Sự tri nhận ngôn ngữ biểu hiện thân thể con người trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX và văn xuôi cuối thế kỉ XX - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Hàng ngàn năm qua, mối liên hệ mật thiết giữa bộ ba ngôn ngữ văn hóa - tư duy đã thu hút được sự quan tâm rất lớn không chỉ của những
chuyên gia trong lĩnh vực ngôn ngữ mà còn ở rất nhiều lĩnh vực khác. Humbolt
đã khẳng định rằng: “Ngôn ngữ là linh hồn của dân tộc, linh hồn của dân tộc là
ngôn ngữ”. Còn F. Saussure cho rằng ngôn ngữ là công cụ và vỏ bọc tư duy và
Sapir và Whorf đồng thuận nghiên cứu ngôn ngữ là một bộ phận không thể
tách rời của việc nghiên cứu tâm lí các dân tộc trên thế giới… ngôn ngữ là một
địa hạt thuận lợi nhất để nghiên cứu các biểu tượng đạo lí. Ngôn ngữ là quá
trình con người tri nhận thế giới và biểu đạt ra bằng vỏ ngôn từ của mình. Cùng
trong một nền văn học nhưng do quan niệm về giá trị của ngôn ngữ ở mỗi thời
khác nhau và do ảnh hưởng văn hóa xã hội mỗi giai đoạn mà sự biểu hiện ngôn
từ về cùng một đối tượng có sự khác nhau giữa các thời kì của một nền văn
học. Với sự lựa chọn đề tài “ Sự tri nhận ngôn ngữ biểu hiện thân thể con người
trong văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XX và văn xuôi cuối thế kỉ XX” , luận văn
muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về mối quan hệ mật thiết giữa bộ ba Ngôn ngữ - văn
hóa – tư duy.
1.2. Trong xu thế phát triển chung của ngành nghiên cứu ngôn ngữ,
hiện nay Ngôn ngữ học tri nhận được coi là một trào lưu có sự phát triển
mạnh mẽ và thu được nhiều thành tựu đáng chú ý, thậm chí nó xứng đáng
được coi là “nét đặc trưng của ngôn ngữ học thế giới trong giai đoạn hiện
nay” (Frumkina 1995). Vì thế, việc vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận
vào nghiên cứu các vấn đề tiếng Việt không chỉ giúp ngôn ngữ học tri nhận
thể hiện được nét đặc trưng của mình trong xu hướng nghiên cứu mà nó sẽ
cho ta những cách nhìn mới về những vấn đề tưởng chừng đã quá quen thuộc
trong đời sống.

1


1.3. Văn học là sự phản ánh nhận thức của con người về thế giới xung



Vấn đề trọng tâm của ngôn ngữ học tri nhận xoay quanh thuật ngữ tri
nhận (cognition). Nó chứa đựng hai nghĩa của những từ Latin kết hợp lại:
cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ. Đó là
tất cả những quá trình trong đó các dữ liệu cảm tính được cải biến khi truyền
vào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh thần để có thể lưu lại trong trí
nhớ con người.
Khoảng những năm 60 – 70 và đầu 80 thế kỉ trước, ban đầu các nghiên
cứu chính tập trung ở nhóm học giả vùng ven biển phía tây nước Mĩ (Đại học
California phân hiệu Berkely) chủ yếu khảo sát trên ngữ liệu Tiếng Anh. Bởi
vậy, cho đến nay vẫn tồn tại cách hiểu ngôn ngữ học tri nhận theo nghĩa hẹp
là ngữ nghĩa học tri nhận Mĩ của Lakoff và Johnson và ngữ pháp học tri nhận
Mĩ (Langacker) và một số nghiên cứu khác của các học giả Châu Âu như
Rudzka – Ostyn, Taylor, Geeraerts, Haiman… Tuy nhiên, càng ngày, ngôn
ngữ học tri nhận càng mở rộng phạm vi và thu hút được sự quan tâm quả các
nhà ngôn ngữ trên thế giới. Do đó, phạm vi ngữ liệu chuyển từ tiếng Anh sang
ngữ liệu của các ngôn ngữ khác trên thế giới (trong đó có tiếng Việt) để cùng
so sánh và đối chiếu. Điều đó làm cho ngôn ngữ học tri nhận được hiểu rộng
hơn và số lượng công trình nghiên cứu cùng kết quả thu được phong phú hơn.
Ngôn ngữ học tri nhận có hai hướng nghiên cứu chính, đó là: Ngữ
nghĩa học tri nhận với các tác giả tiêu biểu như Lakoff, Johnson, Rosch,
Fillmore, Fauconnier, Turner… và Ngữ pháp học tri nhận của nhóm tên tuổi
như : Talmy, Langacker, Goldberg…
2.1.2. Ở Việt Nam
Ngôn ngữ học tri nhận đã được giới thiệu ở Việt Nam trong những năm
gần đây nhờ cống hiến lớn của các tác giả: Lý Toàn Thắng, Trần Văn Cơ,
Nguyễn Văn Hiệp, Lê Quang Thiêm…
Tác giả Lý Toàn Thắng là một trong những tác giả đi tiên phong và trở
thành chuyên gia của Việt Nam về ngôn ngữ học tri nhận với công trình Ngôn

tiễn Tiếng Việt. Trong những năm gần đây, số lượng những công trình nghiên
cứu về lĩnh vực ngôn ngữ học tri nhận vào ngữ liệu tiếng Việt ngày càng nhiều

4


và thu được kết quả khá phong phú. Có hai xu hướng vận dụng lí thuyết để
nghiên cứu đó là: xu hướng vận dụng ngôn ngữ tri nhận vào vào bình diện ngữ
nghĩa và xu hướng vận dụng lí thuyết nghiên cứu bình diện ngữ pháp.
Hướng nghiên cứu vận dụng lí thuyết trên bình diện ngữ pháp có
các công trình: Câu điều kiện trong tiếng Việt (LATS, 2008) của Nguyễn
Khánh Hà, Bước đầu áp dụng lí thuyết điển mẫu vào nghiên cứu thành
phần chủ ngữ của câu tiếng Việt của Đỗ Hồng Dương…
Ở xu hướng vận dụng lí thuyết nghiên cứu lí thuyết trên bình diện
ngữ nghĩa gồm có các công trình: Ẩn dụ tri nhận trong ca dao (LVThS,
2008) của Bùi Thị Dung, Bước đầu tìm hiểu cách thức tri nhận thế giới
của người Việt (trên ngữ liệu câu đố) (LVThS, 2008) của Nguyễn Thanh
Huyền, Đặc điểm tri nhận của người Việt qua trường từ vựng chim chóc
(LVThS, 2009) của Lê Thị Thanh Huyền, (LVThS, 2010), Ý niệm hương
thơm và đặc trưng tư duy văn hóa của người Việt của Nguyễn Thị Hà
(LVThS, 2011), Ẩn dụ ý niệm trong tiếng Việt (LATS, 2009) của Phan
Thế Hưng.
Ngoài ra, ở không ít công trình, các tác giả đã tiếp cận vấn đề theo
hướng tri nhận dù không đề cập đến lí thuyết tri nhận trong tác phẩm công bố,
chẳng hạn: Đặc điểm trường từ vựng - ngữ nghĩa tên gọi động vật (trên tư
liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga) (1996) của Nguyễn Thúy Khanh,
Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt (2003) của Nguyễn Văn Chiến,
Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong ngôn ngữ thơ ca
Việt Nam (2005) của Nguyễn Thị Ngân Hoa…
Mới đây có một số công trình nghiên cứu ngôn ngữ biểu hiện thân

là người đầu tiên nêu ra khái niệm trường dựa vào lý thuyết ngôn ngữ của F.
de Saussure. Sau đó, Porzig và Ipsen cùng nhiều tác giả đã đưa ra các quan
niệm khác nhau về vấn đề này. Lý thuyết trường từ vựng dần được hình thành
và nhanh chóng thu hút sự tìm hiểu của giới nghiên cứu ngôn ngữ học.
Ở Việt Nam, nhiều nhà ngôn ngữ học cũng quan tâm và trình bày về
trường từ vựng trong các công trình của mình. Có thể kể đến một số công trình

6


có vai trò nền tảng quan trọng như: Từ và vốn tiếng Việt hiện đại (1976) của
Nguyễn Văn Tu, Từ vựng tiếng Việt (1978) của Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng
ngữ nghĩa tiếng Việt (1981) của Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
(1986) của Đỗ Hữu Châu, Nhập môn ngôn ngữ học (2007) của Mai Ngọc
Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán...
Trong những công trình trên, các tác giả đã đưa ra những vấn đề cơ bản
của trường từ vựng như: khái niệm, tiêu chí xác lập, phân loại các trường từ
vựng… Đây là những nội dung lý thuyết rất cần thiết, có chức năng định
hướng cho việc tìm hiểu về trường từ vựng.
Bên cạnh đó phải kể đến số lượng không nhỏ các công trình luận án
tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp vận dụng lý thuyết trường từ
vựng vào các trường nghĩa cụ thể. Một số tác giả đã triển khai theo hướng
nghiên cứu ngôn ngữ tự nhiên, với nguồn ngữ liệu là các đơn vị, các biểu thức
ngôn ngữ đang được sử dụng trong đời sống sinh hoạt của người Việt như:
Nguyễn Thúy Khanh (Đặc điểm trường từ vựng ngữ nghĩa tên gọi động vật
(trên tư liệu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Nga), LAPTS, 1996), Phạm Thị
Hòa (Hiện tượng nhiều nghĩa trong trường từ vựng chỉ người, LATS,
2000), Lê Thị Lệ Thanh (Trường từ vựng ngữ nghĩa các từ ngữ biểu thị
thời gian của tiếng Việt trong sự so sánh với tiếng Đức, LATS, 2001),
Nguyễn Thị Yến (Hiện tượng chuyển trường từ vựng trong các bài báo viết

Nhưng nghiên cứu về bộ phận cơ thể người dưới góc độ từ vựng Tiếng Việt
chủ yếu đều là đối chiếu ngôn ngữ Tiếng Việt với các thứ tiếng Anh, Pháp,
Nga, tiếng Hán... Có thể kể tới công trình nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Vũ
(2008), Thành ngữ Tiếng Anh và thành ngữ Tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận
cơ thể con người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận (luận án tiến sĩ),
Trịnh Thị Thanh Huệ (2012), Nghiên cứu, đối chiếu, so sánh ẩn dụ trong
ngôn ngữ Tiếng Việt và tiếng Hán dưới góc độ các bộ phận cơ thể người
(Luận văn tiến sĩ), và một số bài báo như Nguyễn Đức Tồn (2008), Ngữ
nghĩa các từ chỉ bộ phận cơ thể người trong Tiếng Việt và tiếng Nga, TC
Ngôn ngữ số 4... Các công trình này bước đầu đã xác lập một số trường nghĩa

8


chung về các bộ phận cơ thể người trong Tiếng Việt nói chung. Đây là cơ sở
để người viết đi sâu nghiên cứu sự tri nhận ngôn ngữ cơ thể trong văn xuôi
hai giai đoạn văn học thế kỉ XX.
3. Mục đích nghiên cứu
- Củng cố và nắm vững lí thuyết về ẩn dụ, sự tri nhận các đặc điểm đặc
trưng của văn học Việt Nam thế kỉ XX.
- Tìm hiểu các lớp ý nghĩa của biểu tượng thân thể con người trong
văn xuôi Việt Nam đầu và cuối thế kỉ XX trên mối quan hệ giữa bình diện
văn hóa – bình diện ngôn ngữ và bình diện chủ thể sáng tạo.
- Đối chiếu các lớp nghĩa của ẩn dụ tri nhận bộ phận cơ thể người
trong hai giai đoạn văn học để tìm nét đồng nhất và khác biệt ở hai thời kì
văn học.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi chỉ khảo sát văn
xuôi hiện thực với truyện ngắn và tiểu thuyết

luật biến đổi ngữ nghĩa của hệ biểu tượng cơ thể con người trong văn xuôi
hiện thực Việt Nam thế kỉ XX.
5.4 Phương pháp tiếp cận kí hiệu học: Phân tích mối quan hệ giữa cái
biểu trưng và cái được biểu trưng, các cấp độ của cái được biểu trưng
5.5 Phương pháp so sánh văn hóa – văn học: So sánh các hướng
nghĩa và giá trị thẩm mĩ của hệ biểu tượng thân thể con người trong văn hóa
và văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX với một số tác giả tiêu biểu để thấy được sự
mở rộng hay giữ nguyên, thu hẹp ý nghĩa biểu tượng. So sánh để thấy được
tính kế thừa và tính sáng tạo, phát triển của các giai đoạn văn học.
6. Đóng góp của luận văn
Nghiên cứu đề tài này, người viết dự kiến có những đóng góp sau:
- Hệ thống hóa lại các khái niệm chung nhất về ẩn dụ tri nhận
- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp chúng ta có thể phần nào đó
nhận diện thế giới ngôn ngữ thân thể con người trong văn xuôi.
- Thấy được sự vận động, phát triển của ngôn ngữ thân thể trong quá
trình phát triển của văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX
7. Dự kiến nghiên cứu

10


Qua việc khảo sát và giải mã hệ thống biểu tượng ta có thể rút ra sơ
khai một số nhận xét sau:
- Sự chuyển hóa các biến thể văn hóa về thân thể con người vào văn
học nghệ thuật nói chung và văn xuôi nói riêng có một độ chênh, độ khúc xạ
rõ rệt. Tỉ lệ giữa các biến thể cho ta thấy một số đặc trưng trong quan niệm
thẩm mĩ cũng như trong ý thức xã hội của từng thời kì văn học.
- Sự tri nhận ngôn ngữ thân thể con người trong văn xuôi hiện đại có
sự kế thừa các tầng lớp ý nghĩa của biểu tượng văn hóa. Nhưng con người
buổi giao thời đầu thế kỉ XX vẫn là con người đạo đức phong kiến. Yếu tố

khai đề tài dựa trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa - tư duy, chúng tôi
lựa chọn hai cơ sở lí luận là cơ sở ngôn ngữ học và cơ sở văn hóa học.
1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.1. Nghĩa của từ và trường từ vựng ngữ nghĩa
1.1.1.1. Nghĩa của từ
a. Khái niệm
Nghĩa của từ là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học từ rất sớm. Đó
là toàn bộ những nội dung tinh thần có khi tiếp xúc với vỏ âm thanh của từ.
Hay như giáo sư Đỗ Hữu Châu đã nhận định: “Nghĩa của từ là một thực thể
tinh thần có quan hệ ổn định với hình thức từ”, cùng với hình thức từ lập
thành một thể thống nhất gọi là từ. Nghĩa của từ là một hợp điểm, là kết quả
của tác động giữa những nhân tố trong ngôn ngữ (toàn bộ hệ thống ngôn ngữ)
và ngoài ngôn ngữ (sự vật hiện tượng của thế giới bên ngoài và những hiểu
biết về sự vật hiện tượng đó). (Tam giác ngữ nghĩa của Rechard và Ogden,
Zvenghinsen, Đỗ Hữu Châu được trình bày trong sách Nhập môn ngôn ngữ
học và Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng).
b. Các thành phần nghĩa của từ
Từ vừa mang ý nghĩa cấu trúc (là những ý nghĩa được cố định hóa, có
tính bền vững trong hệ thống và được ghi chép giải nghĩa trong từ điển), lại
vừa mang ý nghĩa lâm thời, ý nghĩa liên hội (ý nghĩa không cố định, biến đổi,
nảy sinh trong hoạt động hành chức của ngôn ngữ và chưa được ghi chép giải
nghĩa trong từ điển). Trong ý nghĩa cấu trúc của từ bao gồm hai loại ý nghĩa
lớn là ý nghĩa ngữ pháp và ý nghĩa từ vựng. Nếu ý nghĩa ngữ pháp mang tính
đồng loạt, chung cho nhiều từ thì ý nghĩa từ vựng là ý nghĩa riêng của từng từ.

12


Luận văn sẽ tập trung chú ý tới ý nghĩa từ vựng của từ với ba thành phần
nghĩa: ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái.

nói tới. Từ đó, chúng ta có thể tìm ra một số đặc điểm tâm lí cũng như quan
niệm của người Việt về các vấn đề trong cuộc sống.
Thành phần ý nghĩa liên hội được các nhà nghiên cứu xác lập để tạo thế
cân bằng với ý nghĩa cấu trúc. Sự có mặt của thành phần nghĩa này được kiểm
chứng khi từ được sử dụng trong hoạt động hành chức, tức là khi nó được
chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động. Ngoài những ý nghĩa đã được
cố định trong từ điển, những ý nghĩa có khả năng nảy sinh trong tâm trí người
sử dụng những liên tưởng, đánh giá, ấn tượng mang đậm dấu ấn cá nhân. Thói
quen sử dụng những ý nghĩa phát sinh này sẽ phản ánh nhận thức của cá nhân,
của cộng đồng. Điều đó, nó giúp cho người sử dụng ngôn ngữ nhuần nhuyễn,
tự tin và tránh phạm húy trong tập quán, văn hóa của người bản ngữ. Có thể
nói, ý nghĩa liên hội phần nào chứa đựng những lớp tư duy của cộng đồng
cũng như những cảm nhận cá nhân, khám phá những thói quen mang tính chất
phong tục trong thế ứng xử của con người đối với thế giới tự nhiên và xã hội.
Vì thế, trong luận văn này, chúng tôi đi vào nghiên cứu ý nghĩa liên hội của
những từ chỉ bộ phận thân thể diện kiến của con người để tìm hiểu một số đặc
điểm tâm lí của người Việt hiện đại đối với vấn đề này.
c. Hiện tượng nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ
Từ xa xưa, ngôn ngữ học đã quan tâm lí giải hiện tượng tính đa trị ở
một tín hiệu ngôn ngữ: một hình thức tín hiệu có thể mang nhiều nội dung,
khi nghiên cứu về nghĩa của từ và sự chuyển biến ý nghĩa của từ trong sử
dụng. Nhưng hiện tượng này bao gồm hai nhóm khác nhau đó là hiện tượng
đồng âm và hiện tượng nhiều nghĩa, và để phân biệt hai hiện tượng này ngôn
ngữ học lấy tiêu chuẩn ngữ nghĩa để soi chiếu. Kết quả cho thấy hiện tượng
nhiều nghĩa là sự chuyển biến ý nghĩa trong nội bộ một từ, còn từ đồng âm lại
là hiện tượng các từ khác nhau nhưng có sự trùng nhau về hình thức âm
thanh. Khi có sự phân biệt như vậy, luận văn sẽ chỉ chú ý tới hiện tượng

14




kiểu trường từ vựng để đưa ra cách lí giải hợp lí về sự tri nhận của người Việt
qua trường từ vựng mắt, tay và chân của con người.
b. Các loại trường từ vựng ngữ nghĩa
Từ những đặc điểm chung của tập hợp từ, Đỗ Hữu Châu đã trình bày
những quan niệm của mình về các kiểu trường nghĩa và tiêu chí xác lập
trương nghĩa: Trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa
liên tưởng, trường nghĩa tuyến tính.
Trường nghĩa biểu vật “là một tập hợp các từ ngữ đồng nhất với nhau
về nghĩa biểu vật (về phạm vi biểu vật)” . Để xác lập trường nghĩa biểu vật
người ta chọn một danh từ biểu thị sự vật làm gốc, danh từ này phải có ý
nghĩa khái quát cao. Từ điểm xuất phát đó, ta có thể xác lập được một tập hợp
những từ ngữ có ý nghĩa xoay quanh từ trung tâm. Khi tìm hiểu trường nghĩa
biểu vật cần lưu ý những điểm sau:
- Về số lượng đơn vị và tổ chức: các trường nghĩa có sự khác nhau về
số lượng cũng như tổ chức và nếu có chung tên gọi thì trường nghĩa ở các
ngôn ngữ khác nhau thì có sự khác nhau.
- Về vị trí: một từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau hay
trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó.
- Về mối quan hệ: các trường biểu vật có thể “thẩm thấu”, “giao thoa”
với nhau. Bên trong các trường nghĩa, các từ ngữ quan hệ với trường biểu vật
có thể chặt chẽ hoặc lỏng lẻo.
Một điểm rất đáng chú ý là trường nghĩa biểu vật không phải chỉ có
danh từ tức là những từ dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng. Trường nghĩa biểu
vật có thể bao gồm động từ, tính từ, trạng từ… Các từ này có thể biểu hiện
các phương diện khác nhau (mang các nét nghĩa khác nhau) nhưng đều liên
quan đến phạm vi sự vật, thuộc về trường biểu vật đó.
Trường biểu niệm “là tập hợp các từ có chung một cấu trúc nghĩa biểu
niệm’. Để xác lập trường biểu niệm ta chọn một cấu trúc biểu niệm làm gốc,

tưởng tới do xuất hiện với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương

17


đối đồng nhất, thường xuyên lặp đi lặp lại. Chính vì thế, các trường liên tưởng
“có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân” .
c. Hiện tượng chuyển trường
Tại mục 1.1.1.1. Nghĩa của từ, khi trình bày về “hiện tượng nhiều nghĩa
của từ”, một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa biểu vật, biểu niệm và biểu thái.
Hiện tượng này không tồn tại ngay khi từ vừa xuất hiện mà hình thành do
những cải biến của con người trong quá trình sử dụng: “Từ (đơn hoặc phức) lúc
mới xuất hiện đều chỉ có một nghĩa biểu vật. Sau một thời gian được sử dụng,
nó có thể có thêm những nghĩa biểu vật mới. Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện
ngày càng nhiều thì nghĩa biểu niệm của nó càng có khả năng biến đổi”. Sự
chuyển nghĩa của từ chính là cơ sở dẫn đến sự chuyển trường.
Những biến đổi về nghĩa của từ diễn ra tùy theo từng hoàn cảnh giao
tiếp cụ thể. Các nghĩa mới nảy sinh có thể chỉ mang tính chất nhất thời, dễ
dàng bị tiêu biến song cũng có những nghĩa được sử dụng rộng rãi trong cộng
đồng ngôn ngữ, trở nên ổn định và được ghi vào từ điển. Điểm chung của sự
biến đổi ngữ nghĩa là chúng luôn diễn ra theo những cách thức và quy tắc
chung. Ngữ nghĩa học truyền thống quan niệm hai phương thức chuyển nghĩa
cơ bản là ẩn dụ và hoán dụ. “Ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của x để gọi
tên y (để biểu thị y), nếu như x và y giống nhau. Còn hoán dụ là phương thức
lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế” .
Khi có hiện tượng chuyển nghĩa, một từ sẽ có thêm ý nghĩa mới. Hầu
hết các đơn vị ngôn ngữ, khi chuyển sang một nghĩa khác thì đồng thời nó
cũng chuyển sang một trường nghĩa mới. Xem xét các ví dụ dưới đây:
• Bàn tay mỏng tanh, diệu kỳ, không trọng lượng... (Đỗ Hoàng Diệu)
• Giao hết tiền bạc trong nhà về tay nó thảy (Hồ Biểu Chánh)

vật nguy hiểm (Women, fire and Dangerous things, 1987); Lí thuyết hiện
đại về ẩn dụ (The contemporary theory of metaphor, 1992)… Đây được coi
là những đóng góp quan trọng nhất của ngôn ngữ học tri nhận và tạo nên một

19


cuộc cách mạng nhận thức cho nhân loại. Bản chất của ẩn dụ chính là “hiểu
và trải nghiệm một vấn đề trong thuật ngữ của một loại vấn đề khác”, “ẩn dụ
là một thao tác tinh thân cơ bản của con người, theo các đó chúng ta hiểu
biết về thế giới”. Hay nói cách khác, thao tác tinh thần được hiểu cụ thể chính
là quá trình đồ họa hoặc chuyển di của tư duy tâm trí, tâm lí, nhận thức của
con người từ lĩnh vực/ miền nguồn tới lĩnh vực/ miền đích còn chưa biết.
Trong Metaphor we live by, Lakoff có đưa ra một số ví dụ:
- Anh đừng tốn/ lãng phí thời gian (waste time) vào việc đó nữa.
- Tôi đã học được cách tiết kiệm thời gian (save time) khi làm việc tại
ngân hàng.
- Chị ta luôn dành thời gian (spend time) cho việc đọc sách.
Theo quan điểm truyền thống, gần như ẩn dụ không xuất hiện trong các
phát ngôn trên. Các động từ được gạch chân được dùng đúng với nghĩa từ
điển. Tuy nhiên, dưới sự phân tích của Lakoff, ẩn sau những phát ngôn hết
sức đời thường lại hàm chứa một quá trình tư duy của con người: dùng những
từ ngữ gắn với lĩnh vực tiền bạc để nói đến lĩnh vực khác là thời gian. Và
những hành động của con người tác động đối với thời gian không khác gì sự
tác động của con người đối với tiền bạc. Cách nói như vậy được chấp nhận là
bởi trong tâm trí của cả người nói và người nghe đều tự động thực hiện quá
trình chuyển di ý niệm từ lĩnh vực tiền bạc (miền nguồn) sang lĩnh vực thời
gian (miền đích). Sự di chuyển ý niệm được gọi là ánh xạ. Vì thế, Lakoff đã
khái quát thành công thức: Thời gian là tiền bạc và coi đó là một một ẩn dụ tri
nhận/ ẩn dụ ý niệm.

- Một số ý nghĩa tương đồng khác: vị trí trong một tập thể, đoàn thể, tổ
chức...
Để hiểu và nhận biết được những nội dung như trên, người phát ngôn
và người tiếp nhận dựa vào kinh nghiệm, nhận thức, hiểu biết về thế giới
khách quan để ý niệm hóa các phạm trù ở miền nguồn cụ thế hướng tới miền
đích với các phạm trù trừu tượng.
1.1.2.2. Ý niệm
a. Khái niệm
Thuật ngữ Ý niệm cũng được các nhà ngôn ngữ học tri nhận quan tâm
và cắt nghĩa. Tuy có chung thuật ngữ tiếng Anh là Concept nhưng các nhà

21


ngôn ngữ học có sự phân biệt khá rõ ràng về Khái niệm và Ý niệm. Khái niệm
là đơn vị nhỏ nhất của quá trình nhận thức với hai giai đoạn cảm tính (cảm
giác và tri giác) và lí tính (biểu tượng và khái niệm). Khác hẳn với quá trình
nhận thức, quá trình tri thức không chia thành những giai đoạn rạch ròi mà là
sự tổng hợp những kết quả thu nhận được bắt đầu từ tri giác cảm tính thông
qua năm giác quan của con người để rồi cuối cùng tạo nên những Ý niệm –
đơn vị nhỏ nhất của quá trình tri nhận. Yu.X.Stepanov cho rằng Khái niệm là
thuật ngữ của logic học và triết học, còn Ý niệm thuộc về toán học và văn hóa
học. Và ông đưa ra định nghĩa: Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn
hóa trong ý thức của con người; dưới dạng của nó nền văn hóa đi vào thế
giới ý thức (tư duy) của con người, và mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con
người – con người bình thường, không phải con người sáng tạo ra những giá
trị văn hóa – chính con người đó đi vào văn hóa, và trong một số trường hợp
nhất định, nó tác động đến văn hóa. [9 ;26]. G.G. Slyshkin cũng nghiên cứu
các quan điểm về Ý niệm và bản thân ông coi đó là một khâu không trung gian
không thể thiếu trong việc nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và

hai
thành
tố,
đó là:
Ý
nhóm
niệm
Niệm
nội dung
thông tin về thế
giới tâm
hiện thực và thế giới tưởng tượng, mang
Trung
xãnhững
hội
VH
vùng
VH cá
Ngoại vi
thể
22


nét phổ quát và tất cả những gì làm nó trở thành sự kiện của văn hóa, nghĩa là
nó chứa đựng những nét đặc trưng văn hóa dân tộc. Cở sở của Ý niệm chính là
những kinh nghiệm cảm tính trực tiếp mà con người thu nhận được thông qua
quá trình tri giác thế giới bằng các cơ quan cảm giác, thông qua hoạt động tư
duy và hoạt động giao tiếp dưới hình thức ngôn ngữ. Ý niệm có cấu trúc
trường – chức năng được tổ chức theo mô hình trung tâm (hạt nhân) và ngoại
vi. Trong cấu trúc đó, hạt nhân là khái niệm mang tính phổ quát toàn nhân loại

đựng sự hiểu biết của con người về thế giới, được hình thành trong ý thức,
trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ. Trong Ý niệm có cái phổ
quát (Khái niệm) và cái đặc thù (văn hóa thể hiện ở nhiều dạng khác nhau)
Vì gắn với đời sống và văn hóa giao tiếp nên các ý niệm trong sự tri
nhận của con người khi có sự chuyển di ý niệm giữa các phạm trù dựa trên sự
cơ chế của ẩn dụ. Trong ba thành tố cấu thành cấu trúc của ẩn dụ là Miền
nguồn (Sourse domain), Miền đích (Target domain) và Ánh xạ (Mapping)

23


thì Ánh xạ là yếu tố quan trọng nhất tạo nên ẩn dụ tri nhận. Tác giả Phan Thế
Hưng đã khái quát một số ẩn dụ bản thể qua mô hình như sau:
Miền nguồn

Miền đích

VẬT CHẤT

KHÁI NIỆM TRỪU TƯỢNG/PHI VẬT CHẤT
(ví dụ: tâm trí)

CHẤT LIỆU
VẬT CHỨA

CÁC HỌAT ĐỘNG (ví dụ: chạy, chảy,…)
VẬT CHẤT KHÔNG ĐỊNH RÕ (ví dụ: lối mòn
trong rừng)
BỀ MẶT VẬT CHẤT VÀ PHI VẬT CHẤT
(ví dụ: địa điểm, tầm nhìn,…)

thân, vào tự nhiên và xã hội “được ghi lại, được tàng trữ, được bảo toàn trong
bộ não người chủ yếu nhờ ngôn ngữ; và cũng nhờ ngôn ngữ mà con người có
thể truyền đạt những tri thức, những sự hiểu biết ấy của mình cho người khác,
sang địa phương khác”. Ngôn ngữ và tư duy luôn có sự tác động qua lại và
ảnh hưởng lẫn nhau. Không có ngôn ngữ thì không có tư duy, ngược lại
không có tư duy cũng không thể có ngôn ngữ bởi lúc ấy “ngôn ngữ” chỉ là thứ
âm thanh trống rỗng và vô nghĩa.
Trong xu phát triển chung, càng ngày ngành ngôn ngữ học càng quan
tâm nhiều hơn tới mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy, thậm chí
nó trở thành “trung tâm của tâm lí ngôn ngữ học tộc người” hiện nay (dt Đặc
trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy – Nguyễn Đức Tồn). Các nhà
nghiên cứu ngôn ngữ như Sapir và Whorf cho rằng “tư duy của con người bị
quy định bởi ngôn ngữ mà anh ta nói và anh ta không thể vượt thoát ra khỏi
phạm vi ngôn ngữ này, bởi vì toàn bộ sự hiểu biết của một con người về thế
giới đều được biểu hiện bằng tiếng mẹ đẻ của người đó” (dt Đặc trưng văn
hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy – Nguyễn Đức Tồn). Các tác giả này
trình bày thuyết tương đối ngôn ngữ của mình với hai biến thể mạnh và yếu:
“Biến thể mạnh: ngôn ngữ quyết định cái cách thức một dân tộc suy nghĩ,
cảm thụ và chia cắt thế giời khách quan (thành các phạm trù). Ngôn ngữ khác
nhau thì tư duy khác nhau. Biến thể yếu: ngôn ngữ phản ánh những giới hạn
ràng buộc về văn hóa đối với lối suy nghĩ của dân tộc, thể hiện cách mà ngôn

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status