Luận án Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái - Pdf 40

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU..........................................................................................................
1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................
3. Nhiệm vụ của luận án....................................................................................
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................
5. Những đóng góp mới của luận án.................................................................
6. Cấu trúc của luận án......................................................................................
Chương 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU......................................
1.1. Phê bình sinh thái – Một khuynh hướng mới trong phê bình
văn học............................................................................................................
1.1.1. Khái niệm phê bình sinh thái...............................................................
1.1.2. Lịch sử phê bình sinh thái...................................................................
1.1.3. Phê bình sinh thái - một khuynh hướng nghiên cứu văn học............
1.2. Lịch sử phê bình mối quan hệ con người với tự nhiên trong văn
học Việt Nam..................................................................................................
1.2.1.Các công trình nghiên cứu.................................................................
1.2.2. Phê bình sinh thái – những khởi đầu mới mẻ....................................
Chương 2: KHUYNH HƯỚNG VĂN XUÔI SINH THÁI VIỆT NAM
.........................................................................................................................
SAU NĂM 1975.............................................................................................
2.1. Những tiền đề lịch sử xã hội của văn học sinh thái Việt Nam............
2.2. Sự hình thành của văn xuôi sinh thái sau năm 1975...........................
2.2.1. Giai đoạn manh nha..........................................................................
2.2.2. Giai đoạn hình thành ý thức sinh thái...............................................
2.3. Những thay đổi trong cách thể hiện mối quan hệ giữa con người
và tự nhiên......................................................................................................
2.3.1. Thay đổi điểm nhìn............................................................................
2.3.2. Thay đổi motif cốt truyện..................................................................




TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghiên cứu văn học sau khi “trở về chính mình” với những lí thuyết như chủ
nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hình thức, phê bình mới… chủ yếu quan tâm đến những
phương diện nội tại của tác phẩm dường như nhiều khi trở nên tự thu hẹp, khó tiếp
cận với những vấn đề đương đại rộng lớn. Mặt khác, các trường phái nghiên cứu
văn học hiện nay với những mối bận tâm về con người: phê bình phân tâm học, phê
bình Marxism , lí thuyết tiếp nhận… trên thực tế đã đạt được nhiều thành tựu nhưng
có lẽ “đang trong giai đoạn thác ghềnh và thỉnh thoảng mất phương hướng” [150,
xvii]. Cần phải tìm một hướng đi khác cho nghiên cứu văn học. Do vậy hiện nay,
bên cạnh những hướng nghiên cứu văn học trước đó vẫn đang có những tìm tòi mới
mẻ và đạt được nhiều thành tựu thì cũng xuất hiện sự chuyển hướng văn hóa trong
nghiên cứu văn học, xuyên qua văn học để quan sát sự đổi thay văn hóa, nghiên cứu
ý thức văn hóa được thể hiện như thế nào trong văn học, nghiên cứu ý thức về xã
hội, ý thức về môi trường thể hiện trong văn học.
Thế kỉ XXI là thế kỉ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con người phải đối
mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất. Trong xã hội hiện đại, cùng với tốc độ đô thị
hóa và sự ỷ lại vào khoa học kĩ thuật con người đang ngày càng quay lưng với tự
nhiên, khai thác quá mức, khiến cho tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Thiên nhiên trả
thù con người không phải chỉ bằng các thảm họa, thiên tai, mà đáng sợ hơn, trả thù
bằng sự biến mất của chính nó. Cái “dây chuyền sống” huyền diệu của tạo hóa đang
ngày càng bị phá hủy. Phê bình sinh thái (ecocritisim) nổi lên khi vấn đề biến đổi
khí hậu, sự xuống cấp về môi trường không còn là vấn đề của mỗi quốc gia dân tộc

những căn nguyên của những thảm họa môi trường. Mặt khác, vấn đề tự nhiên bao
giờ cũng có mối liên hệ với xã hội. Do vậy, luận án cũng xem xét sự kết nối tính
sinh thái với các vấn đề xã hội để thấy hành trình bóc lột tự nhiên có mối liên hệ với
hành trình bất công xã hội. Từ đó, phê bình sinh thái đặt ra nhiều vấn đề về sự bất
công môi trường, về nông thôn và thành thị, những vấn đề áp bức phụ nữ, vấn đề
giai cấp... Từ thực trạng suy thoái môi trường cần thức tỉnh ý thức sinh thái và tạo ra
những góc nhìn khác về sự sống mà có thể cung cấp nền tảng đạo đức và kiến thức
cho cách hiểu đúng đắn về tương quan giữa các tồn tại trên trái đất.
Thứ hai, từ cái nhìn sinh thái dưới góc độ văn học, chúng tôi "đọc" các mã
văn học thể hiện ý thức sinh thái trên các phương diện chủ đề, motif cốt truyện,
nhân vật, cảm hứng, ngôn ngữ và giọng điệu. Từ đó chỉ ra những đặc điểm của văn
học sinh thái như là một xu hướng văn học có tầm quan trọng xã hội thẩm mĩ và
chứa đựng bên trong những nhân tố cách tân văn học.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Dựa trên phê bình sinh thái Anh-Mĩ, hướng tiếp cận nảy sinh trong thời đại
khủng hoảng môi trường, đề tài chỉ ra những điểm có thể vận dụng lí thuyết phê
bình sinh thái để nghiên cứu dựa trên văn xuôi hư cấu sau năm 1975, chủ yếu là
truyện ngắn và tiểu thuyết làm đối tượng khảo sát chính. Từ đó để thấy sự phản ứng
của văn học trước những khủng hoảng sinh thái đang diễn ra.


3
3. Nhiệm vụ của luận án
- Khảo sát các tác phẩm văn xuôi sinh thái sau năm 1975; phân tích các tác
phẩm dưới góc nhìn của phê bình sinh thái
- Đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về văn học sinh thái Việt Nam sau năm 1975
- Khảo sát những bình diện khác nhau của khuynh hướng văn xuôi sinh thái
4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những phương pháp được sử dụng như những thao tác thường xuyên
trong nghiên cứu văn học như thống kê – phân loại, phân tích, tổng hợp, so sánh

chương đương đại, là 1) cảm hứng phê phán trên tinh thần sinh thái và 2) xác lập
đạo đức sinh thái.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Khuynh hướng văn xuôi sinh thái Việt Nam sau năm 1975
Chương 3: Cảm hứng phê phán từ điểm nhìn phê bình sinh thái
Chương 4: Kiến lập cảm quan đạo đức sinh thái


5
Chương 1
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Phê bình sinh thái – Một khuynh hướng mới trong phê bình văn học
1.1.1. Khái niệm phê bình sinh thái
Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Latin là nhà ở, nơi cư trú, bất kì một
sinh vật sống nào cũng cần nơi cư trú của mình.
Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm
oikos (chỉ nơi sinh sống) và logos (học thuyết, khoa học). Thuật ngữ “sinh thái học”
chỉ thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học người Đức Ernst Haecker đưa ra.
Ông là người đầu tiên đặt nền móng cho môn khoa học sinh thái về mối tương quan
về động vật với các thành phần môi trường vô sinh. Trải qua hàng trăm năm phát
triển, sinh thái học đã có rất nhiều định nghĩa nhưng chung nhất vẫn là học thuyết
nghiên cứu về nơi sinh sống của sinh vật, mối tương tác giữa cơ thể sinh vật sống và
môi trường xung quanh. Ngày nay, sinh thái học không chỉ tồn tại trong sinh học mà
nó còn là khoa học của nhiều ngành khác, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn.
Với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn hóa và văn học, phê bình
sinh thái (ecocriticism), được hình thành ở Mĩ vào giữa những năm 90 của thế kỉ
XX, đã hấp thu tư tưởng cơ bản của sinh thái học vào nghiên cứu văn học “dẫn
nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học” [89].

Khu vực ba: vùng nông thôn (the countryside). Thí dụ đồi, cánh đồng, rừng cây..
Khu vực bốn: cảnh trí nhân tạo quanh nhà (the domestic picturesque). Thí dụ
công viên, vườn, đường…
Khi chúng ta di chuyển (trong suy nghĩ) giữa các khu vực này, rõ ràng chúng ta
đã di chuyển từ khu vực thứ nhất – “thuần túy” tự nhiên sang khu vực thứ tư – phần lớn
là “văn hóa”. Dĩ nhiên, cái hoang dã bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng nhà kính – vốn là do văn
hóa tạo ra, và các khu vườn thì tồn tại phụ thuộc vào ánh nắng – vốn thuộc lực lượng tự
nhiên [140, 252]. Do vậy, các nhà phê bình sinh thái sử dụng thuật ngữ human/
nonhuman khi chỉ mối quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên. Karen Thornber
giải thích “sử dụng thuật ngữ "nonhuman" (thế giới phi nhân loại) để chỉ sinh học (nghĩa
là, các sinh vật không phải con người) và vô sinh (có nghĩa là để nói, yếu tố vật chất
không sống như không khí, nước và đất). Tôi sử dụng thuật ngữ " human" (nhân loại) để
chỉ con người và công trình xây dựng của con người cả về vật chất và trí tuệ, bao gồm
cả công nghệ” [158]. Phê bình sinh thái khẳng định tầm quan trọng của việc nhấn mạnh
đến mối quan hệ giữa nhân loại (human) và phi-nhân-loại (nonhuman) trong các diễn
ngôn văn hóa. Phê bình sinh thái trở thành một giải pháp khôi phục ý nghĩa và tầm quan
trọng của tự nhiên với con người cũng như khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong việc
định hình và thay đổi các quan niệm về tự nhiên như lời khẳng định của Glotfelty
Toàn bộ phê bình sinh thái chia sẻ những giả thuyết cơ bản mà văn
hóa con người kết nối với tự nhiên, ảnh hưởng tới nó và chịu ảnh hưởng của
nó. Phê bình sinh thái đặt vấn đề quan hệ nối kết giữa tự nhiên và văn hóa,
đặc biệt là sự tạo tác văn hóa của ngôn ngữ và văn học. Như một quan điểm
phê bình, phê bình sinh thái đặt một chân ở văn học và chân kia trên mặt đất,
như là một diễn ngôn lí thuyết, phê bình sinh thái dàn xếp giữa con người
(human) và (thế giới) phi nhân loại (nonhuman) [151, xix].


7
1.1.2. Lịch sử phê bình sinh thái
1.1.2.1. Cội nguồn triết học của phê bình sinh thái

học bề sâu) coi tự nhiên và chúng ta cùng một thể. Nguyên tắc cốt lõi của sinh thái
học bề sâu là niềm tin rằng môi trường sống như một chỉnh thể cần được được tôn
trọng. Môi trường sống có những quyền bất khả xâm phạm để sinh sống và phát
triển, độc lập với lợi ích thực dụng của con người. Sinh thái bề sâu cho rằng thế giới
tự nhiên là một sự cân bằng tinh tế của mối quan hệ phức tạp, trong đó sự tồn tại


8
của sinh vật phụ thuộc vào sự tồn tại của những sinh vật khác trong hệ sinh thái.
Can thiệp của con người hoặc phá hủy thế giới tự nhiên đặt ra một mối đe dọa do đó
không chỉ đối với con người mà cho tất cả các sinh vật tạo thành trật tự tự nhiên .
Aldo Leopold (1887 - 1948) được coi là người đầu tiên đề xướng sự bảo vệ sinh
thái của phương Tây cận đại. Niên giám về đất nước sa mạc (A sand country almanac,
1949, Oxford University press, 1966) của Aldo Leopold được coi là tác phẩm kinh
điển, cuốn sách chuẩn mực cho các khóa học văn học Mỹ. Trong đó chương Đại địa
luân lí học (Land Ethics) biểu đạt tư tưởng cốt lõi của ông: con người và đất đai, nước,
thực vật và động vật tồn tại mối quan hệ luân lí. Xét trên lập trường nhân loại, động thực vật khác trên trái đất chỉ là tài sản. Mối quan hệ giữa người và đất đai vẫn thuần là
kinh tế, con người chỉ có quyền lợi mà không có nghĩa vụ đối với đất đai. Thuật ngữ
quan trọng nhất để Aldo Leopold giải thích là “cộng đồng” (Community), ông cho rằng
mỗi cá nhân đều sống trong một môi trường xã hội, trở thành một bộ phận cùng nương
tựa nhau để tồn tại trong cộng đồng này. Phạm vi đạo đức trước đây giới hạn trong
“cộng đồng nhân loại” (Humman Community), mối quan hệ này chỉ coi trọng quan hệ
con người và con người, con người với xã hội, còn “luân lí môi trường” mở rộng ra
Cộng đồng sinh vật (Biotic Community) bao gồm cả cỏ cây, sông nước, động vật… thế giới của muôn loài. Quan niệm Đại địa luân lí học làm thay đổi vai trò nhân loại
trong văn minh truyền thống phương Tây. Con người, từ kẻ chinh phục, kẻ thao túng tự
nhiên trở thành một thành viên trong đó. Con người phải có sự tôn trọng thích đáng đối
với tất cả các thành viên thuộc giới hữu tình và vô tình, và cùng sinh tồn với các loài
khác hợp thành một cộng đồng rộng lớn, con người có nghĩa vụ trách nhiệm bảo vệ
“cộng đồng sinh vật” được hài hòa, ổn định, và đẹp đẽ “Hành vi mà có thể bảo hộ tính
chỉnh thể, tính ổn định, và vẻ đẹp của Cộng đồng sinh vật là đúng, trái ngược lại với

Đại học Harvard liên tục xuất bản nhiều chuyên luận bàn về giá trị to lớn của tư
tưởng sinh thái phương Đông cổ đại đối với trào lưu văn hóa sinh thái [theo 139].
Rõ ràng, mối quan hệ giữa con người và tự nhiên được triết học, văn chương
và mĩ thuật bàn đến cách đây hàng nghìn năm. Các nhà tư tưởng Trung Hoa xem con
người mang bản chất của tự nhiên nên con người cần sống hòa hợp với tự nhiên,
sống thuận theo tự nhiên. “Thiên nhân hợp nhất” - tư tưởng Chu Dịch đã trở thành
tiền đề cơ bản trong cách ứng xử, nguồn cảm hứng vô tận của văn chương phương
Đông. Điều đó khẳng định sự thống nhất giữa con người và tự nhiên, con người là
một phần của tự nhiên, giữa con người và tự nhiên có mối liên quan, dung hòa nhau.
Khổng Tử yêu cầu tôn trọng, gìn giữ môi trường, mùa xuân vào rừng không được
đốn cây lớn, bắt cá phải dùng mắt lưới to. Lão Tử cho rằng con người gắn với tự
nhiên, là một bộ phận không tách rời tự nhiên: “Đạo sinh ra một, một sinh ra hai,
hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật”, cho nên mọi vật đều sinh ra từ Đạo, là biểu hiện
của Đạo do vậy “trời đất với ta cùng sinh ra, vạn vật với ta là một”. Tự nhiên có
trước con người, tồn tại và vận động theo quy luật khách quan, con người theo quy
luật của tự nhiên để hành động cho hợp lẽ “Thiên nhiên và hoạt động tự nhiên, sự
âm thầm diễn ra của các biến cố đời đời kiếp kiếp, sự tuần hoàn của bốn mùa, sự
vận chuyển uy nghi của tinh tú, đó là cái đạo mà ta thấy trong mỗi dòng suối, mỗi
phiến đá, mỗi ngôi sao, đó là cái luật của vũ trụ, vô tư, vô ngã, mà lại hợp lí, và loài
người phải hành động theo luật ấy nếu muốn sống khôn ngoan và yên ổn” [25, 53].
Bởi vậy, người phương Đông thường lựa chọn cách sống hài hòa với tự nhiên để


10
được thanh thản, đủ đầy. Vì con người xa rời Đạo, đánh mất đi sự hồn nhiên chất
phác của mình nên sinh ra loạn lạc, vì vậy con người cần giữ gìn bản chất tự nhiên,
nhu thuận cũng chính là gìn giữ và nuôi dưỡng bản tính trẻ thơ của mình. Thuyết
Đồng tâm cho rằng những áng văn chương hay nhất trong thiên hạ chưa bao giờ lại
không nảy sinh từ trái tim trẻ thơ (Lí Chất).
Trong các sử thi phương Đông, còn có những bài học về sự hòa hợp tự nhiên.



11
bản địa hay các tôn giáo Phương Đông được coi là “hê ô thống tôn giáo chứa đầy các
tín điều sáng suốt về tự nhiên và thế giới tinh thần” [151, xxi].
Trong khi đó văn học được đánh giá là “phản ứng chậm” vì hình như vẫn bỏ
ngỏ mối quan tâm đến môi trường. Những nghiên cứu của văn học thế kỉ XX vẫn là
những mối bận tâm đến con người: phê bình nữ quyền, phê bình phân tâm học, phê
bình Macxit, lí thuyết tiếp nhận… mà bỏ ra ngoài một sự thực: trái đất đang lâm nguy.
Dù vậy, từ những năm bảy mươi của thế kỉ XX có một số nhà nghiên cứu văn học và
văn hóa đã phát triển lí thuyết và phê bình về phương diện sinh thái. Tuy nhiên các
nghiên cứu của họ được coi là những “nghiên cứu trước tác về tự nhiên” (the study of
nature writing) tản mát dưới những tên gọi khác nhau như chủ nghĩa đồng quê, sinh
thái học con người, chủ nghĩa địa phương, khoa học và văn học, tự nhiên trong văn
học, phong cảnh trong văn học... Ngay từ khi xuất hiện, phê bình sinh thái đã không
thuần nhất, bởi vậy, định danh khái niệm cũng là một vấn đề. Nếu như ở Anh người ta
thường sử dụng thuật ngữ “nghiên cứu xanh” (green study) thì ở Mỹ lại thích sử dụng
thuật ngữ “phê bình sinh thái” (ecocritism). Nhiều thuật ngữ khác cũng thường được sử
dụng như “thi pháp sinh thái” (ecopoetics), “phê bình văn học môi trường”
(environmental literary criticism), hay “nghiên cứu (văn hóa) xanh”
(green(cultural)studies), sáng tác tự nhiên (nature writing), sinh thái học lãng mạn
(Romantic Ecology)… Chúng tôi đồng ý với Cheryll Glotfelty và nhiều học giả khác
về việc thống nhất thuật ngữ ecocritism (phê bình sinh thái) vì nó ngắn gọn và có thể
dễ dàng tạo thành dạng thức khác là ecocritical (tính chất phê bình sinh thái) và
ecocritic (nhà phê bình sinh thái). Hơn nữa, tiền tố “eco-” (sinh thái) hay hơn tiền tố
“enviro-” (môi trường) bởi vì tương tự khoa học sinh thái học, phê bình sinh thái
nghiên cứu mối quan hệ giữa các sự vật, trong trường hợp này, giữa văn hóa và thế giới
tự nhiên. Mặt khác, tiền tố “enviro-” (môi trường) ngụ ý rằng, con người chúng ta là
trung tâm, tất cả mọi thứ xung quanh chúng ta là môi trường. Ngược lại, tiền tố “eco-”
(sinh thái) ám chỉ các cộng đồng phụ thuộc lẫn nhau, những hệ thống hòa hợp và sự kết

nghị khoa học về vấn đề môi trường và văn học được tổ chức hằng năm. Phiên họp
đặc biệt nổi tiếng nhất của Hội nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại (MLA) vào năm
1991 được thành lập bởi Harold Fromm có chủ đề “Phê bình sinh thái: Xanh hóa
nghiên cứu văn học” đã thực sự tạo được tiếng vang và thúc đẩy hướng nghiên cứu
này phát triển mạnh mẽ. Năm 1994, Kroeber cho xuất bản chuyên luận Phê bình
văn học sinh thái: tưởng tượng lãng mạn và sinh thái học tinh thần (Ecological
literary criticism; romantic imagining and the Biology of mind, Columbia
University Press, 1994), đề xướng "phê bình văn học sinh thái" (ecological literary
criticism), "Phê bình mang khuynh hướng sinh thái" (ecological oriented criticism).
Năm 1995, Lawrence Buell khoa Anh văn đại học Harvard cho xuất bản chuyên
luận Tưởng tượng môi trường: Thoreau, văn viết về tự nhiên và sự cấu thành của
văn hóa Mĩ (The Enviromental Ima gination: Thoreau, Nature Writing, and the
Formation of American Culture, Harvard University Press, 1995). Khi nghiên cứu
về Thoreau từ góc độ sinh thái cung cấp cho "văn học xanh" một số chỉ đạo có tính
tổng thể về phương pháp luận và lí luận. Nghiên cứu của ông là một dấu mốc cho
phê bình sinh thái. Một tác phẩm rất quan trọng và có ảnh hưởng trong lĩnh vực này
- đây là cuốn sách phổ biến về phê bình sinh thái.
Tuy nhiên, để nhận thức rõ ràng về phê bình sinh thái phải kể đến người có công


13
phát triển phong trào phê bình sinh thái là Cheryll Glotfelty, đã đồng biên tập với Harold
Fromm một tuyển tập cốt yếu các bài viết có tính định hướng quan trọng là Tuyển tập
Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học (The Ecocriticism
Reader: Landmarks in Literary Ecology, University of Georgia Press, 1996). Năm 1992
bà cũng là nhà sáng lập ra Hiệp hội Nghiên cứu Văn học và Môi trường - ASLE (the
Association for the Study of Literature and Environment) . Hiệp hội này trở thành tổ
chức có hàng nghìn thành viên ở Mỹ, sau đó các chi nhánh mới thành lập ở Anh và tiếp
theo là nhiều nước châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Canada… Năm 1993 Patrick
Murphy đã xuất bản tạp chí mới, là Nghiên cứu Liên ngành Văn học và Môi trường ISLE (Interdisciplinary Studies in Literature and Environment) để cung cấp một diễn

năm 1995 chưa có chương này). Chương sách giới thiệu một khái quát sự ra đời, cách
hiểu hàm nghĩa tự nhiên/văn hóa, thành tựu chủ yếu, nhiệm vụ của phê bình sinh thái, và
thực tiễn phê bình sinh thái. Giới thiệu Phê bình đầu thế kỉ XXI (Introducing Criticism at
the Twenty-First Century, 2002) do Julian Wolfreys biên tập, Chương 7 của tuyển tập
"Phê bình sinh thái" do Kate Rigby viết đã giới thiệu một cách rõ ràng về phê bình sinh
thái: từ việc phê phán những tư tưởng khiến cho tình trạng sinh thái lâm vào khủng
hoảng hiện nay, tìm về các văn bản về tự nhiên để tái cấu trúc lại văn bản, nhìn lại về văn
học lãng mạn; tái cấu trúc tính xã hội và tính sinh thái, khẳng định có một mối liên hệ
giữa các vấn đề tự nhiên và xã hội, gắn với các vấn đề giai cấp, chủng tộc, giới tính; Phê
bình sinh thái cần phải đặt lại nền tảng ngôn ngữ.
Một trong những hướng quan trọng của phê bình sinh thái là nhìn lại những
diễn ngôn lãng mạn về tự nhiên. Gifford Terry phát triển mô hình 3 lớp của kịch:
đồng quê, phản đồng quê và hậu đồng quê để viết về thể loại Đồng quê
(Pastoral (Routledge, the Critical Idiom series, 1999) đả phá vào thể loại đồng quê.
Năm 2000, Bài ca trái đất (The Song of the Earth, Massachusetts, Harvard
University Press) là công trình của nhà phê bình văn học sinh thái nổi tiếng
Jonathan Bate đã ứng dụng nguyên lý phê bình hiện tượng học, chủ nghĩa sinh thái
học lãng mạn của Heidegger, lý thuyết về trạng thái tự nhiên của Jean Jacques
Rousseau để so sánh thơ ca và tiểu thuyết lãng mạn của Jane Austen và Thomas
Hardy, Mary Shelley, William.H.Hudson và Elizabeth Bisho.
Năm 2004, Grey Garrard (đại học Bath Spa, Anh) xuất bản chuyên luận Phê
bình sinh thái (thuật ngữ phê bình mới) (Ecocriticism (The New Critical Idiom) bàn về
diễn ngôn chủ yếu của phê bình sinh thái từ 8 phương diện như ô nhiễm, nơi chốn, điền
viên, hoang dã, tận thế (thảo luận về Kitô giáo), cư trú, động vật, trái đất. Từ cái nhìn
của phê bình sinh thái, tác giả đã chất vấn và khéo léo đưa người đọc qua những cạm
bẫy của lí thuyết, đào sâu vào những tranh luận chính của phê bình sinh thái hôm nay.
Chuyên luận phê bình sinh thái thứ 3 của Lawrence Buell mang tên Tương
lai của phê bình môi trường: khủng hoảng môi trường và tưởng tượng văn học (The
Future of Environmental Criticism: Environmental Crisis and Literary Imagination,
2005). Buell đặt phê bình sinh thái vào lĩnh vực nghiên cứu văn hóa và văn học để

thái học đã tỏ ra hết sức sốt ruột vì văn học dường như vẫn thờ ơ với những mối bận
tâm về môi trường trong khi hành tinh duy nhất của chúng ta đang lâm nguy:
Bạn sẽ nhanh chóng nhận ra rằng chủng tộc, giai cấp, và giới tính trở
thành những vấn đề nóng bỏng vào những năm cuối thế kỉ XX. Thế nhưng, bạn
cũng sẽ không bao giờ biết được rằng sự sống của Trái đất - cái nền tảng đang
làm nhiệm vụ chống đỡ tất cả những hệ thống ấy - là cái đang nằm sâu bên dưới
tất cả những giao tranh căng thẳng đó. Thật vậy, có thể bạn sẽ không bao giờ
biết được rằng, dù thế nào, trên tất cả những điều ấy, là chúng ta chỉ có duy nhất
một Trái đất mà thôi [151, xviii].
Nhiệm vụ trọng tâm của phê bình sinh thái là qua văn học thể hiện thái độ
của mình về văn hóa ứng xử của con người đối với tự nhiên, các nhà sinh thái đi tìm
câu trả lời và giải pháp về mặt tư tưởng: văn hóa xã hội quyết định thái độ, hành vi
của của con người đối với tự nhiên. Nhiệm vụ đó được Donald Worster chỉ ra:
Nguy cơ sinh thái mang tính toàn cầu mà ngày nay chúng ta phải đối mặt


16
có nguồn gốc không phải ở bản thân hệ thống sinh thái mà ở hệ thống văn hóa
của chúng ta. Muốn vượt qua nguy cơ này, tất yếu phải ra sức lí giải minh bạch
ảnh hưởng của văn hóa của chúng ta đối với tự nhiên. Nhà sử học, nhà phê
bình văn học, nhà nhân loại học, nhà triết học nghiên cứu quan hệ giữa văn
hóa và sinh thái, tuy không thể trực tiếp thúc đẩy cách mạng văn hóa, nhưng lại
có thể giúp chúng ta lí giải, mà sự lí giải này chính là tiền đề của cách mạng
văn hóa [ theo 151, xxi].
Phê bình sinh thái phê phán thuyết con người là trung tâm (Anthropocentrism)
tồn tại trong tư tưởng nhân loại, nhất là từ sau phong trào Khai sáng, cùng với sự hưng
khởi của tư tưởng nhân bản thì nhân sinh quan đã có một sự thay đổi rất lớn. Địa vị con
người trong thế giới cũng được xác lập lại. Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên
nghiêng về sự đối lập nhị nguyên. Từ người con của thiên nhiên trở thành chủ nhân của
trái đất. Con người không phải phục tùng, kính sợ tự nhiên nữa mà ngược lại, vạn vật trở

mình trong sinh quyển. Do vậy, phê bình sinh thái đặt ra những vấn đề trực diện của
khủng hoảng môi sinh: “thảo luận công khai về các vấn đề môi trường, ví dụ như
việc đánh mất sự đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu” [116]
Từ đó, nhấn mạnh trở lại cho chúng ta thấy rằng, tự nhiên vận hành theo những
quy luật riêng của nó, và con người trong sự hữu hạn của mình không thể chống chọi
được “một thực tế là, mặc dù hơn bao giờ hết, bề mặt trái đất gần đây đang càng ngày
càng bị biến đổi nhanh chóng hơn bởi công nghệ kĩ thuật; thì điều ấy cũng không có
nghĩa là những thực thể tự nhiên đã không còn tồn tại. Tất cả những gì con người làm
ra, bao gồm cả việc làm biến đổi phần nhiều là vô ý thức (hay nói đúng hơn là sự tàn
phá) hệ sinh thái trên trái đất cũng vẫn phải phụ thuộc vào những quá trình vật lí tự
nhiên hiện tồn trước đó. Những quá trình ấy vượt hẳn lên trên giới hạn nhận thức cũng
như giới hạn quyền lực của con người. Tất cả loài người, trong khi đó, lại chỉ đơn thuần
tồn tại trong một trạng thái lẫn lộn hỗn độn (mặc dù thường là một cách vô hình) với
cuộc sống vô hạn của thế giới phi nhân” [100]. Tự nhiên luôn nhắc nhở cho con người
thấy “một thứ địa vị thật sự thông qua mỗi trận động đất, mỗi lần núi lửa phun trào,
những ngôi sao chổi vụt qua, cũng như việc không ai có thể dự đoán được một cách
chính xác sự thay đổi bất thường của thời tiết” [100]. Theo cách nói của Bate, Phê bình
sự nóng lên toàn cầu (Global warming criticism) “đưa ra định đề về một thế giới tự
nhiên không còn bị xem là thụ động hay được sắp xếp theo trật tự định sẵn và chỉ biết
phục tùng. Ngược lại, tự nhiên được nhìn như một cái gì bất định, không thể đoán
trước và có sự phản ứng lại trước mọi sự can thiệp của chúng ta, theo cách mà chúng ta
không thể lường trước, cũng không thể kiểm soát được” [141, 439].
Cho dù có lẽ nhiều người sẽ đồng tình với phái phê bình sinh thái học lạc quan
(light Greens) khi tin rằng chúng ta có thể cứu trái đất bằng cách thận trọng hơn trong
cách sản xuất, tiêu dùng. Và thật khó đồng tình với những nhà phê bình sinh thái bi
quan (dark Greens) khi phải thừa nhận loài người chúng ta do bị đầu độc bởi những
thành tựu về khoa học kĩ thuật và công nghệ đã nghĩ rằng con người có khả năng cải
tạo được thế giới. Khoa học kĩ thuật chính là nguyên nhân hủy hoại môi trường do đó
nó không thể nào là giải pháp cho vấn đề môi trường mà bằng cách nào đó con người
phải quay trở lại tự nhiên. Thì một sự thực đang tồn tại: môi trường toàn cầu đang ngày

bộ sinh quyển “Lí thuyết văn học, nhìn chung, nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà
văn, văn bản và thế giới. Trong hầu hết các lí thuyết văn học, “thế giới” đồng nghĩa
với xã hội – phạm vi xã hội. Phê bình sinh thái mở rộng khái niệm “thế giới”
bao gồm toàn bộ sinh quyển” [151, xvii].
1.1.3.3. Các hướng nghiên cứu sinh thái cụ thể
Các nhà nghiên cứu đều cho rằng thực chất, hiện tại phê bình sinh thái đang
trong trạng thái “trăm hoa đua nở” [Theo 139], “rộng, mơ hồ, nhiều hàm ý, mở”
[151, xxii ] hơn là đang được đúc kết vững vàng. Tuy vậy, chúng ta cũng có thể khái
quát những hướng cơ bản của phê bình sinh thái.
Thời kì đầu, phê bình sinh thái dựa vào lý thuyết sinh thái học bề sâu (deep
ecology), thường đi theo cách tiếp cận sinh học trung tâm luận (biocentric) xem xét
tự nhiên được mô tả như thế nào trong văn học. Họ tìm đến các mẫu lặp đi lặp lại
trong văn chương về cái hoang dã, tự nhiên trong thơ trữ tình, vai trò của bối cảnh
tự nhiên trong cốt truyện, nhà văn nam và nhà văn nữ viết về tự nhiên như thế nào.
Đồng thời, phê bình sinh thái cũng khôi phục lại các thể loại viết về tự nhiên đã bị
bỏ quên, như thể loại phi hư cấu viết về tự nhiên (nonfictional natural writing) như
Lịch sử tự nhiên của Selbourne (A Nature History of Sebourne) do Gilbert White
viết năm 1789; nghiên cứu các xu hướng thể loại, nhận dạng các tác giả mà tác
phẩm của họ thể hiện ý thức sinh thái. Ở đây, phê bình sinh thái cũng xem xét lại
các thể loại viết về tự nhiên như văn học đồng quê, văn học lãng mạn…
Tiếp theo, thế kỉ XXI, phê bình sinh thái theo quan điểm nhân chủng học, đặt
bình diện xã hội làm trung tâm “tái kết nối tính xã hội và tính sinh thái”. Xu hướng
tìm kiếm và khai thác các sáng tác mang chủ đề thiên nhiên hoặc có sự tập trung
mạnh mẽ vào thiên nhiên như mục ca lãng mạn (romantic pastoral) dần chuyển sang
phê bình sinh thái – xã hội (eco-social); chuyển hướng nghiên cứu về thành phố,
công nghiệp hóa và môi trường, cùng những vấn đề liên đới như sắc tộc, bản địa,
hậu thực dân, cộng đồng lưu vong, sinh thái nữ quyền, di sản văn hóa và môi
trường, nhiễm độc môi trường, sự tưởng tượng văn chương về các mối quan hệ giữa
con người và thú vật… Có thể nói, phê bình sinh thái là sự giao cắt với chính trị, nó


Xuất phát từ bối cảnh toàn cầu hóa, phê bình sinh thái đề xuất những khái
niệm mà như Patrick Murphy kêu gọi “lí thuyết phê bình sinh thái xuyên quốc gia”.
Từ nhận thức ấy, các nhà phê bình sinh thái kêu gọi “ý thức hành tinh” (planetary
conciousness) trong việc nhìn nhận các vấn đề môi trường, Ursula Heise đã đặt ra
thuật ngữ “chủ nghĩa thế giới sinh thái” (ecocosmopolitan). Các nhà sinh thái cũng
muốn có “mạng lưới đề tài”, dựa vào cơ sở một đề tài, so sánh xuyên quốc gia,
xuyên thể loại (tham chiếu ở văn bản văn chương và văn bản phi văn chương).
Những nỗ lực đó có hạt nhân hợp lí ở chỗ vấn đề biến đổi khí hậu không phải là vấn


22
đề của riêng mỗi quốc gia dân tộc. Hơn nữa, chính ý niệm hiện tại về vùng lãnh thổ
lại đang là rào cản cho vấn đề giải quyết khủng hoảng sinh thái toàn cầu. Kate
Rigby cho rằng “Một chiến lược khác để mở rộng từ địa phương ra toàn cầu tái khái
niệm nơi chốn như một nốt trong mạng lưới toàn cầu (…) từ điểm nhìn này sự quan
sát những hiện tượng địa phương như là sự di trú của chim hay những biểu hiện của
quá trình biến đổi khí hậu trở thành một điểm bắt đầu để tìm hiểu và liên cảm với
các quá trình sinh thái toàn cầu. Tương tự như vậy, những cảm quan và trải nghiệm
về hiểm họa môi trường xuyên biên giới nổi lên như một bản lề kết nối các kiểu cư
trú địa phương với các kiểu cư trú xuyên quốc gia” [116].
Phê bình sinh thái không hề có một khuôn khổ đông cứng về đối tượng,
phương pháp cũng như các vấn đề chính, mà nó càng ngày càng mở rộng và phức
tạp tuy vậy, sứ mệnh của nó là bất biến: việc phát triển hướng nghiên cứu sinh thái
đưa ra những đề xuất mà dựa vào đó có thể thay đổi thái độ của nhân loại với tự
nhiên thông qua hệ thống lí thuyết của nó.
1.2. Lịch sử phê bình mối quan hệ con người với tự nhiên trong văn học
Việt Nam
1.2.1.Các công trình nghiên cứu
Trước khi xuất hiện phê bình sinh thái, vấn đề con người trong mối quan hệ
với tự nhiên đã được nghiên cứu. Trong lịch sử, con người đã trải qua nhiều cảm thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status