Con người và thiên nhiên trong truyện ngắn nguyễn huy thiệp dưới góc nhìn phê bình sinh thái (LV01950) - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

LÊ THỊ THU BỒN

CON NGƢỜI VÀ THIÊN NHIÊN
TRONG TRUYỆN NGẴN NGUYỄN HUY THIỆP
DƢỚI GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI

Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phùng Gia Thế

HÀ NỘI - 2016


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS. Phùng Gia Thế ngƣời đã hƣớng dẫn tận tình để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trƣờng Đại học Sƣ
phạm Hà Nội 2, phòng Sau đại học, quý thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tôi
trong suốt khóa học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô trong Hội đồng chấm luận văn
đã dành thời gian đọc và đóng góp ý kiến.
Mặc dù đã có những cố gắng, tìm tòi nhất định, song chắc chắn luận
văn không tránh khỏi hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong nhận đƣợc những ý kiến
đóng góp của thầy cô và các bạn để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.

1.1. Khái quát về phê bình sinh thái .............................................................. 6
1.1.1. Khái niệm phê bình sinh thái ........................................................... 6
1.1.2. Lịch sử phê bình sinh thái ................................................................ 7
1.1.2.1. Cội nguồn triết học của phê bình sinh thái ............................... 7
1.1.2.2. Sự phát triển của phê bình sinh thái .......................................... 9
1.2. Khuynh hƣớng văn xuôi sinh thái ở Việt Nam từ sau 1986 ................. 12
1.2.1. Tiền đề lịch sử ................................................................................ 12
1.2.2. Sự hình thành khuynh hướng văn xuôi sinh thái ............................ 13
1.2.2.1. Giai đoạn manh nha ................................................................ 13
1.2.2.2. Giai đoạn hình thành ý thức sinh thái ..................................... 14
Chƣơng 2. Ý THỨC PHÊ PHÁN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN
HUY THIỆP TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI ................................ 20
2.1. Ý thức về con ngƣời tội đồ trong quan hệ với thiên nhiên ................... 20
2.1.1. Tận diệt tự nhiên ............................................................................ 20
2.1.2. Chiếm đoạt không gian hoang dã .................................................. 31


2.2. Ý thức về con ngƣời nạn nhân trong mối quan hệ với tự nhiên ........... 36
2.2.1. Số phận con người trong những thảm họa tự nhiên ...................... 36
2.2.2. Niềm kính sợ đối với sinh mệnh tự nhiên ....................................... 41
2.3. Ý thức về nỗi bất an sinh thái ............................................................... 52
2.3.1. Cái nhìn phản lãng mạn về nông thôn ........................................... 52
2.3.2. Nỗi bất an đô thị ............................................................................. 58
Chƣơng 3. SỰ KIẾN LẬP CẢM QUAN ĐẠO ĐỨC SINH THÁI ............... 62
3.1. Sự nối tiếp các diễn ngôn lãng mạn về tự nhiên ................................... 62
3.1.1. Mĩ hóa thiên nhiên.......................................................................... 63
3.1.2. Quê hương như là môi trường sinh thái......................................... 74
3.1.3. Văn học đồng quê về những người nghèo khổ ............................... 76
3.2. Kiến lập mẫu hình nhân cách cho chủ nghĩa nhân văn sinh thái ......... 84
3.2.1. Lắng nghe, đồng cảm với thiên nhiên ............................................ 84

giúp chúng ta hình dung ra diện mạo và xu hƣớng phát triển của một bộ phận
văn học tiên phong. Qua đó cũng góp phần vào việc nắm bắt những biểu hiện
đặc thù và cả những “bƣớc ngoặt” trong tiến trình truyện ngắn Việt Nam từ
sau 1986.


2

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguyễn Huy Thiệp là cây bút truyện ngắn tiêu biểu của văn học Việt
Nam đƣơng đại. Sáng tác của ông đã đƣợc giới nghiên cứu phân tích từ rất
nhiều bình diện. Về việc nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, có thể
kể đến hàng trăm công trình khác nhau. Một phần lớn các công trình này đều
đã đƣợc in thành sách hoặc đăng trên các báo và tạp chí nổi tiếng. Tiêu biểu
trong số đó là các bài: “Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi gió” của Hoàng
Ngọc Hiến, “Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, vài cảm nghĩ” của Nguyễn
Đăng Mạnh, “Thử tìm cái lí bên trong của nghệ thuật Nguyễn Huy Thiệp” của
Trần Đình Sử, “Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi
Việt Nam sau 1975 qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài”,
“Nguyễn Huy Thiệp và bƣớc ngoặt của văn học Việt Nam” của La Khắc Hòa
(Lã Nguyên), “Có hay không nghệ thuật Ba-rốc trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp?” của Nguyễn Thái Hòa, “Cuốn theo chiều văn Nguyễn Huy
Thiệp” của Nguyễn Đăng Điệp…
Phân tích truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, về cơ bản các nhà phê bình
đều đánh giá cao tài năng và thành công nhà văn trong thể loại này. Trong
cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cho rằng:
"Nguyễn Huy Thiệp có lẽ là ngƣời đầu tiên trong văn học Việt Nam lập kỷ
lục có nhiều bài viết về sáng tác của mình, chỉ một thời gian ngắn không có
độ lùi của thời gian. Phê bình tức thời theo sáng tác, liên tục, lâu dài, không
chỉ trong nƣớc mà cả ngoài nƣớc, không chỉ ngƣời Việt mà cả ngoại quốc".

- “Tướng về hưu là một tác phẩm có tính nghệ thuật” của Trần Đạo (Đi
tìm Nguyễn Huy Thiệp).
- “Lời thoại trong truyện ngắn Tướng về hưu” của Nguyễn Thị Hƣơng
(Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp).
- “Đặc điểm ngôn ngữ hội thoại truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” của Lê
Thị Trang (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh, 2013).


4

- “Đặc điểm lời văn nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” của Lê
Thị Nguyệt Trong (Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, ĐHSP TP. Hồ Chí Minh, 2011).
Nghiên cứu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp dƣới góc nhìn phê bình sinh
thái, chúng tôi đặc biệt chú ý đến bài viết: “Bƣớc đầu tìm hiểu truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp từ điểm nhìn phê bình sinh thái” của Đặng Thái Hà;
“Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp từ lí thuyết phê bình sinh
thái” của Vũ Minh Đức. “Con ngƣời và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau
1975 dƣới góc nhìn phê bình sinh thái” của tác giả Trần Thị Ánh Nguyệt
(Luận án tiến sĩ Ngữ Văn, ĐHSP Hà Nội, 2015). Trong khuôn khổ những bài
viết ngắn, các tác giả trên đã đề cập vấn đề phân tích truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp dƣới góc nhìn đặc thù này. Tuy nhiên, trên thực tế, bài viết của các
tác giả nêu trên thiên về giới thiệu lí thuyết và sự ứng dụng phân tích còn rất
hạn hẹp.
Trên cơ sở kế thừa kết quả của các nhà nghiên cứu tiền bối, luận văn của
chúng tôi tập trung tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp dƣới góc nhìn phê
bình sinh thái, tập trung vào chủ đề mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên và
xem đây là một đặc điểm nổi bật tạo nên chiều sâu tƣ tƣởng, sức sống của
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đời sống văn xuôi Việt Nam đƣơng đại.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

- Phân tích những đặc trƣng cảm quan sinh thái trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp nhằm chỉ ra những đóng góp đặc biệt của ông về phƣơng
diện này trong tiến trình truyện ngắn Việt Nam đƣơng đại.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của
luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1. Khái quát về phê bình sinh thái và khuynh hƣớng văn xuôi
sinh thái ở Việt Nam từ sau 1986.
Chương 2. Ý thức phê phán trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ góc
nhìn phê bình sinh thái.
Chương 3. Sự kiến lập cảm quan đạo đức sinh thái.


6

Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ KHUYNH HƢỚNG
VĂN XUÔI SINH THÁI Ở VIỆT NAM TỪ SAU 1986
1.1. Khái quát về phê bình sinh thái
1.1.1. Khái niệm phê bình sinh thái
Sinh thái theo nghĩa gốc tiếng Latinh là nhà ở, nơi cƣ trú, bất kì một sinh
vật sống nào cũng cần nơi cƣ trú của mình.
Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm
oikos chỉ nơi sinh sống) và logos (học thuyết, khoa học). Thuật ngữ „„sinh
thái học‟‟ chỉ thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học ngƣời Đức
Ernst Haecker đƣa ra. Ông là ngƣời đầu tiên đặt nền móng cho môn khoa học
sinh thái về mối tƣơng quan giữa động vật với các thành phần môi trƣờng vô
sinh. Ngày nay, sinh thái học không chỉ tồn tại trong sinh học mà nó còn là
khoa học của nhiều ngành khác, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn.
Với tƣ cách là một khuynh hƣớng phê bình văn hóa và văn học, phê bình

mối quan hệ phức tạp, trong đó sự tồn tại của sinh vật phụ thuộc vào sự tồn tại
của những sinh vật khác trong hệ sinh thái. Can thiệp của con ngƣời hoặc phá
hủy thế giới tự nhiên đặt ra mối đe dọa không chỉ với con ngƣời mà cho tất cả
các sinh vật tạo thành trật tự tự nhiên. Quan niệm Đại địa luân lí học làm thay
đổi vai trò nhân loại trong văn minh truyền thống Phƣơng Tây. Con ngƣời từ
kẻ chinh phục, thao túng tự nhiên trở thành một thành viên trong đó. Con
ngƣời phải có sự tôn trọng thích đáng đối với tất cả các thành viên thuộc giới
hữu tình và vô tình, và cùng sinh tồn với các loài vật khác hợp thành một
cộng đồng rộng lớn, con ngƣời có nghĩa vụ trách nhiệm bảo vệ “cộng đồng
sinh vật” đƣợc hài hòa, ổn định, và đẹp đẽ.


8

Nhƣ vậy, đạo đức môi trƣờng đã mở rộng ra từ quyền con ngƣời sang
quyền của thiên nhiên. Cuối thế kỉ XX là thời kì khởi phát phong trào bảo vệ
sinh thái. Bảo vệ sinh mệnh tự nhiên là sự tiến bộ của nhân loại.
Trở về với tƣ tƣởng văn hóa phƣơng Đông cổ đại là khuynh hƣớng quan
trọng của phê bình sinh thái hiện nay. Mối quan hệ giữa con ngƣời và tự
nhiên đƣợc triết học, văn chƣơng và mĩ thuật bàn đén cách đây hàng nghìn
năm. Các nhà tƣ tƣởng Trung Hoa xem con ngƣời mang bản chất của tự nhiên
nên con ngƣời cần sống hòa hợp với tự nhiên, sống thuận theo tự nhiên.
“Thiên nhiên hợp nhất” - tƣ tƣởng Chu Dịch đã trở thành tiền đề cơ bản trong
cách ứng xử, nguồn cảm hứng vô tận của văn chƣơng phƣơng Đông. Điều đó
khẳng định sự tống nhất giữa con ngƣời và tự nhiên, con ngƣời là một phần
của tự nhiên, giữa con ngƣời và tự nhiên có mối liên quan, dung hòa nhau.
Khổng Tử yêu cầu tôn trọng, giữ gìn môi trƣờng, mùa xuân vào rừng không
đƣợc đốn cây lớn, bắt cá phải dùng mắt lƣới to. Lão Tử cho rằng con ngƣời
gắn với tự nhiên, là một bộ phận không tách rời tự nhiên. “Đạo sinh ra một,
một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật”. Tự nhiên có trƣớc con

phân tâm học, phê bình Macxit, lí thuyết tiếp nhận mà bỏ ra ngoài một sự
thực: trái đất đang lâm nguy. Dù vậy từ những năm bảy mƣơi của thế kỉ XX
có một số nhà nghiên cứu văn học và văn hóa đã phát triển lí thuyết và phê
bình về phƣơng diện sinh thái. Tuy nhiên các nghiên cứu của họ đƣợc coi là
những “nghiên cứu trƣớc tác về tự nhiên” tản mạn dƣới những tên gọi khác
nhau nhƣ: chủ nghĩa đồng quê, sinh thái học con ngƣời, chủ nghĩa địa
phƣơng, khoa học và văn học, tự nhiên trong văn học, …
Đến những năm 1990, phê bình sinh thái mới thực sự phát triển. Các hội
nghị khoa học về vấn đề môi trƣờng và văn học đƣợc tổ chức hàng năm.
Phiên họp đặc biệt nổi tiếng nhất của Hội nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại
vào năm 1991 đƣợc thành lập bởi Harold Fromm có chủ đề “Phê bình sinh
thái: Xanh hóa nghiên cứu văn học” đã thực sự tạo đƣợc tiếng vang và thúc


10

đẩy hƣớng nghiên cứu này phát triển mạnh mẽ. Năm 1994, Kroeber cho xuất
bản chuyên luận Phê bình văn học sinh thái. Năm 1995, Lawrence Buell khoa
Anh văn đại học Harvard cho xuất bản chuyên luận Tưởng tượng môi trường.
Nghiên cứu của ông là một dấu mốc cho phê bình sinh thái, có nghĩa quan
trọng và có ảnh hƣởng trong lĩnh vực này.
Tuy nhiên, để nhận thức rõ ràng về phê bình sinh thái phải kể đến ngƣời
có công phát triển phong trào phê bình sinh thái là Cheryll Glotfelty, đã đồng
biên tập với Harold Fromm một tuyển tập cốt yếu các bài viết có định hƣớng
quan trọng là Phê bình sinh thái. Năm 1992, bà cũng là nhà sáng lập ra Hiệp
hội Nghiên cứu Văn học và Môi trƣờng - ASLE. Hiệp hội này trở thành tổ
chức có hàng nghìn thành viên ở Mĩ, sau đó các chi nhánh mới thành lập ở Anh
và tiếp theo là nhiều nƣớc Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Canada…
Phong trào phê bình sinh thái ở Anh và Mĩ có đôi chút khác biệt. Phê
bình sinh thái hay phê bình xanh của Anh quốc lại đƣợc sinh thành từ phong

nghĩa sinh thái học lãng mạn của Heidegger, lí thuyết về trạng thái tự nhiên
của Rousseau. Năm 2004, Grey Garrard xuất bản chuyên luận Phê bình sinh
thái, bàn về diễn ngôn chủ yếu của phê bình sinh tái từ 8 phƣơng diện nhƣ ô
nhiễm môi trƣờng, nơi chốn, điền viên, hoang dã, tận thees, cƣ trú, động vật,
trái đất. Một cuốn sách cũng cần đƣợc nhắc đến ở đây là Sự mơ hồ sinh thái:
Khủng hoảng môi trường và văn học các nước Đông Á (2012) của Karen
Thronber. Mở rộng diện quan tâm của phê bình sinh thái ra khỏi các nƣớc
ngoài phƣơng Tây: Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan.
Nhƣ vậy, phê bình sinh thái ngày càng đƣợc mở rộng phạm vi nghiên
cứu và ngày càng thu hút đƣợc nhiều giới nghiên cứu với những công trình
quan trọng. Phê bình sinh thái không chỉ nghiên cứu tự nhiên hay hiện hữu tự
nhiên trong văn học, mà hơn thế nó liên hệ chặt chẽ đến biến đổi môi trƣờng.
Từ đó, mở ra một cách tiếp cận chức năng của sinh thái học văn hóa.


12

1.2. Khuynh hƣớng văn xuôi sinh thái ở Việt Nam từ sau 1986
1.2.1. Tiền đề lịch sử
Chiến tranh suốt ba mƣơi năm có tính chất hủy diệt (Ruộng đã khô, nhà
đã cháy, thành phố đã tan hoang - Trịnh Công Sơn) để lại những tổn thất về
môi trƣờng dài lâu mà con ngƣời chƣa thể khắc phục ngay đƣợc. Những nỗi
đau da cam hiện đang bào mòn nhiều thế hệ và ngấm ngầm tàn phá môi
trƣờng với những cánh rừng trơ trụi, nhiễm độc đất đai, nguồn nƣớc… Sinh
thái hậu chiến tranh do vậy vẫn còn là nỗi đau dai dẳng.
Mặt khác, công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng khiến cho môi trƣờng bị
biến đổi. Vì lợi ích kinh tế, chúng ta không thể không tác động vào tự nhiên,
nhƣng khi tác động phải trả giá cho sự phát triển trƣớc mắt bằng những nguy
cơ lâu dài. Sự lạm dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật đã làm ô nhiễm và
cạn kiệt môi trƣờng tự nhiên. Khai thác hủy diệt không tính đến những tác

Biến đổi khí hậu, khủng hoảng môi trƣờng sinh thái và những vấn đề
toàn câù hóa trở thành những áp lực rất lớn mà văn chƣơng không thể bỏ qua.
Đứng trƣớc những vấn đề bức thiết của đời sống, văn học cũng cần có trách
nhiệm với trái đất đang ngày một kiệt quệ. Bởi vậy, sự thay đổi trong suy nghĩ
liên quan đến con ngƣời với môi trƣờng cũng cần đƣợc đổi thay ngay từ
chính văn học. Khuynh hƣớng văn học sinh thái ra đời đã áp ứng yêu cầu của
thời đại.
1.2.2. Sự hình thành khuynh hướng văn xuôi sinh thái
1.2.2.1. Giai đoạn manh nha
Trong văn học giai đoạn 1945 – 1975, đã có những mầm mống cho việc
xuất hiện văn học sinh thái. Cội nguồn của nó bắt rễ từ tình yêu với quê
hƣơng đất nƣớc: tình yêu với hƣơng cây cỏ nồng nàn (Hƣơng cỏ mật - Đỗ
Chu; Mùa hoa dại - Xuân Quỳnh…), với những âm thanh giản dị gần gũi
(Tiếng gà trƣa - Xuân Quỳnh), với dòng sông, cánh đồng quen thuộc (Đồng
Chí - Chính Hữu, Đất nước - Nguyễn Đình Thi, Hòn đất - Anh Đức, …). Dù


14

vậy, vẫn có sự khác biệt nhất định, mặc dù văn học giai đoạn 1945 - 1975 có
nói đến thiên nhiên nhƣng để biểu tƣợng cho cái sức sống vĩnh hằng bất tử dù
cuộc chiến khốc liệt. Văn học cũng nói đến sự phá hoại của chiến tranh đối
với tự nhiên nhƣng chủ yếu nghiêng về tố cáo tội ác của giặc (Cánh đồng
hoang - Nguyễn Quang Sáng, Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành, Dấu chân
người lính - Nguyễn Minh Châu, …). Sinh thái mang tinh thần hiện đại, vì thế
chƣa hình thành.
Văn học sau năm 1975 với quán tính của nó cũng có những sáng tác đi
theo dòng chảy tố cáo tội ác phá hoại thiên nhiên nhƣ Miền cháy – Nguyễn
Minh Châu, Lời hứa của thời gian – Nguyễn Quang Thiều,… hay dòng “văn
học da cam”: di chứng chất độc màu da cam của dioxin tàn phá môi trƣờng

viết với ý thức sinh thái. Văn học sinh thái chống lại sự nhân hóa tự nhiên.
Khác với các truyện truyền thống về thế giới tự nhiên, chỉ có một nhân vật
xuyên suốt câu chuyện, chỉ có một tiếng nói cất lên sau hình tƣợng đó. Ngƣợc
lại, trong các truyện sinh thái, bên cạnh thế giới con ngƣời là thế giới muông
thú với những tình cảm, tính cách, cá tính… rất riêng. Tự nhiên có sinh mệnh
độc lập, có địa vị bên ngoài mọi quan niệm của con ngƣời.
Thứ hai, văn học sinh thái lấy chủ nghĩa chỉnh thể sinh thái làm cơ sở tƣ
tƣởng, lấy lợi ích chỉnh thể của hệ thống sinh thái làm giá trị cao nhất để khảo
sát và biểu hiện mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiển và truy tìm nguồn
gốc xã hội của nguy cơ sinh thái. Thực chất, mối quan hệ giữa con ngƣời và
sinh thái là mối quan hệ cộng sinh, do vậy tác phẩm viết về mối quan hệ giữa
con ngƣời và thiên nhiên phải có quan điểm sinh thái.
Thứ ba, cân bằng tự nhiên cũng đảm bảo cho cân bằng xã hội. Đó là lí do
vì sao văn học sinh thái tích hợp với các vấn đề xã hội: giới tính, chủng tộc,
giai cấp, xã hội,…
Từ cái nhìn nhƣ vậy, nhìn vào văn xuôi sau 1975, chúng tôi đã thấy xuất
hiên các chủ đề sinh thái:


16

Văn học sinh thái truy tìm nguồn gốc nguy cơ sinh thái. Vì vậy, phê
phán mặt trái văn minh một đặc điểm nổi bật của khuynh hƣớng văn học
này với hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Ngọc Tƣ,
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Trí, Sƣơng Nguyệt Minh, Hoàng Minh Tƣờng,
Trần Duy Phiên, …
Văn học sinh thái chú trọng đến trách nhiệm của con ngƣời đối với tự
nhiên, khẩn thiết kêu gọi bảo vệ vạn vật trong tự nhiên và duy trì cân bằng
sinh thái. Đó là những tác phẩm nhƣ: Sống mãi với cây xanh – Nguyễn Minh
Châu, Thập giá giữa rừng sâu – Nguyễn Khắc Phê, Khói trời lộng lẫy –

ỷ vào sức mạnh khoa học để tàn phá tự nhiên dƣới góc nhìn sinh thái. “Một
đời bố có thua ai”, “Bố huênh hoang tạo dƣng cơ ngơi”, cậy mình có trí thông
minh (cậu Bảy là kĩ sƣ, biết vận dụng những thành quả của khoa học kĩ thuật:
ánh sáng đèn dụ mối, xây dựng hệ thống chuồng trại theo một quy trình bài
bản, hợp lí để sản xuất theo dây chuyền chuyên nghiệp vận dụng rất ít sức
ngƣời). Việc các nhân vật rời phố thị lên rừng để lập trại chăn nuôi, trồng trọt
nhƣ là một ẩn dụ cho việc con ngƣời đang ngày càng xâm lấn tự nhiên, dành
đất sống của muôn loài, khai thác cạn kiệt tự nhiên.
Một tác giả khác ngƣời tạo nên “khúc ngoặt” (Lã Nguyên) cho văn xuôi
Việt Nam sau năm 1975 – Nguyễn Huy Thiệp đã đƣa ra những triết lí sinh
thái thực sự có chiều sâu. Nếu nhƣ tời kì đầu, nhà văn tập trung vào các chủ
đề trực diện của việc tự nhiên trả thù (Sói trả thù, Con thú lớn nhất, …), vế
sau, ông “nghe” đƣợc đòi hỏi sâu kín mà ngày càng bức xúc của những bất ổn
nông thôn trƣớc sự xâm lấn đô thị (Thương nhớ đồng quê, Những bài học ở
nông thôn, …). Với những tác phẩm của mình, Nguyễn Huy Thiệp tạo ra một
dòng “văn học tự vấn” mà có lẽ bất cứ nhà văn nào ƣu tƣ với cuộc đời này
đều mong muốn đi tìm câu giải đáp cho cái bất an, những vẻ đẹp tự nhiên
đang dần mai một, về những chất chồng bất ổn của đô thị hóa…


18

Sau này, cùng với sự du nhập của các triết lí môi trƣờng hiện đại, những
cảnh báo Việt Nam là một trong năm nƣớc chịu ảnh hƣởng của biến đổi khí
hậu… dội vào sáng tác, do vậy văn xuôi sinh thái đã có những tác phẩm đáng
ghi nhận viết trực diện về những vấn đề cua văn học và môi trƣờng: Kẻ ám sát
cánh đồng, Nguyễn Quang Thiều; Trăm năm còn lại, Trần Duy Phiên; Nơi
hoang dã đồng vọng, Sƣơng Nguyệt Minh; Gia phả của đất, Ngọc đất, Hoàng
Minh Tƣờng;…Văn xuôi sinh thái, từ chỗ lực lƣợng sáng tác là những nhà văn
viết nhiều chủ đề trong đó có chủ đề sinh thái nay đã có một số nhà văn chuyên

Chƣơng 2
Ý THỨC PHÊ PHÁN TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN HUY THIỆP TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
2.1. Ý thức về con ngƣời tội đồ trong quan hệ với thiên nhiên
2.1.1. Tận diệt tự nhiên
Khảo sát truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi nhận thấy, nói về
việc tàn sát đối với tự nhiên, tận diệt tự nhiên có các những truyện ngắn nổi
bật: Muối của rừng, Con thú lớn nhất, Sói trả thù, Trái tim hổ. Trong truyện
ngắn Con thú lớn nhất, Nguyễn Huy Thiệp viết về một tay thợ săn ở Hua Tát
rất tài tình: kể về thành tích của lão mà ngƣời đọc không thấy nể tài săn bắn,
lại thấy sợ hãi, rùng mình:
“Ngƣời chồng là tay thợ săn cự phách: Khẩu súng kíp trong tay lão nhƣ
có mắt. Mỗi khi khẩu súng giơ lên, ít khi có chim chóc hoặc thú rừng nào
thoát chết. Đằng sau nhà lão, lông chim, xƣơng thú chất đầy thành đống.
Những đống lông chim xơ xác đen xỉ nhƣ màu mực tàu, còn những đống
xƣơng thú màu đá vôi thì lốm đốm những vệt nƣớc tủy màu vàng khè, hôi
hám. Những đống ấy to nhƣ những cái mả. Lão thợ săn nhƣ là hiện thân thần
Chết của rừng. Chim chóc và thú rừng sợ hãi lão. Cánh thợ săn ở Hua Tát vừa
ghen tị, vừa bất bình với lão. Lão không tha bất cứ con vật nào trong tầm súng
của mình” [69; tr.11]
Nguyễn Huy Thiệp miêu tả chi tiết về đống lông chim, xƣơng thú đằng
sau nhà lão thợ săn ngụ cƣ ở Hua Tát. Tác giả ví lão ta nhƣ hiện thân Thần
Chết của rừng.
Quả tay thợ săn ấy hiện lên với hình dáng và khuôn mặt đúng nhƣ Thần
Chết: “Cao lớn, gầy guộc, mặt sắt lại, mũi nhƣ mỏ chim. Đôi mắt của lão đục
và sâu hoắm, phảng phất những tia lân tinh lạnh lẽo”. Đáng chú ý nhất là đôi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status