ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
CAO THÀNH DŨNG TIỂU THUYẾT ĐÀN TRỜI
CỦA CAO DUY SƠN TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS NGUYỄN ĐỨC HẠNH
THÁI NGUYÊN - 2013 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Đức Hạnh. Nội dung đề tài nghiên
cứu của Luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Thái Nguyên, ngày 08 tháng 4 năm 2013
Tác giả luận văn Cao Thành Dũng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ VÀI NÉT VỀ NHÀ
VĂN CAO DUY SƠN 8
1.1. Khái niệm văn hóa … 8
1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học 9
1.3. Các khuynh hƣớng nghiên cứu văn học theo hƣớng văn hóa 14
1.4. Vài nét về văn hóa Cao Bằng 17
1.5. Nhà văn Cao Duy Sơn và tiểu thuyết Đàn trời 27
1.5.1. Nhà văn Cao Duy Sơn 27
1.5.2. Vài nét về tác phẩm Đàn trời ……28
Chƣơng 2. KHÔNG GIAN VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT ĐÀN TRỜI 32
2.1. Không gian “Bản” trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn 33
2.2. Không gian phố thị trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn 39
2.3. Không gian xa lạ trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn 44
2.4. Không gian tâm linh trong tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn 49
Chƣơng 3 MẪU NGƢỜI VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT ĐÀN
TRỜI CỦA NHÀ VĂN CAO DUY SƠN 58
3.1. Mẫu ngƣời văn hóa miền núi truyền thống 59
3.2. Mẫu ngƣời văn hóa “rạn vỡ” 67
3.3. Mẫu ngƣời tha hóa 74
3.4. Định hình một mẫu ngƣời văn hóa của thời đại mới 81
1.3. Cao Duy Sơn là nhà văn của mảnh đất và con ngƣời miền núi. Trong
những trang viết của ông ngập tràn sắc mầu văn hóa của con ngƣời Cao Bằng
nhƣ ông đã từng tâm sự: “Tôi sinh ra và lớn lên ở thị trấn Cô Sầu (huyện Trùng
Khánh, Cao Bằng). Đó là một thị trấn cổ rất nổi tiếng. Nghiệp văn chƣơng của
tôi cứ bám lấy thị trấn Cô Sầu mà khám phá, viết mãi vẫn chƣa thấy đủ, chƣa
thấy thấu cái tầng sâu văn hóa tiềm ẩn ở vùng đất này. Tôi viết nhƣ một sự trả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
nợ, trả nợ quê hƣơng, trả nợ những ngƣời đã sinh ra mình, bè bạn, xóm giềng
Cả đời tôi sẽ vẫn là những cuộc khám phá về Cô Sầu với những con ngƣời
miền núi chân chất” [12]. Có thể nói, tình yêu và bản sắc văn hóa độc đáo của
mảnh đất này đã ngấm vào máu thịt của nhà văn để mỗi trang viết của ông có
sự ám ảnh của thời gian, của hoài niệm, của chiều sâu văn hóa mà ngƣời đọc
cần suy ngẫm.
Xuất phát từ những vấn đề lý thuyết và thực tiễn văn học hiện nay, đặc
biệt là tiểu thuyết Cao Duy Sơn với những giá trị nghệ thuật đã đƣợc khẳng
định, tình cảm yêu mến của bạn đọc dành cho ông, chúng tôi nhận thấy hƣớng
nghiên cứu văn hóa về tiểu thuyết Cao Duy Sơn là một hƣớng đi khả quan.
Triển khai đề tài Tiểu thuyết Cao Duy Sơn từ góc nhìn văn hóa, chúng tôi muốn
đóng góp thêm một cách khám phá sáng tác của nhà văn này.
2. Lịch sử vấn đề
Đề tài miền núi là một những đề tài đƣợc nhiều nhà văn quan tâm và gặt
hái nhiều thành công. Trong các nhà văn ấy, Cao Duy Sơn là nhà văn ngƣời
dân tộc thiểu số gây đƣợc tiếng vang lớn và thu đƣợc sự quan tâm theo dõi của
bạn đọc cũng nhƣ của các nhà nghiên cứu - phê bình văn học. Tác phẩm của
Cao Duy Sơn đã đƣợc tập trung giới thiệu, phê bình nghiên cứu ở nhiều góc
nhìn, nhiều cấp độ khác nhau. Theo sự tập hợp của chúng tôi, tác phẩm của Cao
vật, hiện tƣợng tinh tế, chính xác, sắc sảo với những tình huống gay gắt, bất ngờ.
Với cách viết đó Cao Duy Sơn đã mang lại cho văn xuôi các dân tộc thiểu
số một cảm nhận mới mẻ về con ngƣời và cuộc sống của các dân tộc” [45, 151].
Thứ hai: Những công trình nghiên cứu tác phẩm của Cao Duy Sơn,
hƣớng tiếp cận Tự sự học và Thi pháp học.
Tác giả Lý Thị Thu Phƣơng nhận xét: “Truyện ngắn Cao Duy Sơn là
tiếng nói khẳng định, ngợi ca cái đẹp trong tâm hồn, trong lối ứng xử, vẻ đẹp
nhân cách của con ngƣời cái nhìn và giọng điệu truyện ngắn Cao Duy Sơn
vừa chân thành, mộc mạc, vừa ấm áp, trữ tình” [27, 101 - 102]. Tác giả đã nhận
ra giọng điệu khẳng định ngợi ca qua các tập truyện của Cao Duy Sơn, các
nhân vật của nhà văn thƣờng đƣợc miêu tả sắc đẹp về tâm hồn, ứng xử, đặc biệt
là vẻ đẹp nhân cách. Tuy nhiên tác giả không nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
giọng điệu mà chủ yếu phân tích thế giới nhân vật, không gian thời gian và
ngôn ngữ nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn.
Khi tìm hiểu về đặc điểm truyện ngắn Cao Duy Sơn, tác giả Đinh Thị
Minh Hảo có kết luận sơ lƣợc: “Các nhân vật lý tƣởng đƣợc miêu tả bằng cảm
hứng ngợi ca. Cao Duy Sơn đã sử dụng hai bút pháp khác nhau nhƣng đều gần
gũi với bút pháp của truyện cổ dân gian Việt Nam” [10, 54]. Ở phần luận văn
của mình, tác giả Đinh Thị Minh Hảo chỉ ra cảm hứng ngợi ca nhân vật chính
diện của Cao Duy Sơn đƣợc thể hiện qua bút pháp ƣớc lệ, tƣợng trƣng và bút
pháp tƣơng phản. Luận văn của tác giả tập trung nghiên cứu về cốt truyện, nghệ
thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ nghệ thuật. Tác giả không đào sâu tìm
hiểu về vấn đề giọng điệu trần thuật mà chỉ có đôi lời nhận xét về tình cảm, thái
độ của Cao Duy Sơn đối với nhân vật của mình.
Tác giả Đào Thủy Nguyên đề cập đến vấn đề giọng điệu trần thuật:
pháp dung dị, nhẹ nhàng, thông qua đặc tả diễn biến nội tâm nhân vật trong từng
cốt truyện, Cao Duy Sơn đã gửi đến độc giả một thông điệp: Mất văn hóa nghĩa
là mất gốc” (Sông La, Cao Duy Sơn - giọng văn nhẹ nhàng mà sắc bén).
Nhƣ vậy, dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, bài báo tìm hiểu về
sáng tác của Cao Duy Sơn nhƣng một công trình tìm hiểu chuyên sâu theo
hƣớng tiếp cận văn hóa học vẫn chƣa đƣợc thực hiện. Chính bởi vậy, chúng tôi
thực hiện đề tài: Tiểu thuyết Đàn trời của Cao Duy Sơn từ góc nhìn văn hóa,
hy vọng với hƣớng tiếp cận này, những giá trị đã phát lộ và còn tiềm ẩn của tác
phẩm sẽ đƣợc soi sáng thêm, phát hiện thêm.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Thực hiện luận văn, chúng tôi không khảo sát toàn bộ tiểu thuyết của nhà văn
Cao Duy Sơn mà chủ yếu tập trung vào tác phẩm Đàn trời. Trong qúa trình tìm
hiểu, ngƣời viết cũng chỉ đi sâu vào những yếu tố văn hóa, phƣơng diện văn hoá để
làm nổi bật hƣớng nghiên cứu văn hóa học. Trong trƣờng hợp cần thiết, chúng tôi
sẽ so sánh với các tiểu thuyết khác của nhà văn cũng nhƣ một số tác giả khác.
3.2. Phạm vi nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Phạm vi khảo sát của luận văn là cuốn tiểu thuyết của nhà văn Cao Duy
Sơn: Đàn trời (Nhà xuất bản Thanh niên, 2010), trong mối liên hệ với các hiện
tƣợng văn hóa, văn học khác ngoài nó.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu và đóng góp mới của luận văn
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp các khái niệm về văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học.
- Tìm hiểu các dấu ấn văn hóa trong tiểu thuyết Đàn trời để đƣa ra một
cách nhìn mới, khám phá mới về tác phẩm, từ đó khẳng định giá trị văn hóa,
cấu trúc gồm ba phần:
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ VÀI NÉT VỀ NHÀ VĂN
CAO DUY SƠN
Chương 2: KHÔNG GIAN VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT ĐÀN
TRỜI CỦA NHÀ VĂN CAO DUY SƠN
Chương 3: MẪU NGƢỜI VĂN HÓA TRONG TIỂU THUYẾT ĐÀN TRỜI
CỦA NHÀ VĂN CAO DUY SƠN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
NỘI DUNG
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ VÀI NÉT VỀ NHÀ VĂN
CAO DUY SƠN
1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời.
Cựu Tổng giám đốc Unessco Federico Mayor có đƣa ra định nghĩa về
văn hoá: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát mọi mặt của cuộc
sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng nhƣ
đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống
các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự
khẳng định bản sắc riêng của mình”.
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong lời ngỏ của trang Wed về văn
hóa vanhoahoc.com cũng đƣa ra khái niệm tƣơng tự: “Con ngƣời tồn tại trong
môi trƣờng văn hóa. Môi trƣờng ấy thể hiện trong không gian và qua thời gian.
văn hoá” [41, 3]. Trong lịch sử văn học của bất cứ quốc gia nào cũng tồn tại
mối quan hệ giữa văn hóa và văn học. Đó là một mối quan hệ hai chiều khăng
khít không thể tách rời. Ở đây chúng tôi muốn khẳng định thêm một lần nữa
mối quan hệ đó, để có thể thấy hƣớng tiếp cận tác phẩm văn học từ góc nhìn
văn hóa là cần thiết.
Có một thời gian dài văn hóa, văn học đƣợc đặt ở vị trí ngang bằng,
“đƣợc coi là quan hệ tƣơng hỗ”, tức là nghiên cứu văn hóa thì dùng văn học
làm tƣ liệu, còn nghiên cứu văn học lại dùng văn hóa để soi chiếu. Gần đây, sau
khi Unesco phát động những thập kỷ phát triển văn hóa cùng với thay đổi nhận
thức văn hóa, các công trình của M.Bakhtin đƣợc giới thiệu, các nhà nghiên
cứu đã thống nhất văn hóa là nhân tố chi phối văn học. Văn hóa trở thành một
hƣớng nghiên cứu hiệu quả. Đã có một số tác giả đi theo hƣớng nghiên cứu
này: Trần Đình Hƣợu, Trần Ngọc Vƣơng, Đỗ Lai Thúy, Trần Nho Thìn… Tác
giả Đỗ Lai Thúy khẳng định: “…Văn hóa là một tổng thể, một hệ thống bao Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
gồm nhiều yếu tố, trong đó có văn học. Nhƣ vậy, văn hóa chi phối văn học với
tƣ cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận. Đây là quan hệ
bất khả kháng. Tuy nhiên, văn học so với các yếu tố khác là một yếu tố mạnh
và năng động. Bởi thế, nó luôn có xu hƣớng đi trƣợt ra ngoài hệ thống. Trong
khi đó hệ thống, nhất là hệ thống văn hóa, luôn có xu hƣớng duy trì sự ổn định.
Nhƣ vậy, sự xung đột, sự chống lại của văn học đối với văn hóa là không thể
tránh khỏi, nhờ thế mà văn học có sáng tạo. Sáng tạo những giá trị mới cho bản
thân nó và cho hệ thống. Sáng tạo lớn thì có thể dẫn tới sự thay đổi của hệ
thống” [41, 3].
Bởi vậy, chúng ta có thể khẳng định văn hóa chính là chất liệu để văn
học sáng tạo nên thế giới nghệ thuật của mình, là “sân khấu” để văn học có thể
các tác phẩm văn học, thấy đƣợc lịch sử qua các trang sách, thấy đƣợc cha ông
ta đã sống ra sao, chiến đấu thế nào… trong hàng nghìn năm dựng nƣớc và giữ
nƣớc. Qua văn học, chúng ta có thể thấy đƣợc bức tranh văn hóa của dân tộc
qua từng thời kỳ lịch sử. Tuy nhiên, văn học không thể phản ánh trực tiếp đƣợc
văn hoá: “ mà chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng kính” văn hóa, thông qua
“bộ lọc” của các giá trị văn hóa. Nhờ thế mà tránh đƣợc sự phản ánh “gƣơng”,
phản ánh một cách trần trụi. Và, có lẽ, cũng nhờ thế mà tạo cho văn học một lối
phản ánh đặc trƣng, phản ánh nhƣ ngƣời ta nói, có nghệ thuật” [41, 3].
Có ngƣời cho rằng, chúng ta có thể tìm thấy văn hóa qua sử sách, thậm
chí còn rõ hơn văn học. Chúng ta có thể biết ngƣời xƣa ăn gì, mặc gì, sinh hoạt
ra sao một cách cụ thể. Đây là điều không cần bàn cãi nhƣng cũng chỉ là một
phần, bởi khái niệm văn hóa có nội hàm rất rộng. Sử học có thể tái hiện đƣợc
những giá trị văn hóa cụ thể nhƣng còn những giá trị phi vật chất. Đó là điều
khó có thể dựng lại đƣợc nếu chỉ qua một mảnh gốm, một lƣỡi cày hay lƣỡi
cuốc. Chẳng hạn nhƣ tinh thần yêu nƣớc, tƣ tƣởng nhân đạo. Đó là những
truyền thống văn hóa quý giá chỉ có thể thấy đƣợc rõ nhất qua hình tƣợng nghệ
thuật văn học. Đó là khả năng phản ánh tuyệt vời của văn học nếu chỉ miêu tả
bằng ngôn ngữ thông thƣờng khó có thể thuyết phục đƣợc. Mặt khác, có những
yếu tố văn hóa từ lâu đã không còn nữa, thời gian đã xoá nhoà nó đi mà sử học
cũng không sao tạo dựng lại đƣợc, lúc đó họ phải tìm đến các tác phẩm văn thơ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Đó không phải là điều ngẫu nhiên bởi từng có thời kỳ văn sử bất phân. Nhờ các
sáng tác đó mà các “ẩn số” lịch sử văn hoá đƣợc giải mã.
Văn hoá của thời kỳ nào cũng có những chuẩn mực riêng, là thƣớc đo cái
đẹp của thời kỳ đó. Ví dụ nhƣ thời trung đại coi áo the, khăn xếp là đẹp, còn
ngƣời hiện đại lại coi quần jeans, áo phông… là hợp mốt. Nhƣ vậy, nếu không
từ Phân tâm học của S. Freud. Xuất phát từ những lý thuyết ban đầu của ngƣời
thầy mình, Jung đã tự tìm cho mình một hƣớng đi riêng khi chia vô thức con
ngƣời thành ba tầng:
- Ý thức là phần nhô lên trên mặt nƣớc của hòn đảo.
- Phần chìm dƣới nƣớc là vô thức cá thể.
- Cắm sâu dƣới đáy biển là vô thức tập thể.
Ông cho rằng vô thức tập thể là những yếu tố ẩn sâu trong tâm lý con
ngƣời, do những dấu ấn nguyên thủy của cộng đồng chi phối. Nhƣ đã nói ở
trên, những gì thuộc về con ngƣời đều là dấu ấn văn hóa. Bởi vậy khi tìm hiểu
văn học theo hƣớng này, chúng ta cũng không thể không khảo sát tới các yếu tố
tâm lý thuộc về vô thức.
Không chỉ vậy, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học còn thể hiện ở khả
năng điều chỉnh văn hóa của văn học. Có thể nói, văn hóa phát triển theo từng
thời kỳ lịch sử. Ở đó có những giá trị vẫn trƣờng tồn, có những giá trị đã mất đi
hay gần bị mất đi. Đó là sự “thanh lọc” của thời gian. Thời gian lƣu lại những
gì đẹp đẽ và “phủ bụi” lên những gì không còn phù hợp. Sự “thanh lọc” ấy một
phần nhờ vào vai trò của văn học. Chẳng hạn nhƣ tác phẩm Vang bóng một thời
của tác giả Nguyễn Tuân. Trƣớc những cách sống đẹp, tao nhã nhƣ uống trà,
thƣởng hoa, thả thơ… đang dần mất đi cùng sự suy tàn của triều đại phong
kiến, nhà văn đã dùng văn học để bảo lƣu nó. Nhƣ vậy, những nét văn hóa đó
sống cùng tác phẩm của ông để nhắc nhở chúng ta về một thời quá khứ vàng
son, sống mãi cùng tâm thức ngƣời Việt. Một tác phẩm đƣợc đánh giá là “kỳ
thƣ” nhƣ Tôtem sói (Khương Nhung) cũng thể hiện rất rõ điều này. Có lẽ với
nhiều nƣớc trên thế giới thì văn hóa du mục và loài sói thảo nguyên vẫn còn rất
xa lạ. Chúng ta không biết rằng nền văn hóa đó đang dần bị biến mất bởi sự
phát triển của đô thị, của khoa học hiện đại. Tác giả Khƣơng Nhung bằng tác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
Thứ nhất, định hƣớng nghiên cứu thi pháp văn hóa, bao gồm thi pháp đối
thoại, thi pháp Cácnavan kiểu M. Bakhtin, nghiên cứu mẫu gốc huyền thoại
kiểu Northrop Frye, trần thuật lịch sử kiểu H. White, so sánh văn loại học kiểu
E. Miner, phê bình văn hoá kiểu F. Jameson… Về cơ bản, hƣớng nghiên cứu
này tập trung tìm hiểu, khám phá các dấu hiệu văn hóa trong hình thức tác
phẩm văn học. Chẳng hạn nhƣ việc nghiên cứu “cổ mẫu” (Archetype) là hƣớng
nghiên cứu tập trung vào những biểu tƣợng văn hóa ảnh hƣởng trong vô thức
cộng đồng xuất hiện trong sáng tác văn học. Mục đính của thao tác này nhƣ C.
G. Jung đã từng tuyên bố: “Nỗi buồn sáng tạo dẫn đƣa nghệ sĩ đi vào bề sâu
cho tới khi nó tìm thấy trong vô thức mình cái nguyên tƣợng có khả năng bù
đắp lại cao nhất sự tổn thất và què quặt của tinh thần hiện đại” [17]. Nói cách
khác, việc tìm hiểu cổ mẫu chính là tìm về cõi vô thức nơi động lực thôi thúc
nhà văn viết và ảnh hƣởng của nó tới việc xây dựng tác phẩm thông qua những
biểu tƣợng văn hóa. Hay hƣớng nghiên cứu thi pháp đối thoại kiểu Bakhtin
cũng nhằm khám phá bề sâu tác phẩm trong mối quan hệ đối thoại với các văn
bản khác trong đó có văn bản văn hóa. Ở đây ngƣời viết muốn nhấn mạnh thêm
một vấn đề: đấy chính là quan niệm của văn học đƣơng đại coi văn bản không
đơn thuần là một quyển sách hay tờ giấy cụ thể nữa mà còn bao gồm những gì
thuộc về ý thức, tinh thần. Nói nhƣ vậy văn hóa cũng đƣợc coi là một văn bản
mà văn học trong tính đối thoại của nó cần có mối quan hệ chặt chẽ để nhằm
kêu gọi tối đa ý nghĩa. Tính đối thoại này trong biểu hiện của nó cũng ảnh
hƣớng tới việc xây dựng, kết cấu tác phẩm.
Thứ hai, nghiên cứu mối quan hệ văn học với các truyền thống văn hóa,
chẳng hạn văn học với Nho học, Đạo học, Phật học, văn hóa với thi ca, văn hóa
với tƣ duy tiểu thuyết, sinh thái tinh thần với thể loại phóng sự… Mối quan hệ
văn học với chính trị đƣợc nghiên cứu dƣới góc độ văn học với văn hóa chính
viết của nhà “Kim Dung học” Vũ Đức Sao Biển, chúng ta vẫn chƣa thật sự
mạnh dạn trong hƣớng nghiên cứu này.
Do năng lực còn hạn chế, chúng tôi mới chỉ tìm hiểu sơ lƣợc một số
cách tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, bởi đây là một hƣớng nghiên cứu
khá rộng và phức tạp. Sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tƣơng đối bởi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
trong thực tế khuynh hƣớng này sẽ có sự đan xen với khuynh hƣớng kia. Tuy
nhiên, chúng tôi chọn khuynh hƣớng nghiên cứu thứ nhất để thực hiện đề tài
của mình. Thêm vào đó trong quá trình vận dụng lý thuyết để nghiên cứu đối
tƣợng của mình, chúng tôi sẽ cố gắng áp dụng một cách linh hoạt nhất, sao cho
phù hợp với đối tƣợng mà mình đang tìm hiểu.
1.4. Vài nét về văn hóa Cao Bằng
Nhƣ đã đề cập đến ở phần 1.1, văn hóa là một khái niệm có nội hàm rất
rộng, để có thể tìm hiểu đƣợc mỗi khía cạnh là vấn đề phức tạp. Ở đây chúng
tôi chỉ tập trung tìm hiểu những yếu tố văn hóa phục vụ trực tiếp quá trình khảo
sát của mình. Nhƣng trƣớc hết, chúng tôi muốn trình bày sơ lƣợc về vị trí địa lý
của mảnh đất Cao Bằng, bởi nó là yếu tố quan trọng tạo nên đặc sắc văn hóa
trong tác phẩm Cao Duy Sơn.
Vị trí địa lý: Tỉnh Cao Bằng là tỉnh miền núi, vùng cao, nằm ở toạ độ địa
lý 22
0
22' - 23
0
07' vĩ độ Bắc, 105
0
16' - 106
0
C. Hàng năm có 3 tháng mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 8), nhiệt độ trung bình là
30 - 40
0
C, tháng nóng nhất là tháng 7; mùa đông nhiệt độ trung bình là 5 - 6
0
C,
tháng lạnh nhất là tháng 1. Tần suất sƣơng muối thƣờng xảy ra vào tháng 1 và
tháng 2. “Toàn cảnh thị xã Cao Bằng gọn lỏn, lúp xúp nhƣ một bãi bồi. Ở đó có
những con đƣờng ngắn tũn, chúng bị kẹp chặt bởi hai con sông Hiến, sông Bằng.
Bốn mùa nƣớc sông lơ lớ xanh. Con sông cũng lƣời biếng nhƣ ngƣời. Nó thả bóng
mây trôi đi giữa hai hàng tre trăm tuổi. Còn những búi tre hai ven đƣờng trông
nhƣ các bà Bụt đang trùm khăn nâu đỏ. Thỉnh thoảng các bà rung lên từng cơn, rú
lên từng hồi, đuổi con ma tà ma ní trở về Mƣờng Xúi” [26, 57].
Có lẽ do đặc điểm vị trí địa lý nhƣ vậy nên con ngƣời và văn hóa Cao
Bằng cũng mang nhiều đặc trƣng riêng. Các dân tộc chính sinh sống ở địa bàn
tỉnh Cao Bằng gồm Tày, Nùng, Dao, H’Mông… Vì đối tƣợng khảo sát của
chúng tôi là tác phẩm của tác giả ngƣời Tày nên ở đây ngƣời viết cũng chỉ tập
trung chủ yếu vào dân tộc này.
1.4.1. Văn hóa tín ngƣỡng dân tộc Tày ở Cao Bằng
Do sản sinh ra trên cơ sở của một nền nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu,
mang tính chất tự cung tự cấp… cho nên những tàn dƣ của các tín ngƣỡng
nguyên thủy còn tồn tại trong đời sống tâm linh của ngƣời Tày nhƣ: Vật linh
giáo, ma thuật, bái vật giáo (thờ cây đa to, thờ hòn đá kỳ dị…). Các lễ nghi liên
quan đến sản xuất nông nghiệp, săn bắt, đánh cá, các nghề nghiệp, các hình thái
tôn giáo của xã hội có giai cấp ngày càng phát triển thịnh hành.
Tiêu biểu nhất trong tín ngƣỡng, tôn giáo của ngƣời Tày là thờ cúng tổ
tiên, bắt nguồn từ thờ cúng gia tộc, thị tộc ở thời kỳ trƣớc. Tín ngƣỡng thờ cúng
gồm: rƣợu, thịt, các loại bánh, xôi ngũ sắc… Những dịp này thƣờng gọi là hội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
xuống đồng (Lồng Tồng), hội trăng (hội hai), ra núi (óc pô…). Khi cúng thì các
thầy cúng đều gọi tên tất cả các thần thánh, ma quỷ ở địa phƣơng để cầu khấn
trời đất mƣa thuận gió hòa cho dân làng làm ăn dễ dàng, làm gì đƣợc nấy, mùa
màng tƣơi tốt, bội thu. Sau lễ cúng họ tổ chức các trò chơi dân gian nhƣ: Tung
còn, đánh yến, đánh quay, kéo co, văn nghệ , hát cọi, yếu… “Đất có Thổ Công,
sông có Hà Bá. Thổ Công theo quan niệm của ngƣời châu Á đó là nơi cai quản
và bảo vệ con ngƣời ở một vùng đất. Mỗi khi ngƣời làng có công việc nhƣ xây
cất nhà cửa, hiếu hỷ, ma chay hay cƣới xin, đào ao, khai huyệt, thổ địa… đều
phải mang lễ vật tới đề Thổ Công thờ cúng trình báo” [26, 151].
1.4.2. Văn nghệ dân gian của ngƣời Tày ở Cao Bằng
Đời sống tinh thần truyền thống của ngƣời Tày có nhiều yếu tố tích cực,
lành mạnh cần phát huy. Những yếu tố tích cực đƣợc thể hiện trong văn học -
nghệ thuật dân gian. Trƣớc hết đó là loại truyện cổ thƣờng đề cập đến nguồn
gốc của những hiện tƣợng tự nhiên, xã hội, lịch sử, tỏ lòng ngƣỡng mộ, biết ơn
những ngƣời đã có công với làng xóm, quê hƣơng, đất nƣớc, nêu cao tinh thần
đoàn kết, tƣơng trợ, giúp đỡ lẫn nhau, hoặc lên án những bất công trong xã hội
đƣơng thời Ngoài ra, dân tộc Tày còn có nhiều truyện cƣời, truyện tiếu lâm,
nhƣ Trâu ghét cây chuối, Hổ và khỉ, Hổ với thỏ… Ngoài các truyện cổ tích,
thần thoại, tục ngữ, ca dao còn một số thể loại khác nữa rất đáng đƣợc coi trọng
đó là hát Lượn cọ, hát Quan làng, đọc Phong Slư… Dân tộc Tày nói chung,
ngƣời Tày ở Cao Bằng nói riêng có truyền thống văn hóa từ ngàn đời về hát
Lƣợn giao duyên. Đó là loại hình hát đối đáp nhau trong một không gian văn
hóa rộng lớn, theo một tục thức hát theo mùa, theo hoàn cảnh tùy hứng, có thể
là trong lễ hội mùa xuân, trong đám cƣới, lễ Kỳ Yên, làm cốm, làm nhà mới, đi