BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ ÁNH NGUYỆT
CON NG¦êI Vµ Tù NHI£N TRONG V¡N XU¤I VIÖT
NAM
SAU N¡M 1975 Tõ GãC NH×N PH£ B×NH SINH
TH¸I
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 62.22.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Lê Lưu Oanh
HÀ NỘI - 2015
LI CM N
Luận ỏn đ-ợc hoàn thành d-ới sự h-ớng dẫn khoa học của PGS - TS Lê
L-u Oanh. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn PGS cùng tập thể các nhà khoa
học thuộc chuyên ngành Lí luận văn học, Tr-ờng Đại học S- phạm Hà Nội đã
giúp đỡ chúng tôi trong quá trình nghiên cứu.
Ng-ời viết cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ, chia sẻ của bạn bè, đồng môn
và những ng-ời thân trong thời gian thực hiện luận ỏn.
Luận ỏn đ-ợc viết bằng niềm yêu thích đặc biệt với vấn đề nghiên cứu,
tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi mong nhận đ-ợc những
nhận xét, góp ý từ bạn đọc.
1.1.1. Khái niệm phê bình sinh thái .............................................................. 5
1.1.2. Lịch sử phê bình sinh thái ................................................................... 7
1.1.3. Phê bình sinh thái - một khuynh hướng nghiên cứu văn học ........... 15
1.2. Lịch sử phê bình mối quan hệ con người với tự nhiên trong văn
học Việt Nam.................................................................................................. 22
1.2.1.Các công trình nghiên cứu ................................................................. 22
1.2.2. Phê bình sinh thái – những khởi đầu mới mẻ ................................... 23
Chương 2: KHUYNH HƯỚNG VĂN XUÔI SINH THÁI VIỆT NAM .. 31
SAU NĂM 1975 ............................................................................................. 31
2.1. Những tiền đề lịch sử xã hội của văn học sinh thái Việt Nam ........... 31
2.2. Sự hình thành của văn xuôi sinh thái sau năm 1975 .......................... 32
2.2.1. Giai đoạn manh nha .......................................................................... 32
2.2.2. Giai đoạn hình thành ý thức sinh thái .............................................. 34
2.3. Những thay đổi trong cách thể hiện mối quan hệ giữa con người
và tự nhiên...................................................................................................... 39
2.3.1. Thay đổi điểm nhìn ............................................................................ 40
2.3.2. Thay đổi motif cốt truyện .................................................................. 45
2.3.3. Thay đổi tính chất của nhân vật ........................................................ 48
2.3.4. Thay đổi giọng điệu........................................................................... 49
Chương 3: CẢM HỨNG PHÊ PHÁN TỪ ĐIỂM NHÌN PHÊ BÌNH
SINH THÁI .................................................................................................... 55
3.1. Ý thức về con người "tội đồ" trong mối quan hệ với tự nhiên .......... 55
3.1.1. Thống trị tự nhiên.............................................................................. 55
3.1.2. Chiếm đoạt không gian hoang dã ..................................................... 61
3.2. Ý thức về con người nạn nhân trong mối quan hệ với tự nhiên ........ 68
3.2.1. Số phận con người trong những thảm họa tự nhiên ......................... 68
3.2.2. Niềm kính sợ với sinh mệnh tự nhiên ................................................ 74
3.3. Ý thức về con người tha hóa.................................................................. 77
có lẽ “đang trong giai đoạn thác ghềnh và thỉnh thoảng mất phƣơng hƣớng” [150,
xvii]. Cần phải tìm một hƣớng đi khác cho nghiên cứu văn học. Do vậy hiện nay,
bên cạnh những hƣớng nghiên cứu văn học trƣớc đó vẫn đang có những tìm tòi mới
mẻ và đạt đƣợc nhiều thành tựu thì cũng xuất hiện sự chuyển hƣớng văn hóa trong
nghiên cứu văn học, xuyên qua văn học để quan sát sự đổi thay văn hóa, nghiên cứu
ý thức văn hóa đƣợc thể hiện nhƣ thế nào trong văn học, nghiên cứu ý thức về xã
hội, ý thức về môi trƣờng thể hiện trong văn học.
Thế kỉ XXI là thế kỉ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con ngƣời phải đối
mặt với nhiều nguy cơ sinh thái nhất. Trong xã hội hiện đại, cùng với tốc độ đô thị
hóa và sự ỷ lại vào khoa học kĩ thuật con ngƣời đang ngày càng quay lƣng với tự
nhiên, khai thác quá mức, khiến cho tự nhiên ngày càng cạn kiệt. Thiên nhiên trả
thù con ngƣời không phải chỉ bằng các thảm họa, thiên tai, mà đáng sợ hơn, trả thù
bằng sự biến mất của chính nó. Cái “dây chuyền sống” huyền diệu của tạo hóa đang
ngày càng bị phá hủy. Phê bình sinh thái (ecocritisim) nổi lên khi vấn đề biến đổi
khí hậu, sự xuống cấp về môi trƣờng không còn là vấn đề của mỗi quốc gia dân tộc
nữa, nó ảnh hƣởng đến sự sống. Văn học quan tâm đến sự sống cho nên khúc ngoặt
của phê bình sinh thái xét đến cùng lại liên quan đến bản thể của văn học.
Trên thế giới, khởi phát từ Anh – Mĩ, phê bình sinh thái đang là một trào lƣu
năng động hiện nay, thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều hơn các nƣớc ngoài phƣơng
Tây. Việt Nam là quốc gia chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ của tình trạng biến đổi khí hậu,
nƣớc biển dâng, mƣa bão, lũ lụt... Sống ở vùng đất nhạy cảm với những đổi thay của
môi trƣờng, hẳn nhiên điều đó sẽ ánh xạ vào tác phẩm, nhất là với nhà văn đa cảm, trắc
ẩn. Ý thức sinh thái này đã đƣợc nhiều tác giả văn xuôi sau năm 1975 đề cập đến: sự
hủy hoại môi sinh dẫn tới việc mất cân bằng tự nhiên; quá trình đô thị hóa, nền kinh tế
thị trƣờng khiến con ngƣời rời xa môi trƣờng sinh thái, con ngƣời trở thành nạn nhân,
công cụ của thƣơng mại… Do vậy văn học có khuynh hƣớng tìm về biểu hiện mối
2
quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên, có một tƣ duy sinh thái trong việc nhận diện, phân
khủng hoảng môi trƣờng, đề tài chỉ ra những điểm có thể vận dụng lí thuyết phê
bình sinh thái để nghiên cứu dựa trên văn xuôi hƣ cấu sau năm 1975, chủ yếu là
truyện ngắn và tiểu thuyết làm đối tƣợng khảo sát chính. Từ đó để thấy sự phản ứng
của văn học trƣớc những khủng hoảng sinh thái đang diễn ra.
3
3. Nhiệm vụ của luận án
- Khảo sát các tác phẩm văn xuôi sinh thái sau năm 1975; phân tích các tác
phẩm dƣới góc nhìn của phê bình sinh thái
- Đƣa ra một cái nhìn toàn cảnh về văn học sinh thái Việt Nam sau năm 1975
- Khảo sát những bình diện khác nhau của khuynh hƣớng văn xuôi sinh thái
4. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài những phƣơng pháp đƣợc sử dụng nhƣ những thao tác thƣờng xuyên
trong nghiên cứu văn học nhƣ thống kê – phân loại, phân tích, tổng hợp, so sánh
(đồng đại, lịch đại), chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp sau:
4.1. Phương pháp luận
- Vận dụng "cảm quan nhìn lại" của phê bình sinh thái làm tiền đề để nhận
thức mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên xung quanh nhƣ một thực thể của
chỉnh thể sinh thái. Sự nhận thức lại này sẽ giúp chúng ta nhận diện rõ hơn mối
quan hệ giữa tự nhiên và văn hóa.
- Phương pháp liên ngành: Phê bình sinh thái là một hƣớng nghiên cứu liên
ngành, kết hợp văn học với khoa học, phân tích tác phẩm văn chƣơng để rút ra những
cảnh báo môi trƣờng. Luận án vận dụng những kiến thức của các ngành khoa học (sinh
thái học, dân tộc học, sử học, triết học, chính trị, đạo đức...), một số loại hình nghệ thuật
khác (điện ảnh, âm nhạc…) để hiểu và lý giải một số quan điểm của các tác phẩm.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu khác
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Thi pháp học hiện đại đã đƣợc vận
dụng để nhận diện khuynh hƣớng văn xuôi sinh thái qua điểm nhìn, motif cốt
truyện, nhân vật, giọng điệu.
Sinh thái (oikos) theo nghĩa gốc tiếng Latin là nhà ở, nơi cƣ trú, bất kì một
sinh vật sống nào cũng cần nơi cƣ trú của mình.
Thuật ngữ sinh thái học (ecology) có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp, bao gồm
oikos (chỉ nơi sinh sống) và logos (học thuyết, khoa học). Thuật ngữ “sinh thái học”
chỉ thật sự ra đời vào năm 1869 do nhà sinh vật học ngƣời Đức Ernst Haecker đƣa ra.
Ông là ngƣời đầu tiên đặt nền móng cho môn khoa học sinh thái về mối tƣơng quan
về động vật với các thành phần môi trƣờng vô sinh. Trải qua hàng trăm năm phát
triển, sinh thái học đã có rất nhiều định nghĩa nhƣng chung nhất vẫn là học thuyết
nghiên cứu về nơi sinh sống của sinh vật, mối tƣơng tác giữa cơ thể sinh vật sống và
môi trƣờng xung quanh. Ngày nay, sinh thái học không chỉ tồn tại trong sinh học mà
nó còn là khoa học của nhiều ngành khác, trong đó có khoa học xã hội và nhân văn.
Với tƣ cách là một khuynh hƣớng phê bình văn hóa và văn học, phê bình
sinh thái (ecocriticism), đƣợc hình thành ở Mĩ vào giữa những năm 90 của thế kỉ
XX, đã hấp thu tƣ tƣởng cơ bản của sinh thái học vào nghiên cứu văn học “dẫn
nhập quan niệm cơ bản nhất của triết học sinh thái vào phê bình văn học” [89].
Trong các định nghĩa về phê bình sinh thái, định nghĩa của Glotfelty đƣợc xem là
ngắn gọn và dễ hiểu hơn cả:
Nói đơn giản, phê bình sinh thái là nghiên cứu mối quan hệ
giữa văn học và môi trường tự nhiên. Cũng giống như phê bình nữ
quyền xem xét ngôn ngữ và văn học từ góc độ giới tính, phê bình Marxit
mang lại ý thức của phương thức sản xuất và thành phần kinh tế để đọc
văn bản, phê bình sinh thái mang đến phương pháp tiếp cận trái đất là
trung tâm (earth-centered approach) để nghiên cứu văn học [150, xviii].
Để hiểu rõ hơn định nghĩa này, chúng ta cần hiểu quan niệm của phê bình
sinh thái về con ngƣời/ tự nhiên, tự nhiên/ văn hóa, những vấn đề làm nên tƣ tƣởng
đặc thù của phê bình sinh thái. Về mặt từ nguyên, tự nhiên (nature) mà gốc Latin
của nó là natura, nghĩa là “đặc điểm thuộc về tự nhiên, vũ trụ” hay natus (sự sinh ra,
đƣợc sinh ra)… để phân biệt với thế giới đƣợc chế tạo, nhƣ các đồ vật đƣợc làm bởi
con ngƣời. Dẫu vậy, “tự nhiên” đã trở thành một diễn ngôn mơ hồ, luôn biến đổi, nó
là cái tồn tại mặc nhiên từ buổi hoang sơ, nhƣng cũng là cái đã bị con ngƣời sở hữu
văn hóa. Phê bình sinh thái trở thành một giải pháp khôi phục ý nghĩa và tầm quan trọng
của tự nhiên với con ngƣời cũng nhƣ khẳng định vai trò của ngôn ngữ trong việc định
hình và thay đổi các quan niệm về tự nhiên nhƣ lời khẳng định của Glotfelty
Toàn bộ phê bình sinh thái chia sẻ những giả thuyết cơ bản mà văn
hóa con người kết nối với tự nhiên, ảnh hưởng tới nó và chịu ảnh hưởng của
nó. Phê bình sinh thái đặt vấn đề quan hệ nối kết giữa tự nhiên và văn hóa,
đặc biệt là sự tạo tác văn hóa của ngôn ngữ và văn học. Như một quan điểm
phê bình, phê bình sinh thái đặt một chân ở văn học và chân kia trên mặt đất,
như là một diễn ngôn lí thuyết, phê bình sinh thái dàn xếp giữa con người
(human) và (thế giới) phi nhân loại (nonhuman) [151, xix].
7
1.1.2. Lịch sử phê bình sinh thái
1.1.2.1. Cội nguồn triết học của phê bình sinh thái
Mặc dù nhiều nhà nghiên cứu sinh thái cho rằng phê bình sinh thái không có
lịch sử của nó, nghĩa là phong trào này mới phát xuất từ những năm 70 của thế kỉ
XX khi những cảnh báo về sự khủng hoảng môi trƣờng ngày càng trầm trọng và
con ngƣời ta bắt đầu nhận thấy mặt trái của văn minh kĩ trị đã ảnh hƣởng đến môi
trƣờng nhƣ thế nào. Tuy nhiên, hành trình đó cũng bắt đầu bằng cách tìm cách trở
về với trái đất nguyên thủy vì sự thực bất kì lí thuyết nào cũng có cội nguồn của nó.
Triết học phƣơng Tây đã manh nha các tƣ tƣởng sau này trở thành tiền đề cho
phê bình sinh thái: tƣ tƣởng sinh thái của Rousseau, Darwin, Heidegger... Nghiên
cứu về phƣơng diện tiến hóa của Darwin đã chứng minh một cách thuyết phục bằng
khoa học, giáng một đòn mạnh mẽ vào tƣ tƣởng "con ngƣời kiểu mẫu muôn loài" có
thể đứng cao hơn tất thảy. Sự thực, nhân loại và các sinh vật khác có cùng nguồn
gốc trên ý nghĩa sinh vật học, do vậy, con ngƣời phải ý thức rằng tất cả các sinh vật
đều có quan hệ huyết thống, cần đem sự quan tâm của con ngƣời mở rộng đến tất cả
các sinh mệnh khác. Rousseau, một nhà triết học Ánh Sáng cũng đề cao việc tôn
trọng tự nhiên. Ông khẳng định rằng bản chất con ngƣời là lƣơng thiện nhƣng xã hội
luân lí học (Land Ethics) biểu đạt tƣ tƣởng cốt lõi của ông: con ngƣời và đất đai, nƣớc,
thực vật và động vật tồn tại mối quan hệ luân lí. Xét trên lập trƣờng nhân loại, động thực vật khác trên trái đất chỉ là tài sản. Mối quan hệ giữa ngƣời và đất đai vẫn thuần là
kinh tế, con ngƣời chỉ có quyền lợi mà không có nghĩa vụ đối với đất đai. Thuật ngữ
quan trọng nhất để Aldo Leopold giải thích là “cộng đồng” (Community), ông cho rằng
mỗi cá nhân đều sống trong một môi trƣờng xã hội, trở thành một bộ phận cùng nƣơng
tựa nhau để tồn tại trong cộng đồng này. Phạm vi đạo đức trƣớc đây giới hạn trong
“cộng đồng nhân loại” (Humman Community), mối quan hệ này chỉ coi trọng quan hệ
con ngƣời và con ngƣời, con ngƣời với xã hội, còn “luân lí môi trƣờng” mở rộng ra
Cộng đồng sinh vật (Biotic Community) bao gồm cả cỏ cây, sông nƣớc, động vật… thế giới của muôn loài. Quan niệm Đại địa luân lí học làm thay đổi vai trò nhân loại
trong văn minh truyền thống phƣơng Tây. Con ngƣời, từ kẻ chinh phục, kẻ thao túng tự
nhiên trở thành một thành viên trong đó. Con ngƣời phải có sự tôn trọng thích đáng đối
với tất cả các thành viên thuộc giới hữu tình và vô tình, và cùng sinh tồn với các loài
khác hợp thành một cộng đồng rộng lớn, con ngƣời có nghĩa vụ trách nhiệm bảo vệ
“cộng đồng sinh vật” đƣợc hài hòa, ổn định, và đẹp đẽ “Hành vi mà có thể bảo hộ tính
chỉnh thể, tính ổn định, và vẻ đẹp của Cộng đồng sinh vật là đúng, trái ngƣợc lại với
điều đó là hành vi sai trái” [153, 26].
Những tƣ tƣởng của sinh thái học nhƣ: Cộng đồng sinh vật (Biotic Community),
Ý thức sinh thái (Ecological conscience), Đại địa mĩ học (Land aesthetic) mà Aldo
Leopold đề xuất chủ yếu để thay đổi thế giới quan nhân loại trung tâm (humancentred) trong văn minh truyền thống Kitô giáo phƣơng Tây, phá bỏ sự cách biệt giữa
con ngƣời và thiên nhiên để nhận thức Vạn vật bình đẳng. Lƣơng tâm sinh thái xuất
phát từ thái độ con ngƣời thay đổi thế giới quan, từ mối quan tâm con ngƣời với con
ngƣời kéo dài ra đến con ngƣời và vạn vật trên trái đất. Chỉ khi con ngƣời nhận thức
đƣợc loài vô tình hay giới hữu tình trong Đại địa đều là một phần tử của Cộng đồng
sinh vật thì nhân loại mới có thể tôn trọng và bảo vệ chúng đƣợc.
Nhƣ vậy, đạo đức môi trƣờng đã mở rộng ra từ quyền con ngƣời sang quyền
9
của thiên nhiên. Cuối thế kỉ XX là thời kì khởi phát phong trào bảo vệ sinh thái. Ngoài
những phong trào bảo vệ môi trƣờng thực tế, các phong trào xuất phát từ nền tảng tƣ
âm thầm diễn ra của các biến cố đời đời kiếp kiếp, sự tuần hoàn của bốn mùa, sự
vận chuyển uy nghi của tinh tú, đó là cái đạo mà ta thấy trong mỗi dòng suối, mỗi
phiến đá, mỗi ngôi sao, đó là cái luật của vũ trụ, vô tƣ, vô ngã, mà lại hợp lí, và loài
ngƣời phải hành động theo luật ấy nếu muốn sống khôn ngoan và yên ổn” [25, 53].
10
Bởi vậy, ngƣời phƣơng Đông thƣờng lựa chọn cách sống hài hòa với tự nhiên để
đƣợc thanh thản, đủ đầy. Vì con ngƣời xa rời Đạo, đánh mất đi sự hồn nhiên chất
phác của mình nên sinh ra loạn lạc, vì vậy con ngƣời cần giữ gìn bản chất tự nhiên,
nhu thuận cũng chính là gìn giữ và nuôi dƣỡng bản tính trẻ thơ của mình. Thuyết
Đồng tâm cho rằng những áng văn chƣơng hay nhất trong thiên hạ chƣa bao giờ lại
không nảy sinh từ trái tim trẻ thơ (Lí Chất).
Trong các sử thi phƣơng Đông, còn có những bài học về sự hòa hợp tự
nhiên. Các anh hùng của ngƣời Ấn trong Ramayana, Mahabrahata trƣớc khi lên
ngai vàng trị vì đất nƣớc đều vào sâu trong núi hành hƣơng, học bài học triết lí về
nhân sinh bằng cách tĩnh tâm, hòa mình sống với thiên nhiên. Trƣớc khi trở thành
đấng Giác Ngộ, Đức Phật đã trải qua kiếp sống không chỉ là con ngƣời, thần linh mà
cả là chim chóc, muông thú để có thể hiểu về cuộc đời của muôn loài bình thƣờng,
với đủ mọi quan hệ thế tục. Đức vua Trần Nhân Tông sau khi thực hiện xong việc
thế sự, xuất gia vào núi sâu để đƣợc trong sạch, giác ngộ tràn đầy. Thiên nhiên, do
đó là ngƣời thầy minh triết vĩnh cửu trong tâm thức của ngƣời phƣơng Đông.
1.1.2.2. Sự phát triển của phê bình sinh thái
Cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đã tạo ra số của cải vật chất khổng lồ, đƣa
đến cho con ngƣời nhiều tiện nghi, nhƣng nó cũng khiến cho con ngƣời “đang đi
trên con đƣờng dẫn đến sự đối đầu trực tiếp với thiên nhiên” [49, 42]. Hiện tại, con
ngƣời bắt đầu hiểu ra là cần phải thƣơng yêu và che chở thiên nhiên, nếu không sẽ
phải gánh chịu sự thua thiệt, tuy nhiên, vì lòng tham, vì sự không biết lo xa chúng ta
chƣa thực sự có những hành động thiết thực. Trƣớc bối cảnh khủng hoảng môi
trƣờng đó, để thể hiện sự quan tâm đến các vấn đề sinh thái nhằm thức tỉnh nhân
thƣờng sử dụng thuật ngữ “nghiên cứu xanh” (green study) thì ở Mỹ lại thích sử dụng
thuật ngữ “phê bình sinh thái” (ecocritism). Nhiều thuật ngữ khác cũng thƣờng đƣợc sử
dụng nhƣ “thi pháp sinh thái” (ecopoetics), “phê bình văn học môi trƣờng”
(environmental literary criticism), hay “nghiên cứu (văn hóa) xanh”
(green(cultural)studies), sáng tác tự nhiên (nature writing), sinh thái học lãng mạn
(Romantic Ecology)… Chúng tôi đồng ý với Cheryll Glotfelty và nhiều học giả khác
về việc thống nhất thuật ngữ ecocritism (phê bình sinh thái) vì nó ngắn gọn và có thể dễ
dàng tạo thành dạng thức khác là ecocritical (tính chất phê bình sinh thái) và ecocritic
(nhà phê bình sinh thái). Hơn nữa, tiền tố “eco-” (sinh thái) hay hơn tiền tố “enviro-”
(môi trƣờng) bởi vì tƣơng tự khoa học sinh thái học, phê bình sinh thái nghiên cứu mối
quan hệ giữa các sự vật, trong trƣờng hợp này, giữa văn hóa và thế giới tự nhiên. Mặt
khác, tiền tố “enviro-” (môi trƣờng) ngụ ý rằng, con ngƣời chúng ta là trung tâm, tất cả
mọi thứ xung quanh chúng ta là môi trƣờng. Ngƣợc lại, tiền tố “eco-” (sinh thái) ám chỉ
các cộng đồng phụ thuộc lẫn nhau, những hệ thống hòa hợp và sự kết nối mạnh mẽ
giữa các bộ phận cấu thành [xem thêm 151, xx].
Khởi nguyên của thuật ngữ ecocritism xuất phát từ cuốn Hài kịch của sự sinh
tồn: nghiên cứu trong sinh thái học văn học (The Comedy of Survival: Studies in
Literary Ecology, 1972), Joseph Meeker giới thiệu thuật ngữ: sinh thái học văn học
(literary ecology) ám chỉ “sự nghiên cứu chủ đề sinh thái và những mối liên hệ xuất
hiện trong tác phẩm văn học. Đồng thời, nó cũng là một sự thử nghiệm để khám phá
ra vai trò của nó là gì với văn học trong sinh thái học của loài ngƣời” [151, xx]. Thuật
ngữ ecocriticism có lẽ xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1987 bởi William Rueckert
12
trong một khảo luận tên là Văn học và sinh thái học: Một thử nghiệm mới trong phê
bình sinh thái (Literature and Ecology: An Experiment in Ecocriticism). Phê bình
sinh thái (ecocriticism) theo Rueckert có nghĩa là “việc ứng dụng sinh thái học và các
thuật ngữ sinh thái học vào nghiên cứu văn học” [151, 105]. Định nghĩa của Rueckert
có liên quan đặc biệt với khoa học sinh thái học và theo đó đã giới hạn lại thành một
- đây là cuốn sách phổ biến về phê bình sinh thái.
13
Tuy nhiên, để nhận thức rõ ràng về phê bình sinh thái phải kể đến ngƣời có công
phát triển phong trào phê bình sinh thái là Cheryll Glotfelty, đã đồng biên tập với Harold
Fromm một tuyển tập cốt yếu các bài viết có tính định hƣớng quan trọng là Tuyển tập
Phê bình sinh thái: Các mốc quan trọng trong Sinh thái học Văn học (The Ecocriticism
Reader: Landmarks in Literary Ecology, University of Georgia Press, 1996). Năm 1992
bà cũng là nhà sáng lập ra Hiệp hội Nghiên cứu Văn học và Môi trƣờng - ASLE (the
Association for the Study of Literature and Environment) . Hiệp hội này trở thành tổ
chức có hàng nghìn thành viên ở Mỹ, sau đó các chi nhánh mới thành lập ở Anh và tiếp
theo là nhiều nƣớc châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Canada… Năm 1993 Patrick
Murphy đã xuất bản tạp chí mới, là Nghiên cứu Liên ngành Văn học và Môi trường ISLE (Interdisciplinary Studies in Literature and Environment) để cung cấp một diễn
đàn nghiên cứu phê bình văn học quan tâm tới lí do môi trƣờng.
Phong trào phê bình sinh thái ở Anh và Mĩ có đôi chút khác biệt. Phê bình
sinh thái, hay phê bình xanh của Anh quốc lại đƣợc sinh thành từ phong trào Lãng
mạn Anh của thập kỷ chín mƣơi thế kỷ 18 (1790) hơn là từ phong trào Tiên nghiệm
Mỹ trong thập kỷ bốn mƣơi thế kỷ 19 (1840). Ngƣời tiên phong của phong trào này
là nhà phê bình Jonathan Bate, tác giả cuốn Sinh thái học Lãng mạn: Wordsworth
và Truyền thống (văn học) Môi trường ( Romantic Ecology: Wordsworth and the
Environmental Tradition, Routledge, 1991).Tuyển tập các công trình phê bình sinh
thái đáng chú ý nhất tại Anh là cuốn Tuyển tập nghiên cứu xanh: Từ chủ nghĩa lãng
mạn tới phê bình sinh thái (The Green Studies Reader: From Romanticism to
Ecocriticism, Routledge, 2000) do Laurence Coupe biên tập. Nếu nhƣ phê bình sinh
thái Mỹ thiên về ca tụng tự nhiên thì phê bình sinh thái Anh lại thiên về cảnh báo về
môi trƣờng,Thành phố và Nông thôn (The Country and the City (Chatto & Windus,
1973) của Raymond William đã thể hiện rõ điều đó
Nhƣ vậy, phê bình sinh thái từ những nghiên cứu riêng lẻ, khó nhận diện đã
có một tổ chức riêng thu hút giới nghiên cứu trên trên toàn thế giới, có một tạp chí
Jonathan Bate đã ứng dụng nguyên lý phê bình hiện tƣợng học, chủ nghĩa sinh thái
học lãng mạn của Heidegger, lý thuyết về trạng thái tự nhiên của Jean Jacques
Rousseau để so sánh thơ ca và tiểu thuyết lãng mạn của Jane Austen và Thomas
Hardy, Mary Shelley, William.H.Hudson và Elizabeth Bisho.
Năm 2004, Grey Garrard (đại học Bath Spa, Anh) xuất bản chuyên luận Phê
bình sinh thái (thuật ngữ phê bình mới) (Ecocriticism (The New Critical Idiom) bàn về
diễn ngôn chủ yếu của phê bình sinh thái từ 8 phƣơng diện nhƣ ô nhiễm, nơi chốn, điền
viên, hoang dã, tận thế (thảo luận về Kitô giáo), cƣ trú, động vật, trái đất. Từ cái nhìn
của phê bình sinh thái, tác giả đã chất vấn và khéo léo đƣa ngƣời đọc qua những cạm
bẫy của lí thuyết, đào sâu vào những tranh luận chính của phê bình sinh thái hôm nay.
Chuyên luận phê bình sinh thái thứ 3 của Lawrence Buell mang tên Tương
lai của phê bình môi trường: khủng hoảng môi trường và tưởng tượng văn học (The
Future of Environmental Criticism: Environmental Crisis and Literary Imagination,
2005). Buell đặt phê bình sinh thái vào lĩnh vực nghiên cứu văn hóa và văn học để
khảo sát, chỉ ra một cách rõ ràng "sự chuyển hƣớng của sinh thái môi trƣờng trong
những nghiên cứu về văn học và văn hóa" (the environment turn in literary and
cultural studies), "diễn ngôn sinh thái của văn học" (literary ecodiscourse) đƣợc sử
15
dụng rộng rãi hơn, hình thành hệ thống toàn cầu hóa hơn, đƣợc thảo luận liên ngành
nhiều hơn, đƣợc cấu thành từ nhiều phƣơng diện hơn.
Một cuốn sách cũng cần đƣợc nhắc đến ở đây là Sự mơ hồ sinh thái: Khủng
hoảng môi trường và văn học các nước Đông Á (Ecoambiguity: Environmental
Crises and East Asian Literatures, 2012) của Karen Thronber. Mở rộng diện quan
tâm của phê bình sinh thái ra khỏi các nƣớc ngoài phƣơng Tây: Trung Hoa, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, bà đã đƣa ra một khái niệm quan trọng "mơ hồ sinh thái"
khi nhận định rằng tình yêu thiên nhiên trong các văn bản văn chƣơng Đông Á ẩn
dấu những ngộ nhận không nhỏ dẫn đến những bất công môi trƣờng.
Phê bình sinh thái đã mở rộng phạm vi tới Shakespear học. Etock (trong
Nguy cơ sinh thái mang tính toàn cầu mà ngày nay chúng ta phải đối mặt
có nguồn gốc không phải ở bản thân hệ thống sinh thái mà ở hệ thống văn hóa
của chúng ta. Muốn vượt qua nguy cơ này, tất yếu phải ra sức lí giải minh bạch
ảnh hưởng của văn hóa của chúng ta đối với tự nhiên. Nhà sử học, nhà phê bình
văn học, nhà nhân loại học, nhà triết học nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa và
sinh thái, tuy không thể trực tiếp thúc đẩy cách mạng văn hóa, nhưng lại có thể
giúp chúng ta lí giải, mà sự lí giải này chính là tiền đề của cách mạng văn hóa [
theo 151, xxi].
Phê bình sinh thái phê phán thuyết con người là trung tâm (Anthropocentrism)
tồn tại trong tƣ tƣởng nhân loại, nhất là từ sau phong trào Khai sáng, cùng với sự hƣng
khởi của tƣ tƣởng nhân bản thì nhân sinh quan đã có một sự thay đổi rất lớn. Địa vị con
ngƣời trong thế giới cũng đƣợc xác lập lại. Mối quan hệ giữa con ngƣời và thiên nhiên
nghiêng về sự đối lập nhị nguyên. Từ ngƣời con của thiên nhiên trở thành chủ nhân của
trái đất. Con ngƣời không phải phục tùng, kính sợ tự nhiên nữa mà ngƣợc lại, vạn vật trở
thành sản phẩm tiêu dùng của nhân loại. Do vậy, việc con ngƣời chinh phục tự nhiên là
một quyền lợi hiển nhiên. Trong các loài, con ngƣời là kiểu mẫu, là sinh vật cao cấp,
bằng trí tuệ và khả năng của mình, con ngƣời có thể làm chủ và cải tạo đƣợc thế giới.
Văn học từ xƣa đến nay ngợi ca bao hình tƣợng đều là những ngƣời khẳng định vị thế
chúa tể muôn loài bằng khát vọng chinh phục tự nhiên. Vậy nên văn học cũng có lỗi
trong việc khiến cho trái đất đang ngày một kiệt quệ. Bởi vậy, sự thay đổi trong suy nghĩ
liên quan đến con ngƣời với môi trƣờng cần đƣợc đổi thay từ chính văn học, nơi thích
hợp để phản biện lại những thói quen của tư duy. Tƣ tƣởng này vấp phải một rào cản
đã tồn tại một cách thâm căn cố đế trong tƣ tƣởng truyền thống phƣơng Tây coi con
ngƣời là tinh hoa “Con ngƣời là kiểu mẫu của muôn loài”. Điều này đã đƣợc Joseph
Meeker chỉ ra trong công trình Hài kịch của sự sinh tồn: nghiên cứu trong sinh thái học
văn học (The Comedy of Survival: Studies in Literary Ecology), về sau vấn đề này trở
thành cốt yếu của phê bình sinh thái và triết học môi trƣờng: cuộc khủng hoảng môi sinh
chủ yếu bắt nguồn từ truyền thống văn hóa phƣơng Tây vốn chia tách văn hóa ra khỏi tự
nhiên và dành cho văn hóa thế ƣu trội.
Thế kỉ XXI là thế kỉ mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng con ngƣời phải đối
chính xác sự thay đổi bất thƣờng của thời tiết” [100]. Theo cách nói của Bate, Phê bình
sự nóng lên toàn cầu (Global warming criticism) “đƣa ra định đề về một thế giới tự
nhiên không còn bị xem là thụ động hay đƣợc sắp xếp theo trật tự định sẵn và chỉ biết
phục tùng. Ngƣợc lại, tự nhiên đƣợc nhìn nhƣ một cái gì bất định, không thể đoán
trƣớc và có sự phản ứng lại trƣớc mọi sự can thiệp của chúng ta, theo cách mà chúng ta
không thể lƣờng trƣớc, cũng không thể kiểm soát đƣợc” [141, 439].
Cho dù có lẽ nhiều ngƣời sẽ đồng tình với phái phê bình sinh thái học lạc quan
(light Greens) khi tin rằng chúng ta có thể cứu trái đất bằng cách thận trọng hơn trong
cách sản xuất, tiêu dùng. Và thật khó đồng tình với những nhà phê bình sinh thái bi
quan (dark Greens) khi phải thừa nhận loài ngƣời chúng ta do bị đầu độc bởi những
thành tựu về khoa học kĩ thuật và công nghệ đã nghĩ rằng con ngƣời có khả năng cải
tạo đƣợc thế giới. Khoa học kĩ thuật chính là nguyên nhân hủy hoại môi trƣờng do đó
nó không thể nào là giải pháp cho vấn đề môi trƣờng mà bằng cách nào đó con ngƣời
phải quay trở lại tự nhiên. Thì một sự thực đang tồn tại: môi trƣờng toàn cầu đang ngày
một tồi tệ đi nhƣng chúng ta vẫn chƣa có những chính sách mang tính toàn cầu và toàn
18
diện để thay đổi điều đó. Để giải quyết khủng hoảng con ngƣời phải nhìn lại phƣơng
thức sống, xem xét lại văn minh văn hóa để đề xuất, đánh giá lại thái độ của mình với
Trái Đất. Điều này dẫn đến cuộc cách mạng thế giới quan của con người mà văn
học phải tham dự vào như một cách đề nghị, như một lời cảnh báo: “hầu hết tác
phẩm phê bình sinh thái chia sẻ một động cơ chung: sự lo lắng về việc chúng ta đã đi
đến giới hạn của thời đại môi trƣờng, thời điểm mà những hậu quả của hành vi con
ngƣời đang tàn phá hệ thống sự sống cơ bản của hành tinh” [151, xxii].
1.1.3.2.“Phê bình sinh thái đảo lộn truyền thống phê bình”
Đây là nhận định của Peter Barry, trong tuyển tập giới thiệu những lí thuyết
văn học và văn hóa Nhập môn lí thuyết: dẫn luận lí luận văn học và lí luận văn hóa
(Beginning Theory: An Introduction to Literary and Cultural Theory), ở phần đánh
giá của ông về phê bình sinh thái [140, 251]. Đó cũng là cách mà Glotfelty nhận
sáng) và không thể chịu đựng ánh sáng tự nhiên, thích ánh sáng thể hiện trong những
bức tranh, anh ta không thể chịu đựng âm thanh tự nhiên, chỉ "xử lí âm thanh" của âm
nhạc. Những gì được tưởng tượng ở đây là một hệ thống sinh thái hư hỏng không thể
sửa chữa và trong cái chết đau đớn của nó: đây là cuộc sống trên một hành tinh lạnh
lẽo, là hệ thống tắc nghẽn, cắt lìa những gì thanh lọc và tái sinh. Ở sự đọc này, trọng
tâm của câu chuyện không phải là đêm tối của tâm hồn, mà là những thảm họa sinh
thái cố ý, mùa đông hạt nhân, năng lượng mặt trời hoặc kiệt sức. Đây là một câu
chuyện đáng sợ hơn so với cách đọc thông thường tạo ra, khi kể chuyện chạy khỏi ngôi
nhà bị sụp đổ nhưng không có nơi nào cho anh ta chạy tới cả. [140, 257]
Phê bình sinh thái đã thay đổi một cách cơ bản cách nhìn nhận, tiếp cận đối
tƣợng. Các phong trào nghiên cứu văn học từ trƣớc đến nay đều lấy “con ngƣời làm
trung tâm” (human-centred), còn phê bình sinh thái quan niệm đặt trái đất lên trƣớc hết
(Putting the Earth first). Bởi vậy, phương pháp tiếp cận trái đất là trung tâm (earthcentered approach) để nghiên cứu văn học của phê bình sinh thái đã chỉ trích lí tƣởng
đề cao cá nhân, từ đó tạo ra một phản đề đối với tƣ tƣởng đã ăn sâu cắm rễ vào tƣ duy
nhân loại, để đề xuất quan niệm đề cao tính tƣơng quan giữa cá nhân và môi trƣờng.
Và nhƣ vậy phê bình sinh thái cũng mong muốn chấm dứt tình trạng li khai hàng
nghìn năm nay giữa văn hóa và tự nhiên. Chủ nghĩa nhân văn sinh thái do phê bình
sinh thái đề xuất không tách rời thiên nhiên và văn hóa mà nối lại mạch sống ngàn đời
của con ngƣời với tự nhiên, coi con ngƣời là một phần cộng sinh của tạo hóa.
Don R. Adams phân tích bài thơ Bụi hoa (The Tuft of Flowers) của Robert
Frost để thấy cá nhân trong sự nối kết với con ngƣời và môi trƣờng tự nhiên mà
trong đó họ sống và chết đi. Bài thơ nói về một nông dân làm việc ngoài đồng một
mình vào một ngày nọ. Một nông dân khác đã cắt cỏ trên đồng vào buổi sáng sớm,
và tác giả bài thơ đang quan sát ngƣời nông dân này vào lúc trễ hơn trong ngày, khi
ông ta đang lật cỏ cho khô dƣới ánh mặt trời và cất trong kho cho gia súc ăn vào
mùa đông. Ông thấy công việc thật là cô đơn và đống cỏ đã cắt gợi về cái chết,
khiến ông thấy buồn. Nhƣng rồi ông ta phát hiện thấy một "bụi hoa" mà ngƣời cắt
cỏ buổi sáng đã không cắt, có lẽ là vì vẻ đẹp của nó. Những bông hoa đã thu hút
một con bƣớm, và con bƣớm thì thu hút sự chú ý của ngƣời nông dân. Bỗng nhiên,
thay vì cảm thấy buồn và cô đơn, ngƣời nông dân thấy gắn kết về phƣơng diện môi