Đặc điểm truyện ngắn Cao Duy Sơn - Pdf 83

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐINH THỊ MINH HẢO ĐẶC ĐIỂM
TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Thái Nguyên - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC

Trang
A. Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề .................................................................................... 3
3. Đối tượng nghiên cứu.......................................................................... 6
4. Phạm vi nghiên cứu............................................................................ 6
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 6
6. Bố cục của luận văn ........................................................................... 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2. Bức tranh xã hội miền núi với những xung đột “Ngầm” và in đậm
bản sắc văn hoá Tày.................................................................................

29
2.1. Hiện thực xã hội miền núi với những xung đột vừa dữ dội vừa lâu
dài..............................................................................................................

29
2.1.1. Xung đột lịch sử - dân tộc............................................................... 30
2.1.2. Xung đột thế sự - đời tư.................................................................. 30
2.2. Hiện thực xã hội miền núi in đậm bản sắc văn hoá Tày..................... 32
3. Hình tượng con người miền núi với một số nét đặc trưng.................... 37
3.1. Con người miền núi với số phận bi kịch............................................ 37
3.2. Con người tha hoá và sám hối............................................................ 40
3.3. Con người thánh thiện........................................................................ 42
Chương 3. Một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn
Cao Duy Sơn
47
1. Cốt truyện ........................................................................................... 47
1.1. Khái niệm Cốt truyện....................................................................... 47
1.2. Cốt truyện trong ba tập truyện ngắn Cao Duy Sơn.......................... 48
2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật............................................................. 52
2.1. Khái niệm nhân vật văn học............................................................. 52
2.2.Kiểu nhân vật trung tâm trong truyện ngắn Cao Duy Sơn................ 54
2.2.1. Kiểu nhân vật lí tưởng................................................................... 56
2.2.2. Kiểu Nhân vật dị dạng về nhân cách............................................. 58
2.3. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật .......................................... 59
2.4. Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật........................................... 65

hiện diện khá đông đủ bộ mặt văn học các dân tộc anh em trong đại gia đình
các dân tộc Việt Nam. Với khả năng khơi sâu vào cái riêng, cái đặc sắc của
mỗi dân tộc, vùng miền, văn xuôi các dân tộc thiểu số đã đem lại sự phong
phú, đa dạng và tầm vóc riêng cho cả nền văn xuôi hiện đại. Đặc biệt, những
nét đặc thù trong thiên nhiên và khí chất con người miền núi đã tạo sức gợi
riêng, so với văn xuôi viết về đô thị, đồng bằng nói như Phong Lê: “văn xuôi
miền núi chiếm lĩnh được một vẻ đẹp riêng, không thay thế được, không ai bắt
chước được”.
1.2. Trong đội ngũ nhà văn là người dân tộc thiểu số Việt Nam. Cao Duy
Sơn là cây bút trẻ có bút lực sung mãn ở mảng đề tài viết về người dân tộc miền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
núi. Tuy mới xuất hiện trên văn đàn nhưng tác phẩm của ông đã tạo được tiếng
vang lớn và đạt được nhiều giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam.
Nhà văn Cao Duy Sơn tên thật là Nguyễn Cao Sơn dân tộc Tày - sinh
năm 1956 tại Thị trấn Cô Sầu (huyện Trùng Khánh - tỉnh Cao Bằng). Là hội
viên nhà văn Việt Nam, hội viên hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số
Việt Nam, Tổng biên tập tạp chí văn hoá các dân tộc. Chánh văn phòng Hội
văn hoá nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam. Cao Duy Sơn là một trong
số ít nhà văn người dân tộc thiểu số đã thành công khi tạo được dấu ấn sâu
đậm trong lòng độc giả.
Cao Duy Sơn là một cái tên hiện đang được rất nhiều người biết đến khi
tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt
Nam 2008, mang giá trị vượt ra ngoài các giải thưởng văn học trong nước với
đề cử giải thưởng Văn học ASEAN của Hoàng gia Thái Lan năm 2009. Tuy
nhiên cho đến nay vẫn còn ít những công trình nghiên cứu chuyên biệt về
Cao Duy Sơn, nếu có cũng chỉ là một vài bài báo hoặc những ý kiến nhỏ lẻ
trong cả một công trình, bài viết về văn học các dân tộc thiểu số nói chung.
Những kết quả nghiên cứu này chưa đủ để tái dựng một chân dung Cao Duy

- Đàn trời ai đọc nấy nghe.... Tác giả Vũ Xuân Tửu - tạp chí Văn hoá
các Dân tộc số 7/2006.
- Cõi nhân gian như cổ tích - Đọc Đàn trời, tiểu thuyết của Cao Duy
Sơn, NXB Văn hoá DT - Hà Nội 2006 - tác giả Nguyễn Chí Hoan.
Văn nghệ tết Đinh Hợi - 2007
- Đàn trời cất tiếng ca vang - tác giả Mai Hồng www.vo.vnews.vn
8/2007.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
- Cả đời tôi chỉ đeo đuổi về đề tài miền núi - tác giả Hứa Hiếu Lễ - báo
văn nghệ 11/2008.
- Nhà văn người co xàu đoạt giải văn chương - tác giả Hứa Hiếu Lễ -
Báo văn hoá văn nghệ Cao Bằng.
- Văn xuôi độc chiếm giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2008 - tác giả
Hà Linh - Báo văn nghệ Quân đội.
- Phản ánh đánh giá của Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh về
tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối.
- Viết văn là một cuộc viễn du về với cội nguồn - tác giả Võ Thị Thuý -
Báo kinh tế đô thị.
- Viết văn phải có sự ám ảnh - Tác giả Huy Sơn - Trang văn hoá giải trí.
- Bông hoa sen đang ngát - tác giả Hứa Hiếu Lễ - Việt Nam net.
- Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2008 với tác giả Ngôi nhà xưa
bên suối - Tác giả Mai Thi - Báo Hà Nội mới.
- Ban mai có một giọt sương - Tác giả Đỗ Đức - Báo văn nghệ.2008
Đây là những bài viết về nhà văn Cao Duy Sơn được đăng tải trên báo
chí. Hầu hết là những bài phỏng vấn về sự ra đời của tác phẩm, những cảm
nghĩ của nhà văn khi viết và khi được nhận giải thưởng, có một số ít bài đi
vào nội dung tác phẩm như: Cõi nhân gian như cổ tích của tác giả Nguyễn
Chí Hoan viết về tiểu thuyết Đàn trời. Tác giả nhận xét : Chủ đề Hai hàng

một cảm nhận mới về con người và cuộc sống của các dân tộc” [28; tr151]
Năm 2007, trong luận văn thạc sĩ nghiên cứu về Cao Duy Sơn (đề tài : Thi
pháp nhân vật tiểu thuyết, trong tiểu thuyết Người lang thang và Đàn trời của
Cao Duy Sơn) - Tác giả Đặng Thuỳ An (trường Đại học Sư phạm Hà Nội) đã
đưa ra một số nhận xét.
Cao Duy Sơn đã thực sự kế thừa và phát huy những nét độc đáo trong
nghệ thuật xây dựng nhân vật của văn học truyền thống, từ đó khẳng định
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
phẩm chất tốt đẹp và giá trị tâm hồn của người dân miền núi. Nhưng luận văn
khoa học này chỉ dừng lại nghiên cứu ở hai tiểu thuyết Người lang thang và
Đàn trời của Cao Duy Sơn. Như vậy ngoài các bài báo, bài phỏng vấn nhà
văn Cao Duy Sơn được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng có
thể coi đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về nhà văn Cao Duy
Sơn. Đến nay chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu truyện ngắn
của Cao Duy Sơn việc tìm hiểu nghiên cứu đặc điểm truyện ngắn của nhà văn
Cao Duy Sơn vì thế cũng được đặt ra như một đòi hỏi tất yếu.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
- Văn xuôi miền núi đương đại và sáng tác của Cao Duy Sơn
- Hiện thực và con người miền núi trong truyện ngắn Cao Duy Sơn
- Một số phương diện nghệ thuật trong tryện ngắn Cao Duy Sơn
4. Phạm vi nghiên cứu
- Tập truyện ngắn Những chuyện ở lũng Cô Sầu - NXB QĐND
(giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam - 1997).
- Tập truyện ngắn Những đám mây hình người - NXB VHDT
(giải B của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam - 2003)
- Tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối - NXB VHDT
(giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam - 2008).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

8
2. Bức tranh xã hội miền núi với những xung đột “Ngầm” và in đậm bản
sắc văn hoá Tày.
2.1. Hiện thực xã hội miền núi với những xung đột vừa dữ dội vừa lâu dài.
2.1.1. Xung đột lịch sử dân tộc
2.2.2. Xung đột thế sự đời tư
2.2. Hiện thực xã hội miền núi in đậm bản sắc văn hoá Tày.
3. Hình tƣợng con ngƣời miền núi với một số nét đặc trƣng
3.1. Con người miền núi với số phận bi kịch
3.2. Con người tha hoá và sám hối
3.3. Con người thánh thiện
Chƣơng 3. Một số phƣơng diện nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn
1. Cốt truyện
1.1. Khái niệm cốt truyện
1.2. Cốt truyện trong ba tập truyện ngắn Cao Duy Sơn
2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
2.1. Khái niệm nhân vật văn học
2.2. Kiểu nhân vật trung tâm trong truyện ngắn Cao Duy Sơn
2.2.1. Kiểu Nhân vật lí tưởng
2.2.2. Kiểu nhân vật “dị dạng” về nhân cách
2.3. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật
2.4. Nghệ thuật miêu tả hành động nhân vật
2.5. Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
3. Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Cao Duy Sơn
3.1. Ngôn ngữ giàu hình ảnh, sử dụng thủ pháp so sánh.
3.2. Sử dụng lối diễn đạt của người dân tộc.
Kết luận

trng thnh, phỏt trin ca vn xuụi ngh thut cng l mt quỏ trỡnh, gn vi
v phn ỏnh s vn ng, trng thnh ca vn hc núi chung.
Vn xuụi cú nhiu th, nhng tiờu biu nht l truyn. V phm vi h
cu, sỏng to, truyn t do, linh hot hn so vi ký, tn vn, cỏc th vn xuụi
khỏc. Truyn cng cú quỏ trỡnh phỏt trin gn vi nhng c im vn hoỏ -
lch s ca nn vn hc. Truyn ngn, tiu thuyt l nhng th vn xuụi ghi
c nhiu thnh tu. Th gii ngh thut trong truyn ngn, tiu thuyt xa
nay thu hỳt s chỳ ý, say mờ ca bao lp bn c. Do phng thc phn ỏnh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
riêng (“ngụ ý‟, “gián cách” qua thế giới hình tượng hư cấu), tính nghệ thuật
của những sáng tác truyện gắn với cá tính sáng tạo của nhà văn, trở nên phong
phú, hấp dẫn vô cùng.
Văn xuôi có khả năng khám phá, khắc hoạ mọi phương diện biểu hiện
của cuộc sống, con người và thực sự chứng tỏ tính năng động, sức hấp dẫn
của mình khi tìm đến phản ánh những phạm vi mới, những khu vực mới mà
các thể loại khác, hoặc có thể phản ánh nhưng không thành công, ấn tượng
như văn xuôi, hoặc khó tiếp cận hơn so với văn xuôi. Sự xuất hiện Truyện
đường rừng trong văn học Việt Nam những năm 30 - 40 của thế kỷ XX, và
sau này, sự ra đời, phát triển của văn xuôi viết về cuộc sống và con người
miền núi trong văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám 1945 đã chứng
tỏ vai trò là thể loại “chủ lực” của văn xuôi trong mảng đề tài này.
Giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam chủ yếu diễn
ra ở khu vực thị thành. Với cách mạng và kháng chiến, vị trí của vùng cao và
nhân dân các dân tộc miền núi ngày càng được nhận thức đầy đủ, ngày càng
được quan tâm, coi trọng. Bác Hồ từng nói : “Miền núi nước ta chiếm một vị
trí quan trọng đối với quốc phòng, đối với kinh tế, là căn cứ địa trong lịch sử
chống ngoại xâm và phên dậu bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất
nước”. Một phạm vi đời sống rộng lớn (chiếm tới ba phần tư diện tích lãnh

cuộc sống và con người vùng cao. Thời kỳ hoà bình xây dựng chủ nghĩa xã
hôị ở miền Bắc, văn xuôi miền núi phong phú hơn với những sáng tác của Lê
Tuấn Việt, Hoàng Thao, Bàng Sĩ Nguyên, Bàng Thúc Long, và sau này, thêm
những thành công của Nguyễn Tuân, Nguyễn Thành Long, Sao Mai, Đỗ
Quang Tiến… Đáng chú ý nhất là sự xuất hiện và ngày càng trưởng thành của
các cây bút văn xuôi người vùng cao, của bộ phận văn xuôi miền núi trong
văn học các dân tộc ít người. Ngay từ cuối những năm 1950, đầu 1960, bạn
đọc đã được đón nhận những tác phẩm văn xuôi của Nông Minh Châu, rồi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
vào những năm sau là những tác phẩm văn xuôi của Hoàng Hạc, Triều Ân, Vi
Hồng, Lò Văn Sĩ, Lâm Ngọc Thụ, Tu Tếch, Triệu Báo, Vương Hùng, Hoàng
Trung Thu…. Tất nhiên, còn có thể đòi hỏi nhiều hơn về chất lượng nghệ
thuật của một số tác phẩm, nhưng không thể phủ nhận sự trưởng thảnh rất
đáng ghi nhận của văn xuôi miền núi do chính con em các dân tộc ít người
sáng tạo. Không ai có thể hiểu sâu sắc về miền núi hơn những người sinh ra,
lớn lên, gắn bó đời đời với thiên nhiên, cuộc sống và con người nơi ấy.
Tiếp tục những thành tựu và kinh nghiệm nghệ thuật đã có trong những
giai đoạn trước, khoảng 10 năm sau ngày thống nhất đất nước, đội ngũ những
người sáng tác văn xuôi miền núi ngày càng đông đảo, và hoạt động nghệ
thuật của họ tạo nên sự phát triển mới, đồng bộ và phong phú của bộ phận văn
học này trong dòng vận động chung của đời sống và văn học dân tộc. Có thể
kể đến những tiểu thuyết của Mạc Phi, Ma Văn Kháng, Tô Hoài… viết về
cuộc sống, con người các dân tộc Thái, H‟mông; tiểu thuyết của Phượng Vũ,
Y Điêng, truyện ngắn và ký của Trung Trung Đỉnh, Bùi Nguyên Khiết, Nông
Viết Toại, Mã A Lềnh, Nguyễn Khắc Trường…. viết về các vùng miền núi
trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược. Các nhà văn người dân tộc như
Vi Thị Kim Bình, Vi Hồng, Triều Ân, Sa Phong Ba, Y Điêng, Hoàng Hạc,
Nông Minh Châu….hướng về khám phá, miêu tả cuộc sống mới, con người

thái hậu hiện đại trong cách nhìn nhận, khám phá, miêu tả cuộc sống, con
người. Đó không chỉ là những thành tựu của văn xuôi miền núi đương đại mà
còn chứng tỏ sự vận động, đổi mới của văn xuôi, cũng như văn học Việt Nam
thập niên cuối thế kỷ XX.
Đến thời kỳ này, lực lượng người viết văn xuôi miền núi cũng đông đảo,
hùng hậu hơn bao giờ hết. Những cây bút có nhiều kinh nghiệm sáng tác nghệ
thuạt về đề tài miền núi như Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Trung
Trung Đỉnh, Triều Ân, Vi Hồng, Mã A Lềnh, Y Điêng… vẫn dẻo dai sức viết.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
Tiếp đến là Đoàn Hữu Nam (các tiểu thuyết Tình rừng - 2000, Dốc người -
2002), Vũ Xuân Tửu (tập truyện Chuyện ở bản Piát - 2007), Trịnh Thanh
Phong (tập ký Dưới chân núi Bắc Quan - 2000), Hà Đức Toàn (tiểu thuyết
Tiếng hổ gầm - 1999, tập truyện Hương rừng - 2006), Hoàng Thế Sinh (tiểu
thuyết Xứ mưa - 2000, tập truyện Luật của rừng - 2002), Nguyễn Khắc Đãi
(tập truyện Chớp núi - 1998), Nguyễn Anh Tuấn (tập truyện Lũ muộn -
2007), Đỗ Bích Thuý (tiểu thuyết Bóng của cây sồi - 2005, tập truyện Tiếng
đàn môi sau bờ rào đá - 2006), Phạm Duy Nghĩa (các tập truyện Cơn mưa
hoa mận trắng - 2006, Đường về xa lắm - 2007). Cũng có thể kể thêm
những người không chuyên, nhưng có tác phẩm văn xuôi về đề tài miền núi
như các cây bút Đỗ Kim Cuông, Lê Văn Thiềng, Hồ Thuỷ Giang, Phù Ninh,
Đinh Công Diệp, Cao Xuân Thái, Nguyễn Văn Cự, Hoàng Việt Quân,
Nguyễn Hữu Nhàn, Tống Ngọc Hân, Nguyễn Phú.
Tiếp bước người đi trước là đội ngũ nhà văn ở vùng núi phía Bắc trình
làng văn xuôi của các cây bút dân tộc Mường Hà Trung Nghĩa (tập truyện
Hoàng hôn - 1995, tiểu thuyết Lửa trong rừng samu - 1996), Bùi Minh Chức
(tập truyện Sự tích một câu nói - 2001), Hà Lý (tập truyện Ngọt đắng vị
Mường - 2002) . Các cây bút dân tộc Tày có thể kể đến Hoàng Luận (các tập
truyện Thời gian xanh - 1996, Mùa nấm hương - 2001) , Hoàng Hữu Sang

sống tinh thần cho đồng bào các dân tộc miền núi cũng như nhân dân cả nước
nói chung, góp phần làm phong phú đa dạng bản sắc văn hoá các dân tộc nói
riêng, bản sắc văn hoá Việt Nam nói chung.
1.2.2. Những thành tựu và hạn chế của văn xuôi miền núi đƣơng đại
Văn xuôi miền núi đương đại vừa kế thừa, vừa phát huy tốt nhất những
thành tựu và kinh nghiệm nghệ thuật đã có của quá trình phát triển. Bao quát
các mảng đề tài gắn với cuộc sống và con người miền núi qua các giai đoạn
lịch sử, ở những tác phẩm thành công, văn xuôi miền núi đương đại đã chú ý
đến những phạm vi, phương diện, vấn đề nổi bật của đời sống, ghi nhận, miêu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
tả hình ảnh chân thực và sinh động về sức sống mạnh mẽ, bền bỉ, phóng
khoáng của con người các dân tộc vùng núi vừa gắn với núi rừng sông suối
làng bản, vừa cải tạo thiên nhiên, tạo dựng môi trường và cuộc sống ngày
càng no ấm, tươi đẹp, tiến bộ, hiện đại hơn. Văn xuôi miền núi đã phản ánh
những đóng góp thầm lặng, nghĩa tình, bền bỉ, to lớn của người dân vùng cao
vào sự nghiệp cách mạng, kháng chiến của cả nước; đã phản ánh những thay
đổi của cuộc sống, con người các dân tộc ít người miền núi trong những thay
đổi chung của đồng bào cả nước. Khát vọng độc lập tự do, mong muốn cuộc
sống thanh bình, hạnh phúc đã là nguồn cội sâu xa tạo nên sức mạnh và vẻ
đẹp cải tạo thiên nhiên, xã hội, tham gia cách mạng, dựng xây cuộc sống của
con người vùng cao. Văn xuôi miền núi cũng miêu tả, khắc hoạ những bình
diện đời sống vật chất, tinh thần đậm đà bản sắc văn hoá riêng của các dân tộc
ít người, chứng tỏ sức sống và sự đa dạng, phong phú của văn hoá và con
người Việt Nam. Có thể nói, văn xuôi miền núi đã đóng góp vào văn xuôi
Việt Nam nói chung những giá trị độc đáo không thể thay thế, dù có thể là
chưa thật nhiều.
Về mặt nghệ thuật, không thể phủ nhận những thành tựu kinh nghiệm vô
cùng quý giá đã đạt được trong tiểu thuyết, truyện ngắn viết về miền núi của

văn tài năng là nguyên nhân của thực trạng chưa có nhiều tác phẩm hay, có
giá trị. Theo ý kiến một nhà nghiên cứu, trong số những người sáng tác trẻ
hiện nay “có người còn không biết tiếng nói của dân tộc mình, có nghĩa là
học không nắm được cái thần, cái hồn, tâm lý, tính cách riêng của dân tộc,
làm cho tiếng nói của họ không có da thịt, không có màu sắc cho nên sáng tác
của họ thường mờ nhạt chung chung” [28. Tr 42] Có ý kiến cho rằng: Về dân
tộc miền núi, đang ngày càng thiếu những đề tài hay, đó là do các nhà văn
chưa chạm đến tầng sâu trong văn hoá của vùng đất mình theo đuổi. Có khi
cũng một đề tài nhưng có người viết hay, có người viết dở và có người viết ta
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
đọc thấy mới nhưng cũng có người viết ta thấy rất cũ, đó là lỗi của người viết.
Đó là sự phản ánh, những nhược điểm, khiếm khuyết của văn học nói chung,
nhưng khá rõ với văn học về đề tài miền núi, văn học các dân tộc ít người.
Từ đó cần đầu tư cho đội ngũ sáng tác nhiều hơn nữa. Rất nhiều các tác
giả người dân tộc thiểu số hiện nay do điều kiện sống ở vùng sâu, vùng xa ít
có cơ hội được giao lưu, trao đổi và phát triển chuyên môn. Bên cạnh đó, khả
năng quảng bá tác phẩm đến công chúng của các tác giả người dân tộc thiểu
số còn hạn hẹp do thiếu kinh phí đầu tư. Hội văn học nghệ thuật các dân tộc
thiểu số đã có nhiều cố gắng giúp đỡ và hỗ trợ sáng tác cho tác giả từ nguồn
kinh phí do Nhà nước tài trợ, nhưng chưa thể đáp ứng hết được Cũng có ý
kiến cho rằng: văn học dân tộc thiểu số - trong đó có văn xuôi - đang già đi
trong cảm hứng sáng tạo, thiếu dần những cái hay, cái lạ. Nói như một nhà
văn có nhiều tác phẩm văn xuôi hay, được đánh giá cao về đề tài miền núi,
một mặt đó là ý kiến cần được tham khảo, cần nhìn nhận, đánh giá hết sức
công bằng.
Trên thực tế, văn xuôi dân tộc thiểu số vẫn đang phát triển và có nhiều
cái mới. Tư duy văn học của thế hệ cách đây 30 năm, 60 năm khác bây giờ.
Cứ mỗi thế hệ đi qua lại khác. Ngay cả lời ăn tiếng nói, ứng xử với nhau cũng

của nhà văn đến mức tạo nên một hình dung quen thuộc cho người đọc về một
miền đất xa xôi. Hình ảnh quê nhà đã hằn rất sâu trong ký ức mà có đi đến
trọn đời, ông cũng không thể nào quên được. Dẫu xa quên đã nhiều năm
nhưng tình cảm mà nhà văn dành cho quê hương mình dường như vẫn còn đó,
mãi mãi và đẹp đẽ như thuở thiếu thời. Có lần được hỏi : “Có khi nào anh có
ý định “vượt Cô Sầu” đến khám phá một vùng đất khác không?”, Cao Duy
Sơn trả lời : “Trên thực tế, không gian truyện của tôi trải dài trong nhiều tỉnh,
vào tận Đà Lạt, sang tận Trung Quốc, nhưng…. vẫn là bám theo những bước
chân của người Cô Sầu. Hiện tại tôi đang có ý định viết về người Cô Sầu di
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
cư vào Tây Nguyên để xem sau nhiều năm xa quê hương, văn hoá của họ đã
bị đồng hoá ra sao, cái gì còn giữ được, cái gì đã mất…”.
Cao Duy Sơn là một nhà văn kiên trì với đề tài miền núi. Theo ông “Mỗi
người đều có một vùng đất riêng của mình. Tức là anh có thuộc nó hay
không. Nếu anh không thuộc nó làm sao anh có thể viết được. Tôi về thành thị
4,5 năm nay nhưng những gì của thành thị, mặc dù hằng ngày tôi vẫn sống
với nó, vẫn chưa đủ thời gian để mình có cảm xúc viết về nó. Cái để tạo nên
trong tôi cảm xúc là quãng đời ấu thơ, nơi mình sinh ra và lớn lên. Mà hầu
như nhà văn nào cũng bị tác động bởi những kỷ niệm rất riêng. Bên cạnh đó
là những gì đã qua trong cuộc đời của mình ở vùng đất mình đã sinh ra, nó
trở thành một sự ám ảnh. Viết văn nhất định phải có sự ám ảnh. Không có sự
ám ảnh sẽ không thể nào tạo ra được một tác phẩm, vì mọi cái đều trở nên
hời hợt. Sự ám ảnh đó từ ngày này qua ngày khác, nó khiến anh không lúc
nào nguôi nghĩ đến nó và phải tìm cách thể hiện theo một cách nào đó. Tôi
nghĩ rằng kiên trì theo đuổi chỉ là một cách thôi. Phải nói rằng vùng đất đó
thuộc mình và mình cũng thuộc nó. Điều đó quan trọng hơn rất nhiều. Không
thuộc sẽ không làm được gì” [34] .Đó là lý do vì sao các tác phẩm của ông
gắn chặt với vùng đất quê hương, với đề tài miền núi. Tuy nhiên, ông “Cũng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status