Con người và tự nhiên trong văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn phê bình sinh thái - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT

CON NG¦êI Vµ Tù NHI£N TRONG V¡N XU¤I VIÖT NAM
SAU N¡M 1975 Tõ GãC NH×N PH£ B×NH SINH TH¸I
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 62.22.01.02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Lê Lưu Oanh

HÀ NỘI - 2015


LI CM N
Luận ỏn đợc hoàn thành dới sự hớng dẫn khoa học của PGS - TS Lê Lu
Oanh. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn PGS cùng tập thể các nhà khoa học
thuộc chuyên ngành Lí luận văn học, Trờng Đại học S phạm Hà Nội đã giúp
đỡ chúng tôi trong quá trình nghiên cứu.
Ngời viết cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ, chia sẻ của bạn bè, đồng môn và
những ngời thân trong thời gian thực hiện luận ỏn.
Luận ỏn đợc viết bằng niềm yêu thích đặc biệt với vấn đề nghiên cứu,
tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận đợc những
nhận xét, góp ý từ bạn đọc.

Tác giả

Trn Th nh Nguyt

hội, ý thức về môi trường thể hiện trong văn học.
Thế kỉ XXI là thế kỉ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con người phải đối
mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất. Trong xã hội hiện đại, cùng với tốc độ đô thị
hóa và sự ỷ lại vào khoa học kĩ thuật con người đang ngày càng quay lưng với tự
nhiên, khai thác quá mức, khiến cho tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Thiên nhiên trả
thù con người không phải chỉ bằng các thảm họa, thiên tai, mà đáng sợ hơn, trả thù
bằng sự biến mất của chính nó. Cái “dây chuyền sống” huyền diệu của tạo hóa đang
ngày càng bị phá hủy. Phê bình sinh thái (ecocritisim) nổi lên khi vấn đề biến đổi
khí hậu, sự xuống cấp về môi trường không còn là vấn đề của mỗi quốc gia dân tộc
nữa, nó ảnh hưởng đến sự sống. Văn học quan tâm đến sự sống cho nên khúc ngoặt
của phê bình sinh thái xét đến cùng lại liên quan đến bản thể của văn học.
Trên thế giới, khởi phát từ Anh – Mĩ, phê bình sinh thái đang là một trào lưu
năng động hiện nay, thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều hơn các nước ngoài phương
Tây. Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình trạng biến đổi khí hậu,
nước biển dâng, mưa bão, lũ lụt... Sống ở vùng đất nhạy cảm với những đổi thay của
môi trường, hẳn nhiên điều đó sẽ ánh xạ vào tác phẩm, nhất là với nhà văn đa cảm, trắc
ẩn. Ý thức sinh thái này đã được nhiều tác giả văn xuôi sau năm 1975 đề cập đến: sự
hủy hoại môi sinh dẫn tới việc mất cân bằng tự nhiên; quá trình đô thị hóa, nền kinh tế


thị trường khiến con người rời xa môi trường sinh thái, con người trở thành nạn nhân,
công cụ của thương mại… Do vậy văn học có khuynh hướng tìm về biểu hiện mối
quan hệ giữa con người và tự nhiên, có một tư duy sinh thái trong việc nhận diện, phân
tích và thể hiện những nỗi đau môi trường, số phận con người trong cuộc khủng hoảng
môi sinh cũng như hướng con người sống có trách nhiệm với thiên nhiên, biết hòa
mình vào tự nhiên để được thanh thản, cân bằng trong cuộc sống…Từ hướng nghiên
cứu này, có một cách tiếp cận riêng trên con đường khám phá một trong những hấp dẫn
của văn học Việt Nam sau 1975 và qua đó kết nối văn học với những vấn đề thiết cốt
của nhân loại về trách nhiệm của con người trong khủng hoảng môi sinh.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Khảo sát các tác phẩm văn xuôi sinh thái sau năm 1975; phân tích các tác
phẩm dưới góc nhìn của phê bình sinh thái
- Đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về văn học sinh thái Việt Nam sau năm 1975
- Khảo sát những bình diện khác nhau của khuynh hướng văn xuôi sinh thái
4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những phương pháp được sử dụng như những thao tác thường xuyên
trong nghiên cứu văn học như thống kê – phân loại, phân tích, tổng hợp, so sánh
(đồng đại, lịch đại), chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
4.1. Phương pháp luận
- Vận dụng "cảm quan nhìn lại" của phê bình sinh thái làm tiền đề để nhận
thức mối quan hệ giữa con người và tự nhiên xung quanh như một thực thể của
chỉnh thể sinh thái. Sự nhận thức lại này sẽ giúp chúng ta nhận diện rõ hơn mối
quan hệ giữa tự nhiên và văn hóa.
- Phương pháp liên ngành: Phê bình sinh thái là một hướng nghiên cứu liên
ngành, kết hợp văn học với khoa học, phân tích tác phẩm văn chương để rút ra những
cảnh báo môi trường. Luận án vận dụng những kiến thức của các ngành khoa học (sinh
thái học, dân tộc học, sử học, triết học, chính trị, đạo đức...), một số loại hình nghệ thuật
khác (điện ảnh, âm nhạc…) để hiểu và lý giải một số quan điểm của các tác phẩm.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu khác
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Thi pháp học hiện đại đã được vận
dụng để nhận diện khuynh hướng văn xuôi sinh thái qua điểm nhìn, motif cốt
truyện, nhân vật, giọng điệu.
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Phương pháp này giúp xem xét mối
quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên hệ thống mà cụ thể là những dấu hiệu lặp lại
có tính quy luật của những yếu tố ấy. Trên cơ sở hệ thống hóa các yếu tố, tính chỉnh
thể sẽ được bộc lộ rõ.
5. Những đóng góp mới của luận án
- Tổng thuật các nghiên cứu trên thế giới (chủ yếu là Anh-Mỹ) và Việt Nam
về phê bình sinh thái.
- Chứng minh có một khuynh hướng văn xuôi sinh thái sau năm 1975, đặc

nó còn là khoa học của nhiều ngành khác, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn.
Với tư cách là một khuynh hướng phê bình văn hóa và văn học, phê bình
sinh thái (ecocriticism), được hình thành ở Mĩ vào giữa những năm 90 của thế kỉ
XX, đã hấp thu tư tưởng cơ bản của sinh thái học vào nghiên cứu văn học “dẫn
nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học” [89].
Trong các định nghĩa về phê bình sinh thái, định nghĩa của Glotfelty được xem là
ngắn gọn và dễ hiểu hơn cả:
Nói đơn giản, phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ
giữa văn học và môi trường tự nhiên. Cũng giống như phê bình nữ
quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từ góc độ giới tính, phê bình Marxit
mang lại ý thức của phương thức sản xuất và thành phần kinh tế để đọc
văn bản, phê bình sinh thái mang đến phương pháp tiếp cận trái đất là
trung tâm (earth-centered approach) để nghiên cứu văn học [150, xviii].
Để hiểu rõ hơn định nghĩa này, chúng ta cần hiểu quan niệm của phê bình
sinh thái về con người/ tự nhiên, tự nhiên/ văn hóa, những vấn đề làm nên tư tưởng
đặc thù của phê bình sinh thái. Về mặt từ nguyên, tự nhiên (nature) mà gốc Latin
của nó là natura, nghĩa là “đặc điểm thuộc về tự nhiên, vũ trụ” hay natus (sự sinh ra,
được sinh ra)… để phân biệt với thế giới được chế tạo, như các đồ vật được làm bởi
con người. Dẫu vậy, “tự nhiên” đã trở thành một diễn ngôn mơ hồ, luôn biến đổi, nó
là cái tồn tại mặc nhiên từ buổi hoang sơ, nhưng cũng là cái đã bị con người sở hữu
và chiếm hữu theo nhiều cách. “Tự nhiên” do đó đã không còn là nó một cách


nguyên thủy, mà các yếu tố cấu thành nó ít nhiều đều bị quy định bởi con người.
Theo sự biến thiên này, cặp từ tự nhiên (nature)/ văn hóa (culture) không còn là sự
đối lập đơn giản mà có sự xuyên thấm lẫn nhau. Thật khó có một thứ gì đó có thể
phân loại rành mạch rõ ràng, nhất là cặp đôi “phiền phức” văn hóa/ tự nhiên. Peter
Barry đã chứng minh bằng cách lấy thí dụ, cái chúng ta gọi là ‘môi trường bên
ngoài’ là một chuỗi các khu vực xâm nhập, sấn chéo lên nhau và dịch chuyển dần
dần từ khu vực tự nhiên sang khu vực văn hóa, theo trật tự như sau:


1.1.2. Lịch sử phê bình sinh thái
1.1.2.1. Cội nguồn triết học của phê bình sinh thái
Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu sinh thái cho rằng phê bình sinh thái không có
lịch sử của nó, nghĩa là phong trào này mới phát xuất từ những năm 70 của thế kỉ
XX khi những cảnh báo về sự khủng hoảng môi trường ngày càng trầm trọng và
con người ta bắt đầu nhận thấy mặt trái của văn minh kĩ trị đã ảnh hưởng đến môi
trường như thế nào. Tuy nhiên, hành trình đó cũng bắt đầu bằng cách tìm cách trở
về với trái đất nguyên thủy vì sự thực bất kì lí thuyết nào cũng có cội nguồn của nó.
Triết học phương Tây đã manh nha các tư tưởng sau này trở thành tiền đề cho
phê bình sinh thái: tư tưởng sinh thái của Rousseau, Darwin, Heidegger... Nghiên
cứu về phương diện tiến hóa của Darwin đã chứng minh một cách thuyết phục bằng
khoa học, giáng một đòn mạnh mẽ vào tư tưởng "con người kiểu mẫu muôn loài" có
thể đứng cao hơn tất thảy. Sự thực, nhân loại và các sinh vật khác có cùng nguồn
gốc trên ý nghĩa sinh vật học, do vậy, con người phải ý thức rằng tất cả các sinh vật
đều có quan hệ huyết thống, cần đem sự quan tâm của con người mở rộng đến tất cả
các sinh mệnh khác. Rousseau, một nhà triết học Ánh Sáng cũng đề cao việc tôn
trọng tự nhiên. Ông khẳng định rằng bản chất con người là lương thiện nhưng xã hội
làm cho hư hỏng và bất hạnh vì vậy cần giáo dục con người quay trở về tự nhiên.
Các nhà triết học hiện tượng luận (Hussel, R. Ingarden, Heidegger, Merleau
Ponty…) đi vào thế giới nhân sinh bên trong của con người, quan tâm nhiều đến tri
giác. Họ cho rằng con người cảm nhận thế giới bằng chính cảm giác trực giác của
mình, tất cả các chức năng cao hơn của ý thức như sự hiểu biết, ý chí đều có nguồn
gốc và phụ thuộc vào sự phản ánh của chủ thể, rằng tồn tại thể xác chính là tri giác.
Đặc biệt, phê bình sinh thái ảnh hưởng trực tiếp nhất từ tư tưởng triết học các
trường phái của luân lí học môi trường phương Tây hiện đại: Đại địa luân lí học
(Land Ethics), Tự nhiên giá trị luận (Theory of nature value), Động vật giải phóng
(Animal liberation), Sinh thái học bề sâu (Deep ecology)… - triết lí sinh thái và môi
trường hiện đại tôn trọng sự tồn tại bình đẳng của tạo vật, coi mọi sinh vật trong hệ
thống không có loài nào ở thế ưu trội. Arne Naes, người Na Uy trong tham luận Bề

“cộng đồng sinh vật” được hài hòa, ổn định, và đẹp đẽ “Hành vi mà có thể bảo hộ tính
chỉnh thể, tính ổn định, và vẻ đẹp của Cộng đồng sinh vật là đúng, trái ngược lại với
điều đó là hành vi sai trái” [153, 26].
Những tư tưởng của sinh thái học như: Cộng đồng sinh vật (Biotic
Community), Ý thức sinh thái (Ecological conscience), Đại địa mĩ học (Land aesthetic)
mà Aldo Leopold đề xuất chủ yếu để thay đổi thế giới quan nhân loại trung tâm
(human-centred) trong văn minh truyền thống Kitô giáo phương Tây, phá bỏ sự cách
biệt giữa con người và thiên nhiên để nhận thức Vạn vật bình đẳng. Lương tâm sinh
thái xuất phát từ thái độ con người thay đổi thế giới quan, từ mối quan tâm con người
với con người kéo dài ra đến con người và vạn vật trên trái đất. Chỉ khi con người nhận
thức được loài vô tình hay giới hữu tình trong Đại địa đều là một phần tử của Cộng
đồng sinh vật thì nhân loại mới có thể tôn trọng và bảo vệ chúng được.
Như vậy, đạo đức môi trường đã mở rộng ra từ quyền con người sang quyền
của thiên nhiên. Cuối thế kỉ XX là thời kì khởi phát phong trào bảo vệ sinh thái. Ngoài


những phong trào bảo vệ môi trường thực tế, các phong trào xuất phát từ nền tảng tư
tưởng lí luận triết học trong việc chăm sóc sinh thái rất đáng lưu tâm vì thực chất vấn
đề sinh thái mà chúng ta đang đối mặt còn nằm ở văn hóa của chúng ta – cách hành xử
của chúng ta đối với tự nhiên. Bảo vệ sinh mệnh tự nhiên là sự tiến bộ của nhân loại.
Tôn trọng sinh mệnh, yêu quý sinh mệnh không phải là con người ban tặng một cách
khẳng khái cho vật có sinh mệnh khác mà là nhu cầu của sự tiến bộ tự thân nhân loại
“Mọi thứ sẽ tốt đẹp hơn cho chúng ta, về lâu về dài, nếu chúng ta biết tự nhận diện
chính mình như là những sinh vật tự nhiên mà chúng ta đang dần dần phá hủy – những
cái cây, những dòng sông, đất đai, và ngay cả không khí của chúng ta… Chúng ta chỉ
là một phần nhỏ bé trong toàn bộ hệ sinh thái ấy” [147, 160].
Trở về với tư tưởng văn hóa phương Đông cổ đại là một khuynh hướng quan
trọng của của phê bình sinh thái hiện nay. Nếu như phê bình sinh thái cứ mãi là “lí
thuyết về sự sụp đổ” (Theories of breakdown) [159] thì sẽ dẫn đến bế tắc, nhiều nhà
tư tưởng và triết gia sinh thái đều nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của trí tuệ sinh thái

nhiên. Các anh hùng của người Ấn trong Ramayana, Mahabrahata trước khi lên
ngai vàng trị vì đất nước đều vào sâu trong núi hành hương, học bài học triết lí về
nhân sinh bằng cách tĩnh tâm, hòa mình sống với thiên nhiên. Trước khi trở thành
đấng Giác Ngộ, Đức Phật đã trải qua kiếp sống không chỉ là con người, thần linh mà
cả là chim chóc, muông thú để có thể hiểu về cuộc đời của muôn loài bình thường,
với đủ mọi quan hệ thế tục. Đức vua Trần Nhân Tông sau khi thực hiện xong việc
thế sự, xuất gia vào núi sâu để được trong sạch, giác ngộ tràn đầy. Thiên nhiên, do
đó là người thầy minh triết vĩnh cửu trong tâm thức của người phương Đông.
1.1.2.2. Sự phát triển của phê bình sinh thái
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đã tạo ra số của cải vật chất khổng lồ, đưa
đến cho con người nhiều tiện nghi, nhưng nó cũng khiến cho con người “đang đi
trên con đường dẫn đến sự đối đầu trực tiếp với thiên nhiên” [49, 42]. Hiện tại, con
người bắt đầu hiểu ra là cần phải thương yêu và che chở thiên nhiên, nếu không sẽ
phải gánh chịu sự thua thiệt, tuy nhiên, vì lòng tham, vì sự không biết lo xa chúng ta
chưa thực sự có những hành động thiết thực. Trước bối cảnh khủng hoảng môi
trường đó, để thể hiện sự quan tâm đến các vấn đề sinh thái nhằm thức tỉnh nhân
loại trước những nguy cơ đe dọa của khủng hoảng môi trường, những ngành khoa
học nhân văn khác như lịch sử, triết học, luật pháp, xã hội học và tôn giáo đã
“nghiên cứu xanh” (green study) từ những năm 1970. Các nhà sử học kêu gọi “đừng
coi tự nhiên như là sân khấu cho vở diễn của con người, mà là một diễn viên ngang
hàng trong tấn kịch ấy. Họ tìm thấy nguồn gốc của các mối quan hệ giữa hoàn cảnh
môi trường với các phương thức sản xuất kinh tế và các ý tưởng văn hóa xuyên thời
gian” [151, xxi]; các nhà nhân loại học chú trọng mối quan hệ giữa văn hóa và địa
lí; các nhà tâm lí học thừa nhận sự bất hòa giữa con người và thiên nhiên là nguồn
gốc của các căn bệnh xã hội, bệnh tâm lí “khám phá ra sự nối kết giữa hoàn cảnh
môi trường và sức khỏe tinh thần, một số liên quan đến sự xa rời hiện tại đối với tự
nhiên như căn bệnh cơ bản của tâm lí và xã hội chúng ta” [151, xxi]; thậm chí, các
nhà thần học xác quyết môi trường là một vấn đề của tôn giáo “cố gắng tìm kiếm
các cứ liệu trong kinh thánh chứng minh con người đã từng làm chủ trái đất một
cách khôn ngoan, hợp lý” [151, xxi], họ cũng tìm đến những tôn giáo của người Mỹ

Khởi nguyên của thuật ngữ ecocritism xuất phát từ cuốn Hài kịch của sự sinh
tồn: nghiên cứu trong sinh thái học văn học (The Comedy of Survival: Studies in
Literary Ecology, 1972), Joseph Meeker giới thiệu thuật ngữ: sinh thái học văn học
(literary ecology) ám chỉ “sự nghiên cứu chủ đề sinh thái và những mối liên hệ xuất
hiện trong tác phẩm văn học. Đồng thời, nó cũng là một sự thử nghiệm để khám phá
ra vai trò của nó là gì với văn học trong sinh thái học của loài người” [151, xx]. Thuật
ngữ ecocriticism có lẽ xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1987 bởi William Rueckert
trong một khảo luận tên là Văn học và sinh thái học: Một thử nghiệm mới trong phê


bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism). Phê bình
sinh thái (ecocriticism) theo Rueckert có nghĩa là “việc ứng dụng sinh thái học và các
thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu văn học” [151, 105]. Định nghĩa của Rueckert
có liên quan đặc biệt với khoa học sinh thái học và theo đó đã giới hạn lại thành một
thuật ngữ để chỉ tất cả mối quan hệ giữa văn học và thế giới tự nhiên. Do vậy, phê
bình sinh thái không được thừa nhận như một phong trào phê bình rõ rệt.
Tuy nhiên, trong những năm này đã xuất hiện một số tác phẩm quan trọng đối
với lịch sử của phong trào phê bình sinh thái. Công trình của Joseph Mecker là Hài
kịch của sự sinh tồn (The Comedy of Survial, 1974) đã đưa ra vấn đề tranh luận cơ bản:
chính văn hóa phương Tây với nền tảng tư tưởng của thuyết con người là trung tâm đã
khiến cho môi sinh trở nên khủng hoảng. Năm 1985, Frederick Owaage biên tập cuốn
sách mang tên Giảng dạy văn học môi trường: tài liệu, phương pháp và Tiềm năng
phát triển (Teaching Environmental Literature: Materials, methods, Resources) bao
gồm nhiều chiều hướng của mười chín nhà nghiên cứu khác nhau. Năm 1989, Alicia
Nitecki viết Bản tin văn học Mĩ về đề tài tự nhiên (The American Nature Writing
Newsletter) mục đích của bà là để công bố các bài luận vắn tắt, điểm sách và những
thông tin liên quan đến nghiên cứu cách viết về tự nhiên và môi trường.
Mãi đến những năm 1990, phê bình sinh thái mới thực sự phát triển. Các hội
nghị khoa học về vấn đề môi trường và văn học được tổ chức hằng năm. Phiên họp
đặc biệt nổi tiếng nhất của Hội nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại (MLA) vào năm

mạn Anh của thập kỷ chín mươi thế kỷ 18 (1790) hơn là từ phong trào Tiên nghiệm
Mỹ trong thập kỷ bốn mươi thế kỷ 19 (1840). Người tiên phong của phong trào này
là nhà phê bình Jonathan Bate, tác giả cuốn Sinh thái học Lãng mạn: Wordsworth
và Truyền thống (văn học) Môi trường ( Romantic Ecology: Wordsworth and the
Environmental Tradition, Routledge, 1991).Tuyển tập các công trình phê bình sinh
thái đáng chú ý nhất tại Anh là cuốn Tuyển tập nghiên cứu xanh: Từ chủ nghĩa lãng
mạn tới phê bình sinh thái (The Green Studies Reader: From Romanticism to
Ecocriticism, Routledge, 2000) do Laurence Coupe biên tập. Nếu như phê bình sinh
thái Mỹ thiên về ca tụng tự nhiên thì phê bình sinh thái Anh lại thiên về cảnh báo về
môi trường,Thành phố và Nông thôn (The Country and the City (Chatto & Windus,
1973) của Raymond William đã thể hiện rõ điều đó
Như vậy, phê bình sinh thái từ những nghiên cứu riêng lẻ, khó nhận diện đã
có một tổ chức riêng thu hút giới nghiên cứu trên trên toàn thế giới, có một tạp chí
riêng của Hội. Đồng thời phong trào này cũng lan ra các trường đại học, một vài
trường đã bắt đầu đưa vào trong các khóa văn học của họ chương trình giảng dạy về
nghiên cứu môi trường; một số học viện về tự nhiên và văn hóa được thành lập; một
số khoa tiếng Anh yêu cầu những chương trình nhỏ về văn học môi trường. Nhờ đó,
phê bình sinh thái đã chính thức trở thành một phong trào nghiên cứu hàn lâm.
Nhiều nghiên cứu của các tác giả được công bố.
Một trong những dấu mốc chứng tỏ sự phát triển của phê bình sinh thái là sự xuất
hiện trong các cuốn giáo trình giới thiệu các trường phái lí thuyết văn học. Giáo trình
Nhập môn lí thuyết: dẫn luận lí luận văn học và lí luận văn hóa (Beginning Theory: An
Introduction to Literary and Cultural Theory, Manchester University press) tái bản năm


2002 do Peter Barry soạn thêm một chương mới là "Phê bình sinh thái" (bản xuất bản
năm 1995 chưa có chương này). Chương sách giới thiệu một khái quát sự ra đời, cách
hiểu hàm nghĩa tự nhiên/văn hóa, thành tựu chủ yếu, nhiệm vụ của phê bình sinh thái, và
thực tiễn phê bình sinh thái. Giới thiệu Phê bình đầu thế kỉ XXI (Introducing Criticism at
the Twenty-First Century, 2002) do Julian Wolfreys biên tập, Chương 7 của tuyển tập



được thảo luận liên ngành nhiều hơn, được cấu thành từ nhiều phương diện hơn.
Một cuốn sách cũng cần được nhắc đến ở đây là Sự mơ hồ sinh thái: Khủng
hoảng môi trường và văn học các nước Đông Á (Ecoambiguity: Environmental
Crises and East Asian Literatures, 2012) của Karen Thronber. Mở rộng diện quan
tâm của phê bình sinh thái ra khỏi các nước ngoài phương Tây: Trung Hoa, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, bà đã đưa ra một khái niệm quan trọng "mơ hồ sinh thái"
khi nhận định rằng tình yêu thiên nhiên trong các văn bản văn chương Đông Á ẩn
dấu những ngộ nhận không nhỏ dẫn đến những bất công môi trường.
Phê bình sinh thái đã mở rộng phạm vi tới Shakespear học. Etock (trong
công trình Shakespear ecocritisim) cho rằng phê bình sinh thái không chỉ nghiên
cứu tự nhiên hay hiện hữu tự nhiên trong văn học, mà hơn thế nó là bất cứ nào liên
hệ chặt chẽ đến biến đổi môi trường. Từ đó, mở ra một cách tiếp cận chức năng của
sinh thái học văn hóa (culture ecology).
1.1.3. Phê bình sinh thái - một khuynh hướng nghiên cứu văn học
Phê bình sinh thái với tư cách là một kiểu tiếp cận văn chương mới, khuynh
hướng phê bình văn học ra đời trong bối cảnh giới học thuật phản ứng trước nguy
cơ môi sinh bị hủy hoại do chính con người. Thông qua văn học để thẩm định lại
toàn bộ văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán tư tưởng, chính sách, mô hình xã
hội... đã ảnh hưởng như thế nào đến thái độ đối với tự nhiên, khiến cho môi trường
lâm vào tình trạng suy thoái hiện nay.
1.1.3.1. Phê bình sinh thái trong thời đại khủng hoảng môi trường
Cheryll Glotfelty trong bài giới thiệu “Nghiên cứu văn học trong thời kì khủng
hoảng môi trường” của Tuyển tập Phê bình sinh thái, các mốc quan trọng trong sinh
thái học đã tỏ ra hết sức sốt ruột vì văn học dường như vẫn thờ ơ với những mối bận
tâm về môi trường trong khi hành tinh duy nhất của chúng ta đang lâm nguy:
Bạn sẽ nhanh chóng nhận ra rằng chủng tộc, giai cấp, và giới tính trở
thành những vấn đề nóng bỏng vào những năm cuối thế kỉ XX. Thế nhưng, bạn
cũng sẽ không bao giờ biết được rằng sự sống của Trái đất - cái nền tảng đang

liên quan đến con người với môi trường cần được đổi thay từ chính văn học, nơi thích
hợp để phản biện lại những thói quen của tư duy. Tư tưởng này vấp phải một rào cản
đã tồn tại một cách thâm căn cố đế trong tư tưởng truyền thống phương Tây coi con
người là tinh hoa “Con người là kiểu mẫu của muôn loài”. Điều này đã được Joseph
Meeker chỉ ra trong công trình Hài kịch của sự sinh tồn: nghiên cứu trong sinh thái học
văn học (The Comedy of Survival: Studies in Literary Ecology), về sau vấn đề này trở
thành cốt yếu của phê bình sinh thái và triết học môi trường: cuộc khủng hoảng môi sinh
chủ yếu bắt nguồn từ truyền thống văn hóa phương Tây vốn chia tách văn hóa ra khỏi tự
nhiên và dành cho văn hóa thế ưu trội.
Thế kỉ XXI là thế kỉ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con người phải đối
mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất nhưng đồng thời đây cũng là thế kỉ sẽ nảy nở
và phát triển các trào lưu sinh thái. Phê bình sinh thái xuất hiện và cảnh tỉnh con
người về sự khai thác quá mức khiến cho Trái đất ngày một kiệt quệ “đẩy sinh
quyển vào tình trạng hiểm nghèo”. Hầu hết tác phẩm phê bình sinh thái đều có
chung một động cơ: “đó là nỗi day dứt rằng chúng ta đã đi tới thời đại môi trường
cạn kiệt, một thời đại mà hậu quả hành động của con người đang tàn phá hành tinh.
Chúng ta đã tới thời đại đó. Hoặc là chúng ta phải thay đổi chính mình hoặc sẽ phải


đối mặt với thảm họa toàn cầu. Con người đang tàn phá vẻ đẹp tự nhiên và đẩy vô
vàn sinh vật đến bên bờ tuyệt chủng trong cuộc chạy đua điên rồ của chúng ta tới
ngày tận thế” [151, xxi]. Biến đổi khí hậu, sự khủng hoảng môi trường tự nhiên, đó
là điểm mà phê bình sinh thái bắt đầu để nhắc nhở con người về vị trí của mình
trong sinh quyển. Do vậy, phê bình sinh thái đặt ra những vấn đề trực diện của
khủng hoảng môi sinh: “thảo luận công khai về các vấn đề môi trường, ví dụ như
việc đánh mất sự đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu” [116]
Từ đó, nhấn mạnh trở lại cho chúng ta thấy rằng, tự nhiên vận hành theo những
quy luật riêng của nó, và con người trong sự hữu hạn của mình không thể chống chọi
được “một thực tế là, mặc dù hơn bao giờ hết, bề mặt trái đất gần đây đang càng ngày
càng bị biến đổi nhanh chóng hơn bởi công nghệ kĩ thuật; thì điều ấy cũng không có

phẩm phê bình sinh thái chia sẻ một động cơ chung: sự lo lắng về việc chúng ta đã đi
đến giới hạn của thời đại môi trường, thời điểm mà những hậu quả của hành vi con
người đang tàn phá hệ thống sự sống cơ bản của hành tinh” [151, xxii].
1.1.3.2.“Phê bình sinh thái đảo lộn truyền thống phê bình”
Đây là nhận định của Peter Barry, trong tuyển tập giới thiệu những lí thuyết
văn học và văn hóa Nhập môn lí thuyết: dẫn luận lí luận văn học và lí luận văn hóa
(Beginning Theory: An Introduction to Literary and Cultural Theory), ở phần đánh
giá của ông về phê bình sinh thái [140, 251]. Đó cũng là cách mà Glotfelty nhận
diện về hướng nghiên cứu này, là phân biệt nó với các phương pháp phê bình khác.
Các nhà phê bình sinh thái cho rằng phê bình văn học trước đây quá chú tâm
vào con người – khai thác tính cách, tâm lí, tình cảm, hành động, nội tâm… mà bỏ
qua mối quan hệ giữa nhân vật và thế giới. Barry phân tích về một tác phẩm của
Edgar Allan Poe Ngôi nhà của Usher và chỉ ra rằng, các nhà nghiên cứu dường như
chỉ quan tâm đến căn bệnh kì quái của nhân vật, khai thác tâm lí nhân vật mà bỏ
quên khung cảnh xung quanh tòa lâu đài - sự tách biệt, nặng nề, “quỷ ám” của nó là
căn nguyên của bệnh trạng nhân vật.
Tôi muốn minh họa bước chuyển biến quan trọng này sự từ chối việc ưu tiên
biểu hiện cái bên trong hơn là cái bên ngoài. Văn bản tôi sử dụng ở đây là truyện ngắn
nổi tiếng của Edgar Allan Poe nhan đề Sự sụp đổ của ngôi nhà Usher ('The Fall of the
House of Usher'). Trong truyện, Rod-crick Usher và chị anh ta, Madeline, trải nghiệm
một dạng cầm tù tự nguyện trong ngôi nhà cổ, đổ nát, cách biệt với thế giới bên ngoài,
dựng kề một cái hồ trông đầy tội nghiệp, quỷ ám: "một cái hồ đen thẫm và khủng khiếp
nằm lặng yên trong vẻ lộng lẫy điềm tĩnh bên cạnh căn nhà". Người chị mắc phải một
căn bệnh kỳ lạ khiến người dần dần héo mòn, còn bản thân Usher, một kẻ mắc bệnh
"lý tưởng chủ nghĩa, kiêu ngạo", đau buồn bởi "sự nhạy cảm đến mức bệnh tật của các
giác quan"- cái khiến anh ta không thể chịu đựng được bất cứ giao tiếp nào với thế
giới tự nhiên, mùi thơm của những bông hoa trở nên ngột ngạt, mắt của anh ta bị tra
tấn bởi thậm chí chỉ ánh sáng ban ngày mờ nhạt. Mối liên hệ duy nhất của anh ta với
thế giới là thông qua nghệ thuật (...) Ngôi nhà của Usher, do vậy, không phải là một
phần của hệ thống sống; không có nhân tố nào đến từ bên ngoài để tiếp thêm sinh lực

và tác giả bài thơ đang quan sát người nông dân này vào lúc trễ hơn trong ngày, khi
ông ta đang lật cỏ cho khô dưới ánh mặt trời và cất trong kho cho gia súc ăn vào
mùa đông. Ông thấy công việc thật là cô đơn và đống cỏ đã cắt gợi về cái chết,
khiến ông thấy buồn. Nhưng rồi ông ta phát hiện thấy một "bụi hoa" mà người cắt
cỏ buổi sáng đã không cắt, có lẽ là vì vẻ đẹp của nó. Những bông hoa đã thu hút
một con bướm, và con bướm thì thu hút sự chú ý của người nông dân. Bỗng nhiên,
thay vì cảm thấy buồn và cô đơn, người nông dân thấy gắn kết về phương diện môi
trường với con bướm, bông hoa và người cắt cỏ đã làm việc trước đó và đã để lại
bụi hoa xinh đẹp này cho ông thấy và thưởng thức. Thế rồi ông ấy gởi một lời chúc
đến người nông dân vắng mặt: Con người làm việc cùng nhau/ Tôi nói với ông ấy


bằng cả trái tim mình/ Cho dù họ làm việc với nhau hay riêng lẻ [2, 184]. Ý tưởng
về việc con người sống, làm việc và nối kết với nhau qua vẻ đẹp của một bụi hoa là
ý tưởng sâu sắc về mạng lưới sinh thái mà con người và tự nhiên gắn kết với nhau
trong một vòng tuần hoàn bất tận.
Như vậy, phê bình sinh thái thực hiện hai bước thay đổi, thứ nhất, chuyển
hướng trung tâm từ con người ra nghiên cứu bối cảnh xung quanh con người, cái
nền tảng làm môi trường của nhân vật. Điểm thứ hai là từ cái nhìn “sinh thái trung
tâm”, phạm vi thế giới sẽ được mở rộng, không phải chỉ là phạm vi xã hội mà toàn
bộ sinh quyển “Lí thuyết văn học, nhìn chung, nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà
văn, văn bản và thế giới. Trong hầu hết các lí thuyết văn học, “thế giới” đồng nghĩa
với xã hội – phạm vi xã hội. Phê bình sinh thái mở rộng khái niệm “thế giới”
bao gồm toàn bộ sinh quyển” [151, xvii].
1.1.3.3. Các hướng nghiên cứu sinh thái cụ thể
Các nhà nghiên cứu đều cho rằng thực chất, hiện tại phê bình sinh thái đang
trong trạng thái “trăm hoa đua nở” [Theo 139], “rộng, mơ hồ, nhiều hàm ý, mở”
[151, xxii ] hơn là đang được đúc kết vững vàng. Tuy vậy, chúng ta cũng có thể
khái quát những hướng cơ bản của phê bình sinh thái.
Thời kì đầu, phê bình sinh thái dựa vào lý thuyết sinh thái học bề sâu (deep

họ. Phê bình sinh thái cũng diễn dịch lại sự cấu thành các hệ đề tài liên quan đến
môi trường như đề tài mục ca, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc gắn với môi trường, tư
tưởng tận thế gắn với môi trường (ecoapocalypticism). Đồng thời nó cũng phát hiện
những nội dung “ngầm” về môi trường trong một loạt các văn bản nghệ thuật. Gần
đây nhất, phê bình sinh thái đã chú ý đến những thể loại và hình thức truyền thông
đa dạng khác ngoài văn bản viết, gồm cả truyện tranh, phim hoạt hình, mỹ thuật
sinh học (bioart), kiến trúc xanh, các nguồn dữ liệu kỹ thuật số – điều này đã làm
thay đổi cách các học giả nghĩ về nội dung của phê bình sinh thái [Theo 117].
Đúng như Chellry Glofelty đã dự đoán từ năm 1996, phê bình sinh thái đã
trở thành một khuynh hướng nghiên cứu “liên ngành, đa văn hóa và mang tính quốc
tế” [151, 25]. Tương lai của phê bình sinh thái gắn với toàn cầu hóa. Do vậy, trước
hết phê bình sinh thái bắt đầu rời địa hạt trung tâm, tìm đến những văn bản ngoài
Âu Mĩ để khai mở những tiềm năng lý thuyết mới của phê bình sinh thái. Khi tìm
hiểu các văn bản ngoài phương Tây, các nhà phê bình sinh thái đã phát hiện ra diễn
ngôn mơ hồ trong tình yêu thiên nhiên của các văn bản Đông Á (Karen Thornber).
Nhưng mặt khác, trở về các diễn ngôn phương Đông, phê bình sinh thái kết nối với
các tư tưởng triết học sinh thái môi trường hiện đại để đề xuất một xách ứng xử mới
với tự nhiên, tìm về các tư tưởng văn hóa phương Đông (Nho giáo, Đạo giáo, Phật
giáo) để tái thiết sinh thái [139].
Xuất phát từ bối cảnh toàn cầu hóa, phê bình sinh thái đề xuất những khái
niệm mà như Patrick Murphy kêu gọi “lí thuyết phê bình sinh thái xuyên quốc gia”.
Từ nhận thức ấy, các nhà phê bình sinh thái kêu gọi “ý thức hành tinh” (planetary
conciousness) trong việc nhìn nhận các vấn đề môi trường, Ursula Heise đã đặt ra
thuật ngữ “chủ nghĩa thế giới sinh thái” (ecocosmopolitan). Các nhà sinh thái cũng
muốn có “mạng lưới đề tài”, dựa vào cơ sở một đề tài, so sánh xuyên quốc gia,
xuyên thể loại (tham chiếu ở văn bản văn chương và văn bản phi văn chương).
Những nỗ lực đó có hạt nhân hợp lí ở chỗ vấn đề biến đổi khí hậu không phải là vấn


đề của riêng mỗi quốc gia dân tộc. Hơn nữa, chính ý niệm hiện tại về vùng lãnh thổ

Người mở đầu cho thi học Thiền gia (Phương Lựu), Tư tưởng sùng thượng thiên
nhiên trong thơ Nôm Nguyễn Trãi (Lê Nguyên Cẩn), Thơ đăng lãm của Nguyễn Du
cuộc hoàn nguyên và đối thoại siêu việt thời gian (Qua một số tác phẩm Bắc hành
tạp lục và Đường thi) (Phạm Ánh Sao), Thơ đề vịnh thiên nhiên trong Hồng Đức
Quốc âm thi tập (Trần Quốc Dũng), Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến (Biện


Trích đoạn Giai đoạn manh nha Giai đoạn hỡnh thành ý thức sinh thỏ Những thay đổi trong cỏch thể hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiờn Thay đổi điểm nhỡn Thay đổi motif cốt truyện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status