BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
HOÀNG THỊ THƢỜNG
TIỂU THUYẾT MIỀN HOANG
CỦA SƢƠNG NGUYỆT MINH
TỪ GÓC NHÌN TRẦN THUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
HOÀNG THỊ THƢỜNG
TIỂU THUYẾT MIỀN HOANG
CỦA SƢƠNG NGUYỆT MINH
TỪ GÓC NHÌN TRẦN THUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHÙNG GIA THẾ
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................. 3
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................. 7
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu................................................................................ 8
6. Đóng góp của luận văn ................................................................................... 8
7. Cấu trúc của luận văn ..................................................................................... 8
NỘI DUNG ........................................................................................................ 9
CHƢƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ TRẦN THUẬT HỌC VÀ HÀNH TRÌNH
SÁNG TÁC CỦA SƢƠNG NGUYỆT MINH .................................................. 9
1.1. Khái quát về trần thuật học ......................................................................... 9
1.1.1. Khái niệm trần thuật, trần thuật học......................................................... 9
1.1.2. Các yếu tố cơ bản của trần thuật ............................................................ 13
1.1.3. Vai trò của nghệ thuật trần thuật trong xây dựng tiểu thuyết ................ 27
1.1.4. Vài nét về nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại 28
1.2. Hành trình sáng tác của Sƣơng Nguyệt Minh ........................................... 31
1.2.1. Truyện ngắn ........................................................................................... 31
1.2.2. Tiểu thuyết.............................................................................................. 34
CHƢƠNG 2. NGƢỜI TRẦN THUẬT VÀ KĨ THUẬT TỔ CHỨC ĐIỂM
NHÌN TRONG TIỂU THUYẾT MIỀN HOANG CỦA SƢƠNG NGUYỆT
MINH ............................................................................................................... 37
2.1. Ngƣời trần thuật ........................................................................................ 38
2.1.1. Ngƣời trần thuật ngôi thứ nhất ............................................................... 39
2.1.2. Ngƣời trần thuật ngôi thứ ba .................................................................. 56
2.2. Kĩ thuật tổ chức điểm nhìn ........................................................................ 66
2.2.1. Kĩ thuật tổ chức điểm nhìn không gian, thời gian ................................. 67
2.2.2. Kĩ thuật tổ chức điểm nhìn từ bên ngoài vào bên trong......................... 74
2.2.3. Kĩ thuật tổ chức điểm nhìn từ ngƣời kể chuyện sang nhân vật, giữa các
(Narratology) trên thực tế đã trở thành một mũi nhọn trong khoa nghiên cứu
văn học trên thế giới vào thế kỉ XX, tập trung hơn, vào nửa sau thế kỉ XX, gắn
với những thành tựu xuất sắc. Nghiên cứu nghệ thuật trần thuật, từ những góc
nhìn khác nhau giúp chúng ta có cơ sở để định giá đúng giá trị thẩm mĩ của tác
phẩm, khẳng định tài năng và đóng góp của nhà văn vào tiến trình văn
chƣơng. Nói về tầm quan trọng của trần thuật, nhà nghiên cứu văn học ngƣời
Nga G. N. Pospelov cho rằng: “Đóng vai trò quyết định trong loại tác phẩm tự
sự là trần thuật”.
1.2. Ở Việt Nam, từ sau 1975, văn học đã có sự chuyển hƣớng mạnh mẽ
trên tinh thần đổi mới. Nền văn học trong bối cảnh xã hội mới đã vận động xa
dần khỏi quỹ đạo của văn học cách mạng với cảm hứng sử thi bao trùm để
hƣớng đến cảm hứng thế sự, đời tƣ. Hiện thực bề bộn sau chiến tranh đã trở
thảnh mảnh đất màu mỡ thu hút các nghệ sĩ, đặc biệt là các cây bút văn xuôi
khai thác. Tiểu thuyết với ƣu thế về khả năng bao quát hiện thực đã hăng hái
2
tiến vào lãnh địa của đời sống để khám phá và ngày càng khẳng định vai trò là
“xƣơng sống”, là “cột trụ” của nền văn học với nhiều tín hiệu đổi mới, nhiều
khuynh hƣớng tìm tòi thể nghiệm, quẫy cựa để “khơi thông dòng chảy”
(Nguyên Ngọc). Nằm trong dòng chảy văn học đổi mới từ 1986, nhiều tác
phẩm, tác giả mới đã lần lƣợt xuất hiện, tạo đƣợc dấu ấn trên văn đàn. Tiêu
biểu trong số này phải kể đến cây bút văn xuôi nổi tiếng Sƣơng Nguyệt Minh.
Sƣơng Nguyệt Minh xuất hiện trên văn đàn vào khoảng những năm đầu thập
niên chín mƣơi của thế kỉ XX, cho tới nay với sự đam mê và lao động nghệ
thuật nghiêm túc, nhà văn đã cho ra đời sáu tập truyện ngắn, hai tập bút kí –
tạp văn, định hình đƣợc một phong cách riêng vừa ổn định lại không ngừng
đổi mới. Sƣơng Nguyệt Minh từng nhận đƣợc nhiều giải thƣởng:
- Giải thƣởng cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ Quân đội 1996 với tác
phẩm Bản kháng án bằng văn.
ngắn và tiểu thuyết của ông đã nhận đƣợc sự quan tâm lớn từ phía các nhà
nghiên cứu, phê bình. Ngay từ truyện ngắn đầu tiên của nhà văn (Nỗi đau
dòng họ) đƣợc in trên báo đã có ý kiến đánh giá là những trang văn “có mùi có
vị, rõ ra tƣ chất nhà văn”. Cùng với sự ra đời của các tập truyện ngắn đặc sắc,
những ý kiến bình luận về tác phẩm của Sƣơng Nguyệt Minh ngày càng phong
phú.
Nhà văn Khuất Quang Thụy trong lời tựa cho tập truyện ngắn Mƣời ba
bến nƣớc thì phát hiện ra “những cái không thông thƣờng” trong cách viết của
Sƣơng Nguyệt Minh, ngay ở những “bến nƣớc” đầu tiên trên con đƣờng sáng
tạo văn học nghệ thuật, từ việc phá vỡ bút pháp truyền thống của thể loại, đến
việc phá vỡ môtip chủ đề và tạo ra sự đa thanh trong tác phẩm [36].
Trong buổi tọa đàm về sự ra đời của tập truyện Dị hƣơng, nhà phê bình
Văn Giá đã gói gọn phong cách văn chƣơng của Sƣơng Nguyệt Minh trong ba
từ Hoạt - Phiêu - Thỏa (linh hoạt, phong phú về chất liệu và sự trẻ trung). Ba
4
từ ấy đã phản ánh khá đầy đủ điểm mạnh trong truyện ngắn của tác giả quân
đội này [1].
Miền hoang của Sƣơng Nguyệt Minh ra mắt bạn đọc vào năm 2014, sau
đó đƣợc Nhà xuất bản Trẻ in thành sách cùng tên. Nếu chỉ tính tiểu thuyết, nó
là đứa con đầu lòng của tác giả. Cuốn tiểu thuyết đã đoạt giải Sách Hay năm
2015 và đƣợc nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhà văn, nhà báo quan
tâm giới thiệu, phân tích, bình luận.
Trong buổi tọa đàm Nhà văn Sƣơng Nguyệt Minh với tiểu thuyết Miền
hoang đƣợc tổ chức vào ngày 17/12/2014 tại Đại học Văn hóa Hà Nội, nhiều
nhà nghiên cứu, phê bình văn học trong và ngoài quân đội đã bày tỏ ý kiến,
nhận định về tiểu thuyết Miền hoang của Sƣơng Nguyệt Minh. Phạm Xuân
Nguyên nhận định Miền hoang là cuốn tiểu thuyết công phu, tâm huyết; môtíp
“lạc rừng” tuy không mới nhƣng với tƣ cách là một ngƣời từng trực tiếp can
trần. Nữ nhà văn này hoàn toàn tin tƣởng rằng nhà văn Sƣơng Nguyệt Minh
có thể làm chủ thể loại tiểu thuyết.
Nhà văn Đỗ Tiến Thụy cũng đánh giá cao nghệ thuật tự sự của Miền
hoang khi cho rằng, tuy là lần đầu viết tiểu thuyết nhƣng Sƣơng Nguyệt Minh
đã trổ hết những “ngón nghề” của thể loại. Cả nhà văn Đỗ Tiến Thụy và nhà
phê bình Nguyễn Chí Hoan đều cho rằng tác giả Miền hoang “khôn ngoan”
khi dùng những bản tin thông tấn ngắn gọn làm đề từ nhƣ một sự hỗn dung thể
loại: văn chƣơng – báo chí, tiểu thuyết tƣ liệu – tiểu thuyết phiêu lƣu; bản thân
những bản tin đã có sức khơi tạo đƣợc không khí, bối cảnh của sự kiện, tiết
kiệm đƣợc công sức của nhà văn.
Nhận xét về sự sáng tạo, đổi mới nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền
hoang, nhà văn Nguyên Ngọc chia sẻ: "Với đời sống văn học, chiến tranh luôn
là một đề tài lớn, trong đó, đề tài về cuộc chiến của ngƣời lính Việt Nam trên
chiến trƣờng Campuchia là cuộc chiến vô cùng ác liệt, phức tạp, khắc nghiệt
6
và gay gắt. Sự sáng tạo trong bút pháp của Sƣơng Nguyệt Minh đã góp phần
giúp cho độc giả hiểu thêm về bản chất của cuộc chiến này" [54].
Nhà thơ Lê Minh Quốc trong bài viết “Tiểu thuyết Miền hoang của
Sƣơng Nguyệt Minh” cho rằng: “ Miền hoang ( NXB Trẻ-2014 ) của nhà văn
Sƣơng Nguyệt Minh là cuốn tiểu thuyết viết về cuộc chiến đấu của quân tình
nguyện Việt Nam trên chiến trƣờng K. những năm 1980. Viết chân thành, sự
việc tàn khốc, bi thảm và hào hùng từ chất liệu vốn có. Hãy đọc. Nên đọc”
[43].
Nhà phê bình văn học Lã Nguyên (La Khắc Hòa) trong bài viết: Tôi đọc
Miền hoang của Sƣơng Nguyệt Minh cho rằng: “Đọc Miền hoang, tôi thấy ông
dồn hết tâm huyết vào lớp ngôn ngữ kiến tạo bức tranh thế giới, ngôn ngữ biểu
hiện tƣ tƣởng nghệ thuật. Tôi nghĩ, nó là cuốn tiểu thuyết khó đọc đối với độc
giả đại chúng, nhƣng chắc sẽ là chất liệu thú vị dành cho giới phê bình chuyên
3.1. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, phân tích tiểu thuyết Miền hoang của Sƣơng Nguyệt Minh từ
góc nhìn trần thuật học; từ đó làm rõ thêm nét độc đáo trong lối viết của
Sƣơng Nguyệt Minh và khẳng định vai trò của nhà văn trên con đƣờng cách
tân tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát lí thuyết trần thuật học
- Phân tích tổ chức trần thuật trong Miền hoang của Sƣơng Nguyệt
Minh
- Chỉ ra những nét độc đáo, khẳng định đóng góp của Sƣơng Nguyệt
Minh vào tiến trình tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Miền hoang của Sƣơng Nguyệt minh dƣới góc nhìn trần thuật học
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Miền hoang – tiểu thuyết của Sƣơng Nguyệt Minh, Nxb. Trẻ, 2014.
8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp phân tích đối tƣợng theo quan điểm hệ thống
- Phƣơng pháp xác định lịch sử - phát sinh
- Phƣơng pháp so sánh
- Phƣơng pháp so sánh hệ thống.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa kiến thức về trần thuật học;
- Phân tích những nét đặc sắc trong tổ chức trần thuật tiểu thuyết Miền
hoang của Sƣơng Nguyệt và chỉ ra những đóng góp của nhà văn về phƣơng
diện này vào tiến trình tiểu thuyết Việt Nam đƣơng đại.
7. Cấu trúc của luận văn
phẩm, nhất là tác phẩm tự sự.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, trần thuật “là phƣơng diện cơ bản của
phƣơng thức tự sự, là giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả đối với nhân
vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự vật theo cách nhìn của ngƣời trần thuật nhất định”
[17, tr.307].
Cũng bàn về khái niệm trần thuật, tác giả Lại Nguyên Ân trong 150
thuật ngữ văn học cho rằng: “Trần thuật bao gồm cả việc kể và miêu tả các
hành động và các biến cố trong thời gian, mô tả chân dung hoàn cảnh của
hành động, tả ngoại hình, tả nội thất…bàn luận, lời nói bán trực tiếp của nhân
10
vật. Do vậy, trần thuật là phƣơng thức chủ yếu để cấu tạo các tác phẩm tự sự
hoặc của ngƣời kể, tức là toàn bộ văn bản tác phẩm tự sự, ngoại trừ lời nói
trực tiếp của các nhân vật.” [2, tr.338]
Trong bài Việc mở ra môn trần thuật học trong nghành nghiên cứu văn
học ở Việt Nam, tác giả Lại Nguyên Ân có viết: “Trần thuật (narration) chỉ
phƣơng thức nghệ thuật đặc trƣng trong các tác phẩm thuộc văn học tự sự
(tƣơng tự, trầm tƣ/ meditation/ đặc trƣng cho văn học trữ tình, đối thoại đặc
trung cho văn học kịch)”, “Thực chất của hoạt động trần thuật là kể, là cái
đƣợc kể, đƣợc thuật, trong tác phẩm văn học là chuyện” [45, tr.146].
Cùng với quan điểm này là định nghĩa trong Giáo trình lí luận văn học:
“Trần thuật là kể, thuyết minh, giới thiệu về nhân vật, sự kiện, bối cảnh trong
truyện. Trần thuật là hành vi ngôn ngữ kể, thuật miêu tả sự kiện nhân vật theo
một thứ tự nhất định.” [46, tr59].
Nhƣ vậy, trần thuật là một vấn đề đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu trong
và ngoài nƣớc quan tâm. Qua nghiên cứu, tìm hiểu những quan niệm trên, tựu
trung có thể thấy: Trần thuật trƣớc hết là một phƣơng thức nghệ thuật đặc
trƣng trong các tác phẩm thuộc loại hình tự sự, thực chất của hoạt động trần
thuật là việc kể lại, thuật lại những sự kiện, con ngƣời, hoàn cảnh…theo một
giới. Từ đó đến nay, việc nghiên cứu về lí luận trần thuật đã có những bƣớc
tiến dài và đạt đƣợc những thành tựu quan trọng. Những thành tựu này kết
tinh tronh các công trình nghiên cứu tự sự của các nhà hình thức Nga
(V.propp, V.Shklovski, Eikhenbau); nguyên tắc đối thoại của M.Bakhtin, loại
hình học vẽ kĩ thuật trần thuật Anh Mỹ do P.Lubblook khởi tạo và
N.Friedman tu chỉnh; các nghiên cứu về loại hình trần thuật của các học giả
Đức (E.LeibFried,W.Fuger,F.K.Stanzel, W.Kayser, O.Ludwig, K.Friedman);
các quan niệm của nhà cấu trúc ngƣời Crech Z.Doleze, các học giả Nga
Ju.Lotman và B.Uspenski…
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về lí luận trần thuật diễn ra muộn hơn.
Đầu thế kí XX, khi nền phê bình hiện đại xuất hiện, các nhà nghiên cứu bắt
12
đầu quan tâm đến bút pháp, lối viết nhƣng chƣa đi sâu tìm hiểu về trần thuật
nhƣ một vấn đề lí luận thực sự. Từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến 1975,
nền văn học chuyển động theo quỹ đạo của văn học kháng chiến, với cảm
hứng sử thi bao trùm. Các nhà văn trong khi sáng tạo cũng đã chú ý đến nghệ
thuật kể chuyện nhƣng việc nghiên cứu về trần thuật thì còn rời rạc, lẻ tẻ. Từ
năm 1986, văn học thoát khỏi đà trôi quán tính của khuynh hƣớng sử thi để trở
về với hiện thực ngổn ngang, bề bộn sau chiến tranh. Trƣớc bối cảnh mới,
quan điểm nghệ thuật và thị hiếu thẩm mĩ cũng đổi thay. Nhà văn không chỉ
quan tâm đến việc phản ánh đời sống mà còn rất chú ý đến kỹ thuật, lối viết.
Bởi vậy, việc nghiên cứu về lí luận trần thuật cũng đƣợc đẩy mạnh. Đặc biệt,
lí luận trần thuật đƣợc quan tâm rộng rãi khi liên tiếp diễn ra những cuộc hội
thảo về tự sự học năm 2001 và 2003 tại Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội.
Thực tiễn văn học cho thấy, trong văn xuôi cổ trung đại trên thế giới và
Việt Nam, nhà văn thƣờng chú ý đến việc xây dựng các sự kiện và triển khai
cốt truyện, ngay cả tâm lí ngƣời đọc cũng luôn luôn theo dõi để biết đƣợc diễn
biến câu chuyện ra sao, kết cục thế nào. Nhƣng bƣớc sang xã hội hiện đại, nhu
miêu tả đối tƣợng, phân tích hoàn cảnh, thuật lại tiểu sử nhân vật, lời bình
luận, lời trữ tình ngoại đề, lời ghi chú của tác giả.
Theo Trần Đình Sử, trần thuật gồm sáu yếu tố cơ bản là kể chuyện, ngôi
trần thuật và vai trần thuật, diểm nhìn trần thuật, lƣợc thuật, miêu tả chân dung
và dựng cảnh, phân tích, bình luận, giọng điệu.
Theo quan niệm của chúng tôi, trần thuật đòi hỏi trƣớc hết phải có
ngƣời kể. Chủ thể của hoạt động kể phải xử lý tốt mối quan hệ giữa chuỗi lời
kể với chuỗi các sự kiện và nhân vật. Và nhƣ vậy có hai nhân tố quy định tới
trần thuật là ngƣời kể chuyện và chuỗi ngôn từ. Từ ngƣời kể chuyện ta có ngôi
trần thuật, điểm nhìn trần thuật; từ chuỗi ngôn từ ta có ngôn ngữ trần thuật,
giọng điệu trần thuật, không gian trần thuật, thời gian trần thuật… Trong
phạm vi của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số yếu tố tiêu biểu
14
thuộc nghệ thuật trần thuật của Sƣơng Nguyệt Minh. Vì thế, chúng tôi sẽ tiến
hành xác lập những khái niệm cơ bản liên quan đến những vấn đề nằm trong
phạm vi nghiên cứu.
1.1.2.1. Ngƣời trần thuật
Để tái hiện câu chuyện, nhà văn phải tạo ra ngƣời kể bởi nếu không có
ngƣời kể thì sẽ không có truyện. Nói về điều này, Tz. Todorov từng khẳng
định: “Ngƣời kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tƣởng
tƣợng… Không thể có trần thuật nếu thiếu ngƣời kể chuyện” [45, tr. 117].
Ngƣời kể chuyện hay còn gọi là “ngƣời trần thuật” cũng nhƣ nhiều khái
niệm khác, cho đến nay vẫn chƣa đƣợc các nhà lý luận văn học thống nhất
hoàn toàn. Theo Pospclov thì ngƣời kể chuyện là “ngƣời môi giới giữa các
hiện tƣợng đƣợc miêu tả và ngƣời nghe (ngƣời đọc), là ngƣời chứng kiến, cắt
nghĩa các sự việc xảy ra” [47, tr. 196].
Trong quan niệm của W. Kayser, ngƣời kể chuyện là một khái niệm
mang tính chất cực kỳ hình thức: “Đó là một hình hài đƣợc sáng tạo ra, thuộc
Gorki. Những ngày thơ ấu cho thấy những đắng cay tủi nhục, những khao
khát, ƣớc mơ của Nguyên Hồng khi còn nhỏ.
Tuy thống nhất nhƣng ta không đƣợc phép đồng nhất ngƣời kể chuyện
với tác giả bởi lẽ tƣ tƣởng của tác giả rộng hơn tƣ tƣởng của ngƣời kể chuyện,
nếu chỉ dựa vào quan điểm ngƣời kể để đánh giá tác giả sẽ khó tránh đƣợc sự
cực đoan, phiến diện. Ngay cả ở những tác phẩm tự truyện thì giữa ngƣời kể
chuyện với tác giả vẫn có những nét khác biệt, những khoảng cách rõ rệt.
Ngƣời kể chuyện trong tác phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng. Nó
không chỉ dẫn dắt, môi giới để bạn đọc tiếp cận với thế giới nghệ thuật mà còn
có chức năng tổ chức, sắp xếp các sự kiện trong tác phẩm. Bởi vậy, khi trần
thuật, nhà văn thƣờng cân nhắc trong việc lựa chọn ngôi kể để làm sao cho
câu chuyện hấp dẫn lôi cuốn ngƣời đọc. Về mặt lý luận, có nhiều cách phân
loại ngƣời kể chuyện theo những tiêu chí khác nhau: kể chuyện ở ngôi thứ
16
nhất, từ ngôi thứ hai, ở ngôi thứ ba, kể chuyện theo nhiều ngôi; hoặc ngƣời kể
chuyện tham gia vào câu chuyện hay ngƣời kể chuyện thờ ơ, lãnh đạm; ngƣời
kể chuyện sứ quan, ngƣời kể nhân chứng hay ngƣời kể toàn chi…Trong luận
văn này, bám sát thực tế nghệ thuật trần thuật của Sƣơng Nguyệt Minh, để
đảm bảo sự thống nhất, chúng tôi dùng thuật ngữ ngƣời kể theo ngôi: ngôi thứ
nhất và ngôi thứ ba.
Về vấn đề kể chuyện từ ngôi thứ nhất, Bakhtin đã có một ý kiến hết sức
xác đáng: “ Trần thuật từ ngôi thứ nhất là tƣơng tự với sự trần thuật của ngƣời
kể chuyện. Đôi khi hình thức này do dụng ý dựa trên lời kể của kẻ khác quy
định; đôi khi nhƣ một lối kể của Tuôcghênhep, nó có thể tiếp cận và cuối cùng
là hòa nhập với lời trực tiếp của tác giả, tức là hoạt động với lời một giọng của
ngôi thứ hai”. [45, tr. 380]. Hình thức kể từ ngôi thứ nhất là hình thức ngƣời
trần thuật xuất hiện trực tiếp xƣng “tôi” trong tác phẩm kể về mình hoặc kể về
ngƣời khác mà mình biết hoặc trực tiếp có liên quan. Hình thức kể này sẽ hạn
pháp nhiều hơn là diễn biến sự kiện. Chính vì vậy sự lựa chọn hình thức kể
chuyện từ ngôi thứ nhất sẽ giúp cho ngòi bút của tác giả tự do, phóng túng hơn
trong việc đào sâu khám phá những khuất nẻo tâm hồn, những phần bản
nguyên nhất của cơ thể con ngƣời. Nói chung, mỗi hình thức kể đều có những
ƣu thế và những giới hạn riêng. Việc vận dụng thành công hay không còn phụ
thuộc vào tài năng của nghệ sỹ.
Nhƣ vậy, việc điểm qua và phân tích một số quan niệm nhƣ trên giúp
chúng tôi đi đến một khẳng định: ngƣời kể chuyện, ngôi kể là yếu tố đặc biệt
quan trọng trong sáng tạo nghệ thuật. Nhà văn chỉ thực sự sáng tạo khi lựa
chọn đƣợc ngƣời kể chuyện, ngôi kể gắn với điểm nhìn hợp lý. Việc xem xét
ngƣời kể chuyện, ngôi kể không chỉ giúp ta thấy đƣợc tài năng của ngƣời cầm
bút mà còn thấy đƣợc thái độ, lý tƣởng, quan điểm của anh ta trong đó nữa,
bởi theo M. Bakhtin thì “Ta đoán định âm sắc tác giả qua đối tƣợng của câu
chuyện kể, cũng nhƣ qua chính câu chuyện và hình tƣợng ngƣời kể chuyện
bộc lộ trong quá trình kể.‟‟ [45, tr. 119].
18
1.1.2.2. Điểm nhìn trần thuật
Điểm nhìn nghệ thuật cho đến nay tuy không còn là vấn đề quá nóng
bỏng trong các cuộc hội thảo ở phƣơng Tây nhƣng nó đã đƣợc mặc nhiên thừa
nhận trở thành vấn đề ƣu tiên hàng đầu trong các công trình nghiên cứu về tự
sự, trần thuật.
Thuật ngữ “điểm nhìn” đƣợc gọi tên bằng nhiều cách khác nhau nhƣ:
viewpoint, view, point of view, vision…Thực tế cho thấy, các nhà lý luận phê
bình cũng sử dụng rất nhiều những thuật ngữ khác nhau để cùng nói về khái
niệm này. Chẳng hạn, với Henry và James là trung tâm của nhận thức (centre
of consciousness), Percy Lubbock: điểm nhìn (point of view), Jean Pouillon:
tầm nhìn (vision), Allen Tate: vị trí quan sát (post of obeservation), Cleanth
Brooks và Robert Penn Warren: tiêu điểm truyện kể (focus of narrative)…
thuật đối với những gì mà anh ta miêu tả” [42, tr. 90].
Trong công trình Bản chất của tự sự của R.Scholes và R.Kellogg xuất
bản lần đầu vào năm 1966, vấn đề điểm nhìn đã đƣợc xem xét nhƣ là một
trong những yếu tố quan trọng tạo dựng cấu trúc tác phẩm và xác lập mô hình
truyện kể. Theo R.Scholes và R.Kellogg thì “điểm nhìn là vấn đề chính của
nghệ thuật kể chuyện, nó không chia sẻ với thơ ca hoặc là văn học kịch. Ở đây
mối quan hệ giữa ngƣời kể chuyện- truyện kể và mối quan hệ giữa ngƣời kể
chuyện- độc giả thực chất là nghệ thuật kể chuyện” [47, tr. 138].
Quan điểm này đã đánh dấu một bƣớc phát triển đáng kể trong nghiên
cứu nghệ thuật kể chuyện, kể từ đó, điểm nhìn nghệ thuật đƣợc coi là một
nhân tố bộc lộ kỹ thuật thể loại của nhà văn, một mắt xích khách quan, nội tại
mà theo đó chúng ta có thể đánh giá đƣợc “tay nghề” của tác giả. Khi nghiên
cứu điểm nhìn trần thuật, các học giả đều ít hoặc nhiều bàn đến điểm nhìn
trong mối quan hệ với ngôi kể.
Không chỉ tìm hiểu về bản chất, vai trò của điểm nhìn mà các học giả
còn có tham vọng phân loại chúng dù rằng đây là việc làm không dễ. Từ
những nhận định mang tính khái quát, sơ lƣợc về điểm nhìn trong các từ điển,