Truyện ngắn Cao Duy Sơn từ góc nhìn phê bình sinh thái (LV thạc sĩ) - Pdf 43

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRỊNH THÙY DƯƠNG

TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN

http://www.lrc.tnu.edu.vn


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRỊNH THÙY DƯƠNG

TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN
TỪ GÓC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Cao Thị Hảo

Em xin trân trọng cảm ơn sự ta ̣o điều kiêṇ giúp đỡ của Ban chủ nhiê ̣m
Khoa Ngữ Văn và các thầ y cô giáo Phòng đào tạo Trường Đại ho ̣c Sư pha ̣m
Thái Nguyên đã giúp đỡ em thực hiện đề tài luâ ̣n văn này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, ba ̣n bè, đồ ng nghiêp̣ đã đô ̣ng
viên và nhiê ̣t tình giúp đỡ em trong thời gian hoàn thành luâ ̣n văn.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016
Tác giả luâ ̣n văn

Trịnh Thuỳ Dương

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN iihttp://www.lrc.tnu.edu.vn


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC............................................................................................................iii
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1

1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 7
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................. 7
5. Các phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 7
6. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 8
7. Bố cục của luận văn ......................................................................................... 8
PHẦN NỘI DUNG ............................................................................................... 9
Chương 1: LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN CAO DUY SƠN .................................................... 9


3.2.2. Không gian tự nhiên gắn liền với sinh hoạt của người miền núi ............ 77
3.3. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ..................................................................... 78
3.3.1. Sử dụng hình ảnh tự nhiên trong ngôn ngữ miêu tả ngoại hình nhân vật ... 78
3.3.2. Sử dụng hình ảnh tự nhiên trong ngôn ngữ khắc họa tâm lý nhân vật .... 81
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 84
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................. 89

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN ivhttp://www.lrc.tnu.edu.vn


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học dân tộc thiểu số có một vị trí quan trọng trong đời sống văn
học nước nhà. Trong đội ngũ nhà văn là người dân tộc thiểu số Việt Nam, Cao
Duy Sơn là cây bút trẻ, có sức sáng tạo dồi dào ở mảng đề tài viết về dân tộc và
miền núi. Tuy mới xuất hiện trên văn đàn nhưng tên tuổi Cao Duy Sơn đã dần
trở lên quen thuộc với độc giả, tác phẩm của ông cũng tạo được tiếng vang lớn
và đạt được nhiều giải thưởng của hội nhà văn Việt Nam. Là một cây bút
đương sung sức, các sáng tác của Cao Duy Sơn bao gồm cả truyện ngắn và tiểu
thuyết, nhưng truyện ngắn là địa hạt có nhiều mùa gặt bội thu hơn cả. Với hai
giải A của Hội văn học dân tộc thiểu số Việt Nam, Tặng thưởng của Hội Nhà
văn Việt Nam và giải thưởng văn học ASEAN của Hoàng gia Thái Lan năm
2009 cho những tập truyện ngắn xuất sắc, truyện ngắn của Cao Duy Sơn đã
“mang một thương hiệu riêng, in đậm dấu ấn văn hóa Tày và soi bóng tâm hồn
con người miền núi đặc sắc, sinh động”[9, tr88]. Nghiên cứu truyện ngắn của
Cao Duy Sơn sẽ góp phần khẳng định đóng góp và vị trí của nhà văn trong tiến
trình phát triển của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại.
1.2. Nghiên cứu về truyện ngắn Cao Duy Sơn gần đây đã có một số tác
giả quan tâm nhưng chủ yếu đề cập đến các vấn đề như: Đặc điểm truyện ngắn,

học dân tộc thiểu số nói riêng và văn học Việt Nam đương đại nói chung.
Truyện ngắn của Cao Duy Sơn đã nhận được sự quan tâm của khá nhiều
các nhà nghiên cứu. Trên các báo chí (cả báo in và báo điện tử) đã đăng tải một
loạt các bài viết về Cao Duy Sơn và truyện ngắn của anh, đặc biệt là sau khi
anh đoạt giải thưởng. Chúng ta có thể kể đến các bài viết sau:
Nhà văn người Cô Sầu đoạt giải văn chương, tác giả Hứa Hiếu Lễ, báo
Văn hóa văn nghệ Cao Bằng.
Văn xuôi độc chiếm giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2008, tác giả
Hà Linh, báo Văn nghệ Quân đội.
Viết văn phải có sự ám ảnh, tác giả Huy Sơn, Trang văn hóa giải trí.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 2http://www.lrc.tnu.edu.vn


Bông hoa sen đang ngát, tác giả Hứa Hiếu Lễ, báo Vietnam.net.
Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2008 với tác giả “Ngôi nhà xưa
bên suối”, tác giả Mai Thi, báo Hà Nội mới
Ban mai có một giọt sương, tác giả Đỗ Đức, báo Văn nghệ.
Viết văn là một cuộc viễn du về cội nguồn, tác giả Võ Thị Thúy, báo
kinh tế đô thị.
Hầu hết các bài viết đều khẳng định những đóng góp của nhà văn Cao
Duy Sơn đối với văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại, phong cách riêng
và tài năng của nhà văn đất Cô Sầu. Có tác giả cho rằng: “Đề tài miền núi
không mới nhưng viết để người đọc thổn thức và nhớ đến không phải ai cũng
làm được, có lẽ xuất thân của một người con sau bao nhiêu năm xa cách quê
hương đã làm nên một Cao Duy Sơn thành thực và đầy tình cảm” [47, tr.9].
Trong bài viết Cao Duy Sơn giọng văn nhẹ nhàng mà sắc bén, tác giả
Sông Lam (báo Dân tộc và phát triển) cũng khẳng định: “Kí ức tuổi thơ, con
người đất Cô Sầu và những vỉa tầng văn hóa truyền thống dân tộc Tày đã bán
rễ, ám ảnh sâu vào tâm trí Cao Duy Sơn. Nó khiến anh khắc khoải, day dứt, tựa
hồ như đang mang một món nợ đối với quê hương. Và nếu không trả được món

văn cho dòng văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, tìm hiểu
truyện ngắn Cao Duy Sơn từ những góc nhìn khác, nhất là từ những lý thuyết
mới sẽ cho chúng ta những đánh giá khách quan và toàn diện hơn nữa về vị trí
cũng như đóng góp của nhà văn dân tộc Tày này.
2.2. Những nghiên cứu về truyện ngắn Cao Duy Sơn từ góc nhìn phê bình
sinh thái
Nghiên cứu về truyện ngắn Cao Duy Sơn từ góc nhìn phê bình sinh thái
cho đến nay chưa có công trình nào đề cập đến một cách hệ thống và chuyên
biệt. Tuy nhiên, những vấn đề liên quan về mối quan hệ giữa con người với tự
nhiên đã được các tác giả ít nhiều quan tâm đến trong những công trình nghiên
cứu chung về văn học dân tộc thiểu số và truyện ngắn Cao Duy Sơn. Chúng tôi
xin điểm qua một số vấn đề cơ bản có liên quan đến đề tài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 4http://www.lrc.tnu.edu.vn


Trong công trình Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại một số đặc điểm (2011), các tác giả Trần Thị Việt Trung - Cao Thị Hảo cũng
bước đầu đề cập đến thủ pháp “vật hóa” khi miêu tả các nhân vật phản diện
trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn: “Với thủ pháp “vật hóa”, các nhân vật
phản diện trở thành những con người tầm thường, thậm chí dung tục, bản năng
như loài cầm thú” [49, tr.144]. Lấy hình ảnh của thế giới tự nhiên - đặc biệt là
những con vật ác độc, xấu xí để miêu tả nhân vật phản diện cho thấy ngòi bút
của Cao Duy Sơn đã chú ý đến mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Tuy
nhiên các tác giả chưa đi sâu phân tích kĩ vấn đề mà bước đầu đề cập đến hiện
tượng này như là một thủ pháp xây dựng nhân vật của nhà văn Cao Duy Sơn.
Tác giả Đào Thủy Nguyên (chủ biên) - Dương Thu Hằng trong công
trình Bản sắc văn hóa dân tộc trong văn xuôi của các nhà văn dân tộc thiểu
số Việt Nam (2014) khẳng định: “Thiên nhiên Cao Bằng trong sáng tác của
Cao Duy Sơn không chỉ mang vẻ đẹp của một bức tranh sơn thủy mà còn hiện
lên như một sinh thể hữu tình, biết sẻ chia với con người những vui buồn trong
cuộc sống” [26, tr.163]. Rất tiếc nhận định này cũng chỉ mới được đưa ra như

cách cảm nhận riêng. Ở mức độ tổng quát, chúng tôi nhận thấy, chủ yếu các tác
giả tiếp nhận Cao Duy Sơn trên bình diện cơ bản là: Đón nhận và tôn vinh. Tuy
nhiên, hiện vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về mối
quan hệ, ứng xử, tương tác giữa con người với tự nhiên trong truyện ngắn của
Cao Duy Sơn từ góc nhìn phê bình sinh thái.
Dựa trên những ý kiến bàn luận và các kết quả nghiên cứu đã có về
truyện ngắn Cao Duy Sơn, chúng tôi nhận thấy còn một khoảng trống cần lấp
đầy để làm hoàn chỉnh hơn bức tranh toàn cảnh về truyện ngắn của ông. Chính
vì lẽ đó chúng tôi đã chọn vấn đề nghiên cứu của mình là: Truyện ngắn Cao
Duy Sơn từ góc nhìn phê bình sinh thái. Hi vọng công trình hoàn thiện sẽ góp
một góc nhìn mới về truyện ngắn Cao Duy Sơn để khẳng định những thành
công và hạn chế của nhà văn đối với đời sống văn học đương đại Việt Nam,
nhất là ở mảng văn học dân tộc thiểu số.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6http://www.lrc.tnu.edu.vn


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu và phân tích và làm sáng tỏ những đóng góp
của truyện ngắn Cao Duy Sơn từ góc nhìn của lý thuyết phê bình sinh thái.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Cao Duy Sơn là một cây bút tài năng đã khẳng định được vị trí của mình
trên văn đàn cũng như trong lòng công chúng yêu văn chương. Ông thành công
trên cả hai thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn. Trong phạm vi luận văn này
chúng tôi tập trung khảo sát thể loại truyện ngắn của Cao Duy Sơn. Cụ thể là 4
tập truyện ngắn sau:
1. Những chuyện ở lũng Cô Sầu, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà
Nội, 2003 (tái bản lần thứ nhất).
2. Những đám mây hình người, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002.
3. Ngôi nhà xưa bên suối, Nhà xuất bản Văn học Dân tộc, Hà Nội, 2008.

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu truyện ngắn của nhà văn Cao
Duy Sơn từ góc nhìn của lý thuyết phê bình sinh thái, do đó kết quả nghiên cứu
của luận văn sẽ góp phần hoàn chỉnh hơn bức tranh toàn cảnh về truyện ngắn
của Cao Duy Sơn.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ mang đến một cách tiếp cận mới cho
các tác phẩm văn học, mở ra hướng đánh giá, thẩm định giá trị nhân văn của
văn học từ góc nhìn sinh thái. Đồng thời đánh thức cách ứng xử bình đẳng của
con người đối với môi trường hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần MỞ ĐẦU, KẾT LUẬN và thư mục TÀI LIỆU THAM
KHẢO, nội dung chính của luận văn được triển khai thành 3 chương:
Chương 1: Lý thuyết phê bình sinh thái và hành trình sáng tác của nhà
văn Cao Duy Sơn.
Chương 2: Quan hệ giữa con người và tự nhiên trong truyện ngắn Cao
Duy Sơn.
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
trong truyện ngắn Cao Duy Sơn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8http://www.lrc.tnu.edu.vn


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
LÝ THUYẾT PHÊ BÌNH SINH THÁI
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN CAO DUY SƠN
1.1. Một số vấn đề lý thuyế t phê bin
̀ h sinh thái
1.1.1. Khái niê ̣m phê bình sinh thái
Phê bình sinh thái manh nha vào những năm 70 của thế kỉ 20. Năm 1974,
học giả người Mỹ Joseph W.Meeker cho xuất bản cuốn chuyện luận “Sinh thái
học của văn học”. Trong tác phẩm này, cụm từ sinh thái học văn học lần đầu

2001 Buell cho xuất bản cuốn “Viết vì thế giới đang lâm nguy: Văn học, văn
hóa, môi trường nước Mỹ và các quốc gia khác”.
Có thể thấy, phê bình sinh thái với tư cách là mô ̣t khuynh hướng phê
biǹ h văn hoá và văn học đươ ̣c hình thành ở Mỹ vào giữa những năm 90 của thế
kỷ 20, tiếp đó xuấ t hiêṇ ở nhiề u nước trên thế giới. Trong số khá nhiề u giới
thuyết về thuâ ̣t ngữ “phê bin
̀ h sinh thái” thì cách hiểu của nhà phê bình sinh
thái Mỹ - Cheryll Glotfelty được cho là ngắn gọn nhất: “Phê bình sinh thái là
phê bình bàn về mố i quan hê ̣ giữa văn học và tự nhiên”.
Tác giả Karl Kroeber lại cho rằng: “Phê bình sinh thái không phải đem
phương pháp nghiên cứu sinh thái học, sinh vật hóa học, toán học hoặc
phương pháp nghiên cứu của bất kỳ khoa học tự nhiên nào khác vào phân tích
văn học. Nó chỉ dẫn nhập quan điể m cơ bản nhấ t của triế t học sinh thái vào
phê bình văn học mà thôi” [dẫn theo 12].
Với tư cách là khuynh hướng phê bình văn hoá văn ho ̣c, phê bình sinh thái
có nhiê ̣m vu ̣ chủ yế u mang giá tri ̣đă ̣c thù và đă ̣c trưng bản thể luâ ̣n của nó. Đó là
thông qua văn học để thẩm định la ̣i văn hoá nhân loa ̣i, tiế n hành phê phán nghiên cứu tư tưởng, văn hoá, mô hình phát triể n xã hội của loài người đã ảnh
hưởng như thế nào đến thái đô ̣ và hành vi của nhân loa ̣i đố i với đời sống tự nhiên.
Jonathan Levin đã chỉ ra: “Tấ t cả phương diê ̣n văn hoá xã hội của chúng
ta cùng quyế t đi ̣nh phương thức độc nhấ t vô nhi ̣ sinh tồ n của chúng ta trên thế
giới này. Không nghiên cứu những điề u này, chúng ta không thể nhận thức sâu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10http://www.lrc.tnu.edu.vn


sắ c quan hê ̣ giữa con người và môi trường tự nhiên mà chỉ có thể biể u đạt
những lo lắ ng nông cạn... Vì thế , ngoài nghiên cứu văn học biểu hiê ̣n tự nhiên
như thế nào, chúng ta tấ t yế u còn phải dùng rấ t nhiề u tinh lực để phân tích tấ t
cả các nhân tố văn hoá xã hội quyế t đi ̣nh thái độ đố i với con người, đố i với tự
nhiên và hành vi tồ n tại trong môi trường tự nhiên, đồ ng thời kế t hợp những
phân tích này với nghiên cứu văn học” [dẫn theo 12].

̣ sử mới, Chủ nghĩa duy vâ ̣t văn hoá hay lý
thuyế t tương đối nha ̣y cảm như “Diễn ngôn quyền lực” của Foucault cũng đã
đươ ̣c nhắ c đế n ở Viêṭ Nam, nhưng riêng về “Phê bình sinh thái” la ̣i vắng bóng.
Phê biǹ h sinh thái thinh
̣ hành ở nhiều nước phương Tây, hiện nay tâ ̣p trung vào
vấn đề dùng tư tưởng sinh thái để đánh giá văn ho ̣c trong viê ̣c biể u hiêṇ vấ n đề
sinh thái, khẳ ng định vai trò của tự nhiên. Lý thuyế t phê bình sinh thái ở Việt
Nam được coi là khá mới mẻ, chưa nhâ ̣n đươ ̣c nhiề u sự quan tâm. Cho đế n nay
vẫn có ít bài viết hay công trình nghiên cứu cu ̣ thể về vấ n đề này. Trong các
công trình nghiên cứu văn ho ̣c trước đây chúng ta tập trung nghiên cứu mố i
quan hệ với hiện thực, với các chức năng xã hô ̣i của văn ho ̣c như nhâ ̣n thức,
giáo dục, tuyên truyề n, thẩ m mỹ trong ý thức văn ho ̣c phu ̣c vu ̣ chiń h tri chu
̣ ̉ yế u
là xét theo nguyên tắ c ý chí, nhân ta ̣o. Mố i quan hệ giữa môi trường sinh thái tự
nhiên và văn hoá tinh thầ n với văn nghê ̣ chưa đươ ̣c đă ̣t ra một cách sâu sắc. Vì
thế còn nhiề u vấ n đề về quan hê ̣ giữa văn học với môi trường sinh thái chưa
đươ ̣c xem xét.
Nhìn chung, vấ n đề cân bằ ng sinh thái đảm bảo cho văn học phát triể n, là
đô ̣ng lực của sáng tạo và tự do sáng ta ̣o. Suy cho cùng cô ̣i nguồ n của mấ t cân
bằng sinh thái là do sự phát triển phiế n diê ̣n của xã hô ̣i và con người. Quan
điểm con người là trung tâm đã dẫn đế n huỷ hoa ̣i môi trường tự nhiên. Chin
́ h vì
lẽ đó mà chúng ta phải quan tâm nhiề u hơn nữa đế n cách tiế p câ ̣n các tác phẩm
văn ho ̣c từ lý thuyết phê bình sinh thái. Nghiên cứu về vấ n đề này Trầ n Đình
Sử và Huỳnh Như Phương đều nhấn mạnh đế n sự tương tác giữa môi trường tự
nhiên với con người. Đồng thời tác giả cũng chỉ ra vấ n đề sinh thái không còn
đơn thuầ n là của riêng ngành khoa học nào nữa mà đã trở thành vấ n đề toàn cầ u
trong đó có trách nhiê ̣m của văn chương. Đây có thể coi là vấ n đề đa ̣o đức đồng
thời cũng là vấ n đề thẩ m my.̃
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 12http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trông mưa trông nắ ng trông ngày trông đêm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 13http://www.lrc.tnu.edu.vn


Trông cho chân cứng đá mề m
Trời yên biển lặng mới yên tấ m lòng”
(Ca dao)
Thiên nhiên là người bạn tốt, thiên nhiên là tài nguyên “Chỉ cầ n mưa
thuận gió hoà” “Rừng vàng biể n ba ̣c”,... nơi đâu con người biế t quý tro ̣ng thiên
nhiên sẽ đươ ̣c thiên nhiên ưu đaĩ và cuô ̣c số ng nơi đó sẽ dễ dàng.
Đề cập đến mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, trong văn học Việt
Nam hiện đại giai đoạn trước 1945 đã xuất hiện ở sáng tác của một số tác giả
viết theo xu hướng “truyện đường rừng” như Lan Khai, Thế Lữ, Đái Đức Tuấn,
Nguyễn Tuân với các tác phẩm tiêu biểu như: Ai hát giữa rừng khuya, Vàng và
máu, Cô Dó…. Ở đây các tác giả đã phần nào đề cập đến mối quan hệ giữa môi
trường tự nhiên và đời sống con người. Sống nơi đô thị hay sống hòa mình vào
thiên nhiên tinh khiết, trong trẻo là vấn đề được một số tác giả quan tâm chú ý.
Đôi khi các tác giả cũng ảo hóa thế giới tự nhiên, coi đó như là những bí ẩn hoặc
hoang dã chưa được khai phá. Đôi khi con người cũng muốn trở về với tự nhiên
để trốn tránh thực tại nơi đô hội đầy bon chen, nhưng dường như là thất bại.
Điều này cho thấy sự không thể dung hòa giữa con người đô thị và thế giới tự
nhiên hoang sơ. Con người và tự nhiên vẫn được nhìn nhận như những thực thể
tách biệt, thậm chí mâu thuẫn nhau. Qua con mắt của các nhà văn giai đoạn này,
chúng ta thấy con người thành thị không thể hòa nhập với tự nhiên và luôn nhìn
tự nhiên bằng con mắt xa lạ, là chốn “rừng thiêng nước độc” đầy ám ảnh.
Giai đoạn từ 1945 đến 1975 là thời kỳ văn học có chung “khuôn mặt”,
“dáng hình”, bởi mục đích chính là tập trung phục vụ kháng chiến, cứu quốc.
Tuy nhiên các tác giả cũng chú ý đề cập đến mối quan hệ giữa con người và tự
nhiên. Thậm chí con người và tự nhiên còn có mối quan hệ hữu cơ tương đồng
“Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Cao hơn một bậc, con người được thiên

sự “đố i chứng” giữa người số ng và người chế t, giữa hiêṇ ta ̣i và tương lai còn là
sự phản ánh mối quan hệ giữa con người với thế giới tự nhiên, giữa loài người
và cỏ cây, loài vâ ̣t. Truyê ̣n ngắ n Khách ở quê ra của Nguyễn Minh Châu là
mô ̣t minh chứng khá cu ̣ thể . Mu ̣ Huê ̣ xuấ t thân là “một cô gái thành phố chính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 15http://www.lrc.tnu.edu.vn


cố ng”, mụ chấ p thuâ ̣n lấ y laõ Khúng không phải vì tình yêu, cũng không phải
vì mong muố n có mô ̣t cuô ̣c số ng thôn quê. Sự ra đi của Huê ̣ là để từ biê ̣t mô ̣t
cuô ̣c tin
̀ h phu ̣ ba ̣c, để che giấ u bản thân và đứa con vô thừa nhâ ̣n cô đang mang
trong bu ̣ng. Nghiã là sự lựa cho ̣n ấ y chỉ như mô ̣t “bước đường cùng” trong
hoàn cảnh không thể tránh khỏi. Nỗi nhớ về anh người yêu thành phố lúc nào
cũng hiêṇ diêṇ trong tâm tưởng của Huê ̣, ngay cả khi bi ̣“lão Khúng biến thành
cái máy đẻ” hay sau gầ n hai mươi năm bỏ đi, mụ không còn “đặt chân đế n một
thành phố nào cả, kể cả các thi ̣ trấ n lâm nghiê ̣p cỏn con”; “đế n bây giờ đã trở
thành một người đàn bà thôn quê thực sự, một bà ké miề n rừng thực sự, chắ c
hẳ n Huê ̣ vẫn cấ t giữ cho riêng mình một chút hình ảnh cuố i cùng của cái thời
thiế u nữ số ng ở thành phố ” [3, tr.333]. Thực vâ ̣y, quá khứ đô thi ̣ đep̣ đẽ ấ y vẫn
xuấ t hiêṇ thường xuyên trong mỗi suy nghi,̃ mỗi so sánh của Huê ̣. Với mụ Huê ̣
cũng như với bao nhiêu người dân thành thi ̣khác, viê ̣c thích nghi với mô ̣t không
gian phi đô thi ̣ không bao giờ có thể tro ̣n ve ̣n, hế t sức miễn cưỡng và lúc nào
cũng đầ y đinh
̣ kiế n: “Chao ơi! chỉ có Huê ̣ mới hiể u hế t được tấ t cả nỗi đau đớn,
tù túng của một cuộc đời bi ̣ bưng bít và cách biê ̣t với chung quanh, dù kẻ thông
minh và hiể u biế t đế n đâu cũng sẽ trở thành he ̣p hòi và thiển cận không tránh
được... Huê ̣ đã lấ y cả bản thân số phận để làm vật thí nghiê ̣m cho cái điề u này
cơ mà [3, tr.345]. Không nói ra nhưng thành phố , với Huê ̣ đã trở thành một nơi
chố n lý tưởng, một không gian mà cô luôn muố n được quay trở về số ng với nó,
dù bằ ng cách này hay cách khác “có thể nói rằ ng suố t cả đời mình, Huê ̣ số ng ở

“dân thành thị”. Dù thế nào, có thể thấ y Ba ̣c Kỳ Sinh hay người kể đề u không
hề có ý trách móc Muôn. Như rấ t nhiều người dân tô ̣c nhạy bén khác cô đã
đoán trước đươ ̣c sự thay đổi tấ t yế u của mảnh đấ t mà mình sinh sống. Đúng
như Ba ̣c Kỳ Sinh nói, Muôn đã chọn cho mình một con đường dễ dàng hơn
nhiều. Né tránh những thách thức mà tình yêu và thiên nhiên mang la ̣i, cô đế n
với “mô ̣t môi trường tầ m thường hơn nhưng an toàn hơn”.
Còn với laõ Khúng trong Khách ở quê ra thì la ̣i có mô ̣t quan điể m hoàn
toàn khác về mô ̣t cuô ̣c số ng “văn minh”. Laõ không thể mường tươ ̣ng đươ ̣c
viêc̣ con người có thể khao khát đế n mô ̣t cuô ̣c số ng phi tự nhiên, phi nhân bản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 17http://www.lrc.tnu.edu.vn


đế n vâ ̣y. Quả thâ ̣t con mắ t laõ Khúng khi lang thang giữa thành phố thâ ̣t đúng
như con mắ t của mô ̣t con thú hoang đang chứng kiế n cảnh đồ ng loa ̣i mình bi ̣
giam cầ m trong những chiế c lồ ng, không tiế p xúc với thiên nhiên không đấ t đai
cỏ cây truyề n sức số ng, bức bố i, tù túng yế u ớt đế n thảm ha ̣i: “Ừ cũng lạ thật
cái anh dân thành phố , số ng như thế này mà số ng được, chẳ ng có vườn tược,
chẳ ng có cây cố i, ăn, ở, ỉa trên đầ u nhau, chỉ thấ y tường và tường, chẳ ng trách
người nào người ấ y cứ trắ ng nhợt, nói khẽ, cười khẽ, đi khẽ là phải,...” [3,
tr.353]. Laõ Khúng hay chính là hiêṇ thân của tự nhiên, của bản tính hoang da.̃
Laõ không thể dễ dàng tiế p xúc với ho ̣. Mô ̣t điề u rõ ràng là cảm giác, cách ứng
xử của laõ Khúng với nơi chố n sinh tồ n của mình khác hoàn toàn với mu ̣ Huê,̣
vơ ̣ laõ . Những tương lai mà hai con người ấ y kiế m tìm cũng hoàn toàn khác
nhau. Khác với Huê ̣, laõ Khúng sinh ra từ đồ ng quê, là mô ̣t người con của nông
thôn. Laõ như mô ̣t hiê ̣n thân cho sự gắ n kế t mâ ̣t thiế t của con người với đồ ng
đấ t nguyên thuỷ. Đó không phải chỉ là sự nương tựa, phu ̣ thuô ̣c, bòn rút đấ t đai
mà số ng. Đúng hơn, đó là mố i quan hê ̣ trao đổ i, tương tác qua la ̣i, và hơn thế , là
sự chuyể n hoá lẫn nhau. Hai bàn tay laõ đã làm hồ i sinh vùng đấ t “chó ăn đá gà
ăn sỏi”. Và đế n lươ ̣t mình, thiên nhiên thấ m vào laõ . “Chẳ ng còn là hình thù
một cái bàn tay con người nữa! Hai bàn tay lão đầ y những chỗ nổ i u nổ i cục,

hâ ̣u” trong mắ t nhiều người thời bấ y giờ.
Có thể nói Nguyễn Minh Châu là mô ̣t nhà văn đă ̣t nề n móng cho văn ho ̣c
đổ i mới, bởi trong sáng tác của mình, ông đã lầ n đầ u tiên đă ̣t ra những cuô ̣c đố i
thoa ̣i với tự nhiên, lắ ng nghe tiế ng nói của tự nhiên. Không phải là ở vi ̣thế của
kẻ thố ng tri,̣ cũng không phải là tình yêu thiên nhiên theo cách “nhân hoá” nó,
phú cho nó các hình thái cảm xúc suy nghi ̃ của con người. Ngươ ̣c la ̣i, với ông,
tự nhiên có mô ̣t tiế ng nói “khác” của riêng mình. Nó vẫn không ngừng cấ t tiế ng
nói với chúng ta từng giây từng phút, chỉ có điề u con người dầ n đánh mấ t đi
khả năng thấ u hiể u. Mố i quan tâm tác giả muố n đă ̣t ra như ông nói chính là vấ n
đề “thiên nhiên và môi trường sinh thái”. Những dòng văn kéo trí tươ ̣ng tươ ̣ng
của người đo ̣c vào lich
̣ sử, nhắ c la ̣i với chúng ta rằ ng, sự xuấ t hiê ̣n của không
gian môi trường sinh thái, không gì khác là hê ̣ quả lâu dài của mô ̣t quá triǹ h
chinh phu ̣c tự nhiên: “Đúng, đời số ng loài người là một chuỗi dài quá trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 19http://www.lrc.tnu.edu.vn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status