n thiên nhiên trong thơ Nguy n
huyến - một đề tài đã đư c
nhiều nghiên cứu trước đây àn uận nhưng phần ớn à
góc độ ên trong của văn
chương.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Lịch sử nghiên cứu chung về thơ Nguyễn Khuyến
Đ khảo sát và àm rõ ịch sử nghiên cứu chung về thơ Nguy n
huyến,
huyến à
Dương Quảng Hàm qua công tr nh Việt Nam văn học sử yếu (năm 1941). Ông đã
ếp Nguy n
huyến vào khuynh hướng trào ph ng. C ng nh n Nguy n
huyến từ
góc độ nhà thơ trào ph ng nhưng tập trung khảo sát mảng thơ Nôm của ông, năm
1957, nhà nghiên cứu Lê Trí Vi n đã dành 20 trang trong Lược thảo lịch sử văn học
Việt Nam. Đây à cuốn sách văn học sử đầu tiên của chế độ mới đánh dấu s trư ng
thành của ngành nghiên cứu văn học. Đến năm 1959 uất hi n chuyên khảo về
Nguy n
huyến - Nguyễn Khuyến, nhà thơ Việt Nam kiệt xuất của Văn Tân với
nh ng nhận di n, phân tích, và khái quát tư tư ng,
t pháp, gương m t của nhà thơ
ki t uất này. Năm 1960, uất hi n công tr nh nghiên cứu của Lam Giang - V
ỷ
t m hi u u hướng thiên về thiên nhiên trong thơ của Nguy n huyến. Đ c i t năm
1971, Xuân Di u cho ra đời cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến với nh ng cảm
đáo, khi định danh cho Nguy n
nh,
nh uận uất s c về thơ ca của
Nguy n huyến.
Vi c nghiên cứu thơ văn Nguy n huyến đã đạt đư c một thành t u mới với
công tr nh Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ (năm 1994). Đây à chuyên khảo quy
mô, th hi n đư c tư tư ng đổi mới về cách nh n của tập th các nhà nghiên cứu
ung quanh tác ph m và tư tư ng Nguy n huyến.
Toàn ộ nh ng thành t u t m t i của giới nghiên cứu trong quãng thời gian
nói trên đã đư c trưng cất trong Nguyễn Khuyến, về tác gia và tác phẩm [58]. Đây
chính à d
i u nghiên cứu có
án tiến sĩ với đề tài:
nghĩa đ năm 2008 i n Minh Điền th c hi n uận
hong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (Sự hình thành và
những đặc trưng).
Tóm ại, qua các công tr nh nghiên cứu từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu
đều nhất trí
nhiều đi m khi đánh giá về cuộc đời, s nghi p thơ văn của Nguy n
huyến: Đó à một tác giả mang
Nguy n
ài viết đ c s c "Đọc thơ Nguy n
huyến" trong cuốn Các nhà thơ cổ điển Việt Nam - Tập 1 đã nghiên cứu một cách
tinh tế về thơ Nguy n huyến. Ông nhận định: "Nguy n huyến à nhà thơ của dân
t nh àng cảnh Vi t Nam". Gần với kiến giải trên, trong Thơ văn Nguyễn Khuyến Trần Tế Xương, nhà nghiên cứu Lê Trí Vi n viết: "G n ó tha thiết với ngôi nhà
tranh, với mảnh vườn con đó à tấm
ng của Nguy n
huyến gần với nông dân
không phải ằng í uận mà ằng t nh cảm, ằng máu thịt của m nh ...".
Qua nh ng nghiên cứu công phu đó, các tác giả đã khai thác khá kĩ càng về
đề tài thiên nhiên trong thơ Nguy n huyến. Tuy nhiên họ mới tiếp cận thiên nhiên
trong thơ ông như một đề tài, một chủ đề chứ chưa tiếp cận nó như một môi sinh
với nh ng vấn đề iên quan.
3. Phạm vi nghiên cứu
hạm vi vấn đề: Với í do chọn đề tài như đã ác định
trên, uận văn s
không đi sâu nghiên cứu toàn ộ nh ng vấn đề xung quanh thơ mang chủ đề thiên
nhiên của Nguy n
huyến mà t m hi u từ góc nh n phê
hi n thiên nhiên qua ng i
nh sinh thái, tức à s th
huyến, có
huyến, uận văn s
àm rõ:
nghĩa ra sao và iên quan thế nào với
hành ử ã hội-đạo đức-th m m của nhà thơ; 2 Mối quan h đó chịu quy định như
thế nào từ thế giới quan và nhân sinh quan của tác giả. Tất cả nh ng
tư ng trên s
đư c đ t trong khuôn khổ thời đại mà Nguy n huyến sống và hành đạo.
Từ nh ng g i
của phê
nh sinh thái, uận văn s t m hi u thiên nhiên như
một môi sinh t nhiên ên ngoài con người và như một phần của môi sinh ã hội
qua tâm thế của tác giả.
5. Phương pháp nghiên cứu: Th c hi n đề tài, ch ng tôi sử dụng hai cách tiếp cận
chính à:
Phương pháp nghiên cứu văn học sử
Đây à một đề tài văn học sử nên vi c phân tích từng đơn vị tác ph m ho c
đánh giá ch ng s đư c đ t trong hoàn cảnh uất hi n của ch ng.
Phương pháp nghiên cứu phê bình sinh thái
Phương pháp nghiên cứu này à một tham chiếu mới, cho phép uận văn m
rộng thêm góc quan sát thiên nhiên trong thơ Nguy n huyến.
mang một
nghĩa thiết th c đối với vi c giáo dục môi trường sinh thái
ậc học
phổ thông qua văn học.
. Cấu tr c của luận văn
Ngoài phần MỞ ĐẦU KẾT LUẬN và TÀI LIỆU THAM KHẢO uận
văn s g m 3 chương như sau:
Chương 1. Một số vấn đề văn học sử và phương pháp tiếp cận cơ bản liên quan
đến đề tài
Chương 2: Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Khuyến – “chốn cũ lui về”
Chương 3: "Phên dậu Hạ Di" giữa "hội Thăng Bình"
9
NỘI DUNG
Chương 1
Một số vấn đề văn học sử và
phương pháp tiếp cận cơ bản liên quan đến đề tài
1.1. Những vấn đề cơ bản của phê bình sinh thái và khả năng của nó trong
nghiên cứu văn chương
Trước t nh trạng môi trường toàn cầu đang ngày một ấu đi, gi a thập niên
70 của thế kỉ XX, phê
nh sinh thái đã ra đời
M với sứ m nh cao cả à phân tích
nghĩa của một trong nh ng người chủ chốt trong vi c kh i ướng và phát tri n Phê
nh sinh thái M - Chery G otfe ty. Năm 1996, à đã viết trong cuốn sách Văn
bản hê bình sinh thái: "Phê
nh sinh thái nghiên cứu mối quan h con người và
môi trường vật chất ung quanh. C ng giống như phê
tính mà phê
nh ngôn ng và văn học. Phê
nh n quyền từ góc độ giới
nh mác ít đem phương thức sản uất
và t giác giai cấp àm nguyên t c đọc hi u văn ản, th phê
tư ng quả đất àm trung tâm đ phê
Như vậy, phê
nh sinh thái ấy tư
nh văn học." 52, 7
nh văn học sinh thái à một ki u nghiên cứu iên ngành, kết
h p gi a Sinh thái học với Văn học ngh thuật, giống như Phê
hay Phê
nh Phân tâm học. Nhưng "Phê
trường tinh thần ã hội đối với đời sống tinh thần, với sáng tác văn học, tác động
của văn học đối với môi trường tinh thần của con người.
nh văn học sinh thái trước hết à nói đến phê
phương Tây nói đến phê
nh văn học sinh thái t nhiên. Tuy
nhiên, u thế hi n nay, theo nhà triết học người Pháp Pierre Tei har de Chardin yêu
cầu phải dành cho hi n tư ng tinh thần một vị trí ứng đáng trong quá tr nh tiến hóa
của nhân oại, chứ không phải chỉ môi trường t nhiên, s
nh sinh thái tinh thần à ki u phê
a chọn t nhiên. Phê
nh ấy tư tư ng sinh thái àm trung tâm, qua đó
giải quyết các vấn đề sinh thái ã hội, ác ập í tư ng sống cao đẹp, kh c phục các
ô nhi m tinh thần, àm cho tinh thần trong sạch, cân ằng, góp phần àm ổn định ã
11
hội.
đây, văn ngh đư c em như một sinh th , các yếu tố của môi trường văn
hóa tinh thần có tác dụng nuôi dưỡng, tác động đến văn ngh gọi à môi trường sinh
thái văn ngh . Con người à động vật văn hóa, v có s tương tác của a cơ chế
thích nghi sinh thái học: cơ chế động
ni m của Nho giáo à: Thiên nhiên tương d , giao h a và à trạng thái h p nhất gi a
con người và ph m chất đạo đức con người. C n mối quan h gi a con người và t
nhiên - thế giới ên ngoài, theo quan ni m của Đạo giáo à: Coi trọng thiên nhiên,
13
ấy thiên nhiên àm khuôn mẫu cho con người "Nhân pháp Địa, Địa pháp Thiên,
Thiên pháp Đạo, Đạo pháp T
chước theo Trời, Trời
nhiên" Người
t chước theo Đạo, Đạo
t chước theo Đất, Đất
t
t chước theo T nhiên. Lão Tử -
Đạo đức kinh). "Đạo pháp t nhiên" không chỉ chủ trương uất thế, ất tranh, tri
t c, không ộc ộ s c sảo mà c n yêu cầu con người phải coi trọng t nhiên, ấy t
nhiên àm khuôn mẫu. Trong Nam hoa kinh, Trang Tử có nhiều thiên th hi n s
yêu thích của con người do cảnh tư ng thiên nhiên mang ại: "Sơn âm dư Cao
nhưỡng dư? Sử ngã hân hân nhiên nhi thủy dư? " (N i rừng ư G đất cao ên sông
ư Tất cả đều àm ta vui vẻ, vậy vui vẻ
đâu
ni m: Con người à một phần của thiên nhiên, con người sinh ra từ chính các yếu tố
14
của thiên nhiên: "Con người à h p th của Lục giới Lục đại . Lục giới (sad
dhatvah à sáu yếu tố h nh thành con người g m: đất, nước, gió, ửa, không, thức
[13, 37].
Cùng chung quan ni m con người và thiên nhiên có mối iên h ch t ch như
trên nhưng uất phát từ
thức về môi sinh hi n đại, một số nhà Phật học quốc tế
gần đây đã chủ trương: Thiên nhiên à một phần cuộc sống của con người, nhân oại
thuộc vào môi trường sinh thái. Các thái độ, hành vi đư c ươm mầm nội tại trong
m i con người. Vấn đề cơ ản đư c quan tâm ngày nay về đạo đức chính à mối
quan h gi a con người và thiên nhiên. Cùng với đà phát tri n, con người vẫn đang
cố g ng ki m soát và àm chủ thiên nhiên, qua đó tận dụng thiên nhiên v mục đích
hư ng thụ. Hành ử này dẫn đến s hủy hoại môi trường. Theo các nhà Phật học
hi n đại, thiên nhiên có th sử dụng cho s hư ng thụ về m t tinh thần. Tuy nhiên,
ời dạy của Phật à hãy đ thiên nhiên như nó vốn hi n h u, và chỉ nên thư ng thức
vẻ đẹp của thiên nhiên với một thái độ không ham muốn. Hay nói khác đi thiên
nhiên cần đư c đối ử
nh đẳng như con người 13, 75 .
Như vậy, theo Phật giáo, m c dù con người sử dụng các yếu tố t nhiên như
một công cụ đ sinh t n, nhưng môi trường s
à đi m kết th c duy tr s cân ằng
Con người à một ộ phận của giới t nhiên. Quan đi m này đã từng uất
hi n trong văn học dân gian. Ca dao ưa có câu: Đi đâu mà chẳng iết ta Ta con
ông Sấm cháu à Thiên Lôi
hi ưa ta
trên trời Đứt dây rơi uống àm người
trần gian . Truyền thuyết Thánh Gióng c ng nói, người anh hùng àng Gióng à sản
ph m của con người và trời đất
à mẹ giẫm phải vết chân ạ r i có thai … Người
Vi t thời trung đại c ng em m nh à một ộ phận của giới t nhiên. Chịu ảnh
hư ng sâu s c và âu dài của tư tư ng Nho - Đạo - Phật, họ ây d ng ối sống h a
h p với t nhiên theo nguyên
Vạn vật nhất th . Khi sáng tác, họ tuân thủ quan
ni m "Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo" và qua bút pháp "tả cảnh ngụ t nh", "tức cảnh
sinh tình".
Chịu ảnh hư ng của cả a h tư tư ng nhưng
m i giai đoạn s ảnh hư ng
đó ại có s c thái khác nhau.
Thơ ca thời L - Trần vẫn chịu s ảnh hư ng của tam giáo nhưng tư tư ng
chủ yếu à Phật giáo Thiền tông. Qua khảo sát, ch ng tôi thấy: dù à nh ng vần thơ
mang tính triết học cao hay nh ng ài thơ giản dị, thơ thời L - Trần đều đề cập đến
M c cho vận đời thịnh hay suy, đừng s hãi.
V s thịnh suy c ng mong manh như giọt sương đầu ngọn
cỏ .
ài thơ chỉ có một ch "thân" tr c chỉ con người, nh ng h nh ảnh c n ại là
thuộc về thế giới t nhiên. Và theo đó, nhà thơ muốn gửi g m một thông đi p: con
người chỉ à một phần nhỏ é của v trụ và nếu con người quên đư c "thân" tức
"ngã" th s h a đư c vào thế giới tuần hoàn đó, và đạt đến s an nhiên, t tại.
C ng ảnh hư ng
i tư tư ng Phật giáo, nh ng sáng tác của Tu Trung
Thư ng sĩ khi nh c đến thiên nhiên đều th hi n triết í Thiền:
Sinh tử do ai ãi vấn tr nh,
Nhân duyên thời tiết t nhiên thành.
Sơn vân dã h u uất sơn thế,
Giản thủy chung vô đầu giản thanh.
Tuế tuế hoa tùy tam nguy t tiếu,
Triêu triêu kê hướng ng canh minh.
A thùy hôi đ c nương sinh di n,
Thủy tín nhân thiên tống giả danh.
Thôi đừng hỏi ai ịch về con đường sống chết àm g ,
Thời tiết của nhân duyên cứ t nó h nh thành.
Mây n i đã có cái thế ay ra khỏi n i,
Nước suối không tiếng nào không phải à tiếng nước gieo vào
ng suối.
Hàng năm, hoa vẫn n vào tháng a,
Sáng sớm gà vẫn gáy vào canh năm.
Ai à người hi u đư c m t người mẹ,
Mới tin rằng người và trời đều giả danh.
a hay gần,
Gió trời thổi nào chọn nơi cao hay thấp.
Ánh sáng mùa thu l c đen
c tr ng tùy theo duyên s c,
Nhị sen đỏ thơm chẳng nhuốm ùn.
h c k di u của ản ai nên cất giọng hát,
Chẳng phải t m
Nam,
c với Đông, Tây.
Thị ch ng - ảo mọi người)
ài thơ à một ời "g i ảo mọi người" về vấn đề t tính ản th con người.
Thư ng sĩ khuyên mọi người nên đi t m t tính, chân như
ngoài tâm.
i v th
tính à trong sáng vằng v c và m i người đều có nó như à m t trăng soi th đâu phải
phân i t a, gần, gió thổi, đâu phân i t nơi cao thấp. Tùy vào duyên mà m i
người chứng ngộ theo một cách khác nhau. Đây chính à một tư tư ng rất cơ ản
của Thiền tông đư c tác giả truyền tải qua các h nh ảnh thiên nhiên.
18
hy vọng của con người trong cuộc sống:
Xuân khứ ách hoa ạc
Xuân đáo ách hoa khai
S trục nhãn tiền quá
Lão t ng đầu thư ng ai
Mạc vị uân tàn hoa ạc tận
Đ nh tiền tạc dạ nhất chi mai.
Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa đua n
Vi c đời trôi qua trước m t
Cảnh già hi n ra trên mái đầu
Chớ ảo uân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một nhành mai.
Cáo tật thị ch ng - Có
nh ảo mọi người
Như vậy, các tác ph m trên cho thấy thiên nhiên có vai tr rất quan trọng
trong văn chương Phật giáo nhưng s t n tại trong trạng thái t thân th ít có.
19
Sang thời Trần, so với thiên nhiên trong thơ văn
ch ng đầu, càng về sau
thiên nhiên mang nhiều nét th c hơn. Các nhà thơ không c n chỉ dùng thơ văn đ
thuyết giáo cho nh ng tư tư ng của nhà Phật n a mà
đời ẫn
sáng tác của m nh. Trong kháng chiến chống quân Nguyên-Mông của nhà Trần, ông
đã hơn hai ần đem tài năng thao ư c của m nh ra gi p đất nước. L c đó, con người
Tu Trung đã th hi n trọn vẹn tinh thần của một kẻ sĩ theo học Nho giáo: "Làm trai
cho đáng nên trai Xuống Đông, Đông tĩnh; ên Đoài, Đoài yên" Ca dao . Song
con người không ngại ông pha trận mạc ấy đ ng thời c ng à một thiền gia, ại có
phong thái tiêu dao của tư tư ng Lão - Trang. Đất nước thái
nh, Tu Trung tham
vấn Thiền cùng thiền sư Tiêu Dao. hi ãnh hội đư c yếu chỉ, Thư ng Sĩ ấy vi c tu
Thiền àm th vui, ui về điền trang sống đời
20
nh dị, không màng đến danh
i. Tu
Trung đã sống đ ng với tinh thần "h a quang đ ng trần", trộn ẫn cùng thế tục, h a
m nh với cuộc đời. Song tư tư ng của ông qua thơ văn c ng th hi n tương đối rõ
nét tinh thần của Đạo giáo. hi không do d tr về thái ấp, Tu Trung đ t nơi
m nh à "Dưỡng Chân" nhằm tr t ỏ mọi ảo vọng, gi
của
ấy chân tính:
Du dương trạo át quá than đầu.
21
Sông dài, thuyền nhỏ nổi ênh đênh,
Cất mái chèo qua đoạn thác ghềnh.
(Giang h t thích - Vui thích giang h
Con người
đây không phải à con người ị trói uộc
i giáo í Phật giáo,
mà à con người đạt đạo thuận theo t nhiên.
M t khác, trong thi ph m của Tu Trung c ng có nh ng h nh tư ng tùng,
cúc, trúc, mai - nh ng cây vốn rất quen thuộc trong văn chương nhà nho. Chẳng hạn
cây tùng:
Tối ái thanh tùng chùng kỷ niên,
Hưu ta địa thế s cư thiên.
Đống ương vị dụng nhân hưu quái,
Dã thảo nhàn hoa mãn mục tiền.
Rất yêu cây thông anh tr ng mấy năm trước,
Đừng th than
vào địa thế hưu quạnh.
Tài rường cột chưa đư c dùng người đời chớ ấy àm ạ,
Nơi đây có cỏ nội hoa nhàn đầy cả trước m t.
Giản đ tùng - Cây thông dưới khe
ộng uân quang.
Phong cảnh Ph c đường thật đã thoáng đãng,
Nhờ có ngọn gió Thiền vi vu mát rư i.
Giậu đổ tiêu điều, nảy ch i măng gầy,
Sân cổng thâm u kề gốc thông hoang.
Chưa g p thời thịnh đ cho người hiền uất hi n,
Hãy mừng chốn rừng sâu có muông th
ành n.
Sớm muộn trời già c ng m m t trời Phật,
Suốt từ ngõ vào đào mận đùa giỡn ánh uân.
Ph c đường cảnh vật
Trong ài thơ c n có chất phiêu diêu của cảnh sống phóng khoáng, thoát tục
- đ c đi m của tư tư ng Lão - Trang. Nhiều ài khác của ông đều có s tịnh hành
của tư tư ng Phật giáo và tư tư ng Lão - Trang.
Ngoài ra,
nhiều ài thơ thời kỳ này, thiên nhiên không chỉ à đối tư ng
th m m mà c n à điều ki n đ các nhà thơ giãi ày, ộc ộ tâm s của m nh.
Chẳng hạn, Trần Minh Tông đã mư n tiếng mưa đêm đ nói ên tâm trạng ân hận,
day dứt không nguôi suốt a mươi năm v một quyết định sai ầm của m nh dẫn đến
cái chết cho hàng trăm người vô tội trong vụ án Trần Quốc Ch n 1328 :
Thu khí h a đăng thất th minh
ích tiêu song ngoại độ tàn canh.
T tri tam thập niên tiền thác,
hẳng ả nhàn sầu đối v thanh.
Hơi thu h a cùng ánh đèn mờ đi trước ánh an mai