Bô GIÁO DUC VÀ ĐÀO TAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ MAI
CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT
TRONG TIỂU THUYẾT “MIỀN HOANG”
CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC sĩ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS La Khắc Hòa
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tói PGS.TS La Khắc Hòa, người thày
đã tận tình hướng dẫn ,chỉ bảo và giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này bằng tinh
thần khoa học nhiệt tình và nghiêm túc.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy
ữong quá trình tôi học tập tại trường, phòng Sau Đại học - trường Đại học Sư
phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện thuận lọi ưong quá trình học tập và nghiên
cứu.
Xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ động viên của gia đình,bạn bè và đồng
nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 6 tháng 7 năm 2016
Người viết
NAM CUỐI THẾ KỈ XX ĐẦU THẾ KỈ XXI.....................................................8
1.1. Những hiện tượng nổi bật trên bức tranh văn xuôi Việt Nam cuối
thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI...............................................................................8
1.1.1. Thể loại truyện ngắn.....................................................................12
1.1.2. Thể loại tiểu thuyết.......................................................................14
1.2. Sương Nguyệt Minh trong bối cảnh vãn xuôi Việt Nam cuối thế kỉ
XX đầu thế kỉ XXI..........................................................................................22
1.2.1.......................................................................................................... T
ruyện ngắn Sương Nguyệt Minh...............................................................22
1.2.2.......................................................................................................... Ti
ểu thuyết Sương Nguyệt Minh...................................................................25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1.................................................................................28
Chương 2. NHỮNG CÁCH TÂN CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH
TRONG TỔ CHỨC TRUYỆN KỂ VÀ XÂY DựNG NHÂN VẬT.................29
2.1. Tổ chức truyện kể ữong Miền hoang của Sương Nguyệt Minh...........29
2.1.2. Tổ chức truyện kể trong Miền hoang của Sương Nguyệt Minh....32
2.1.2.1. Tổ chức sự kiện......................................................................32
2.1.2.2. Tổ chức không gian................................................................36
2.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Miền hoang của Sương Nguyệt
Minh 42
2.2.1. Khái lược về nhân vật....................................................................42
2.2.2. Cách tân về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Miền hoang
của Sương Nguyệt Minh...........................................................................45
2.2.2.1. Nghệ thuật miêu tả gợi bản chất nhân vật...............................45
2.2.2.2. Ngôn ngữ nhân vật..................................................................55
TIÊU KẾT CHƯƠNG 2.................................................................................63
Chương 3. CÁCH TÂN TỔ CHỨC ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG
MIỀN HOANG CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH..............................................64
sáng - tối của đòi sống nông thôn, thành thị; những góc khuất trong đòi sống
riêng tư con người... Đọc văn của Sương Nguyệt Minh, người đọc được bước
vào một thế giới nghệ thuật riêng, phong phú, đa chiều vói một phong cách văn
chương giản dị nhưng luôn không ngừng tìm tòi, đổi mới.
Miền hoang là tiểu thuyết đầu tay của Sương Nguyệt Minh, đồng thời
cũng là cuốn tiểu thuyết xuất sắc của nền văn học đương đại Việt Nam, đã đoạt
giải Sách hay 2015. Miền hoang là câu chuyện viết về chiến tranh, khi nền văn
học dân tộc lại đang thiếu vắng những tác phẩm mới về chiến tranh, về trải
nghiệm đày gian truân, sống chết của người lính. Miền hoang ra đời giữa
những kì vọng đó, điều đặc biệt hơn là cuốn tiểu thuyết này được tác giả trăn
trở viết nên chính từ những trải nghiệm của mình trong những năm tháng
2
người lính chiến đấu trên Biên giói Tây Nam và làm người lính quân tình
nguyện Việt Nam ở Campuchia. Bên cạnh đó, trên phương diện nghệ thuật tác
phẩm cũng có những nét đặc sắc, những đổi mới đáng kể trong cách tổ chức
truyện kể và nhân vật, tổ chức điểm nhìn tạo nên sức hấp dẫn, dấu ấn riêng biệt
cho tiểu thuyết này.
Vậy dưới góc nhìn nghệ thuật, tác phẩm đem đến cho người đọc điều gì
đặc sắc? Hiện nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết này
song chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu Miền hoang trên
phương diện những cách tân nghệ thuật. Do vậy, chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu,
nghiên cứu đề tài: “Cách tân nghệ thuật trong tiầt thuyấ Miền hoang của
Sương Nguyệt Minh”. Chúng tôi mong muốn rằng, đề tài này sẽ góp một phần
nhỏ vào kết quả nghiên cứu về những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết
Miền hoang, cũng như việc đọc - hiểu tác giả, tác phẩm.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sương Nguyệt Minh là nhà văn mặc áo lính và có 25 năm cầm bút. số
trong văn mạch của một cây bút đã định hình phong cách.
Trong buổi tọa đàm mang tên "Nhà văn Sương Nguyệt Minh với tiểu
thuyết Miền hoang" được tổ chức vào 8h30 phút ngày 17/12/2014 tại Đại học
Văn hóa Hà Nội, nhiều nhà nghiên cứu, phê bình vãn học đã có những nhận
xét, nhận định về tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh. Phạm Xuân
Nguyên nhận định Miền hoang là cuốn tiểu thuyết công phu, tâm huyết; môtíp
“lạc rừng” tuy không mới nhưng với tư cách là một người từng trực tiếp can dự
vào cuộc chiến trên đất bạn Campuchia như Sương Nguyệt Minh thì đây có lẽ
là sự lựa chọn khả dĩ nhất để nhà văn trút vào đấy một phần đời của mình vói
tất cả những trải nghiệm, suy tư, ám ảnh đày ứ chật căng trong mình. Nhà thơ
Phạm Sỹ Sáu, vừa là đồng đội cũ, vừa là người biên tập cuốn sách này, rất đồng
cảm với những gì nhà văn Sương Nguyệt
4
Minh hồi ức, tái hiện, gửi gắm trong Miền hoang, một cuốn tiểu thuyết ám gọi,
vừa có Campuchia vừa không có Campuchia.
Nhà văn Lê Minh Khuê và nhà phê bình Mai Anh Tuấn lại muốn tác giả
Miền hoang viết tốc độ hơn, cô nén hơn, gợi nhiều hơn tả thực. Mai Anh Tuấn
tỏ ra không muốn ngày hôm nay một câu chuyện lớn về chiến tranh được viết
bằng một hình thức cổ điển. Nhà phê bình này ưa hư cấu, suy tư về cuộc chiến,
phơi mở tâm tư hậu chiến hơn là tái hiện, tả thực về cuộc chiến. Tóm lại, đường
đi của một tác phẩm lớn viết về chiến tranh theo Mai Anh Tuấn là tác phẩm đó
phải được viết bằng tâm thế trí thức thay vì tâm thế của người trực tiếp can dự,
và từ một cuộc chiến cụ thể phải nâng lên thành phạm trù mang tính phổ quát,
mang tầm nhân loại.
Bên cạnh đó, ừên phương diện nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Văn Thọ và
nhà văn Đỗ Bích Thúy tâm đắc với việc nhà văn Sương Nguyệt Minh biết tận
dụng lợi thế của một tác giả truyện ngắn có nghề để viết tiểu thuyết, đó là nghệ
Sương Nguyệt Minh nói chung và tiểu thuyết Miền hoang nói riêng. Tuy nhiên
hiện chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu và tìm hiểu về những đổi
mới trên phương diện nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông. Do vậy, tôi mạnh
dạn tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: “Cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyầ "Miền
hoang" của Sương Nguyệt Minh”. Tôi mong muốn rằng, đề tài này sẽ góp một
phần nhỏ vào kết quả nghiên cứu về cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết
“Miền hoang” nói riêng, cũng như vào việc đọc và hiểu tác giả và tác phẩm
hiện nay nói chung.
3. Mục đích nghiên cứu
Phân tích những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của Sương Nguyệt
Minh, luận văn này nhằm hướng tới hai mục đích sau đây:
- Thứ nhất: Mục đích lí thuyết. Ở khía cạnh này,luận văn hi vọng sẽ góp
phần làm rõ đặc trưng của tiểu thuyết như một phạm trù năng động,không
ngừng biến đổi.
6
- Thứ hai: Mục đích văn học sử. Ở bình diện này, luận văn góp phấn xác
định sự phát triển của văn xuôi đương đại Việt Nam.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra hai nhiệm vụ cơ bản:
- Thứ nhất: Phân tích những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền
hoang của Sương Nguyệt Minh ở bình diện tổ chức truyện kể và xây dựng nhân
vật.
- Thứ hai: Phân tích những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền
hoang của Sương Nguyệt Minh ở bình diện tổ chức điểm nhìn.
5. Đổi tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền
hoang” của Sương Nguyệt Minh
8
NÔIDUNG
Chương 1
SƯƠNG NGUYỆT MINH TRONG BỐI CẢNH VĂN XUÔI VIỆT NAM
CUỐI THẾ KỈ XX ĐÀU THẾ KỈ XXI
1.1. Những hiên tương nổi bât trên bức tranh văn xuôi Viêt Nam cuối thế kỉ
XX đầu thế kỉ XXI
Sau chiến thắng lịch sử năm 1975, đặc biệt từ sau thòi kì đổi mói (1986)
cùng với quá trình đổi mới đất nước, nền văn học của chúng ta nói chung và
văn xuôi nói riêng đã có những chuyển mình lớn lao làm nên diện mạo mói của
nền văn học nước nhà.
Nền văn học Việt Nam trong ba mươi năm 1945 - 1975 đã hoàn thành sứ
mệnh của một nền văn học phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu. Đó là nền văn
học theo khuynh hướng sử thi, được thể hiện ưên sự thống nhất toàn diện các
mặt, từ cảm hứng, đề tài, chủ đề, thế giới nhân vật đến kết cấu, giọng điệu...
Những đặc trưng về dấu ấn của nền văn học ấy có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền
văn học Việt Nam nửa cuối thập niên 70 và đàu thập niên 80. Những chuyển
biến của đòi sống xã hội, văn hóa, tư tưởng tất yếu dẫn đến sự thay đổi về nhu
cầu và quan niệm thẩm mĩ, đòi hỏi văn học phải đổi mới. Cuối những năm 70
đã xuất hiện nhu cầu nhìn lại, chỉ ra những giới hạn của nền văn học trước đó
để hình thành hướng đi mới. Cuộc kháng chiến chống Mĩ cam go và quyết liệt
của dân tộc vẫn là một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều cây bút, nhưng có
điều họ không muốn và cũng không thể viết như cách viết trước đây được nữa.
Trong bài tiểu luận Viết về chiến tranh đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội số
11 - 1978, Nguyễn Minh Châu đã đặt ra câu hỏi và tự ữả lời: Con người hay sự
kiện? Câu ữả lời dường như không phải lựa chọn nữa: Phải viết về con người,
văn chỉ được giao phó công việc như một cán bộ truyền đạt đường lổỉ chính
sách bằng hình tượng văn học sinh động và do
10
nhiều lí do từ những ngày đầu cách mạng, các nhà văn cũng tự nguyện tự giác
thấy nên và cần làm như thế. Từ đẩy rồi trở thành thói quen. Thói quen của một
người vốn quen đi trong một hành lang hẹp, vừa hẹp vừa thấp. Lần lượt bắt đầu
là các nhà văn tiền chiến rồi hết lớp người cầm bút này đến lớp người cầm bút
khác, với một khả năng thích nghỉ hết sức ghê gớm, các nhà văn đã thích nghỉ
với văn học minh họa như thích nghi với cách sổng gian khổ, thiểu thổn trong
chiến tranh. Những nhà văn tuy đều cảm thấy thiếu thổn và bức bổi nhưng lại tự
dụ dỗ mình và khuyên nhủ lẫn nhau tự bạt chiều cao cho thấp để khỏi chạm
trần, tự ép khuôn khổ chiều ngang lại để khỏi kềnh càng, để đì lại được thoải
mái trong cái hành lang kia” [13]. Vói bài viết này, Nguyễn Minh Châu không
hướng đến việc phủ định thành tựu văn học quá khứ mà mong muốn vãn học
được ttở về vói chính mình, chống lại nguy cơ nhà văn đánh mất cái đầu và
những tác phẩm đánh mất tư tưởng, nghĩa là những tư tưởng mới và độc đáo,
mang tính khái quát cuộc đời của riêng nhà văn.
Bằng những tìm tòi và thể nghiệm trên nhiều phương diện, văn học giai
đoạn này đã từng bước hình thành một tư duy nghệ thuật mới trên cơ sở đổi
mới toàn diện các quan niệm về hiện thực, về nhà văn, về văn chương, về công
chúng văn học... Đổi mói trong quan niệm về nhà văn đã đem đến sự mới mẻ
trong mối quan hệ giữa nhà văn với hiện thực, với công chúng, với chính mình.
Quan niệm nghệ thuật về con người cũng có những biến đổi to lớn. Từ quan
niệm con người lịch sử, con người cộng đồng đã dần chuyển sang quan niệm
con ngưòi cá nhân phức tạp và bí ẩn, đồng thời con người cũng được khám phá
trên nhiều bình diện: con người như sản phẩm của lịch sử, con người duy ý chí,
ảo tưởng, con người mang thuộc tính nhân loại, con người là sản phẩm của tự
điểm nội dung của giai đoạn văn học 1986 đến nay (cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ
XXI).
về đổi mới thi pháp, tuy chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách sâu rộng
vấn đề thi pháp của văn xuôi sau 1986, song các bài nghiên cứu gần đây nhấn
12
mạnh vào hình thức biểu đạt của tác phẩm như: sự suy giảm vai trò của cốt
truyện, sự đa dạng trong hình thức kết cấu tác phẩm, tính chất đa thanh trong
nghệ thuật tràn thuật, những khám phá về hệ thống nhân vật... Từ đó, các nhà
nghiên cứu bước đầu đi đến kết luận về khả năng mở rộng, gia tăng tính đối
thoại của tự sự đương đại trước các vấn đề hiện thực và lịch sử.
Tóm lại, đường lối mở cửa và hội nhập mà Đảng đề ra đã tạo cơ hội để
mở rộng và giao lưu văn hóa, văn học giữa nước ta với các nước trên thế giới,
đặc biệt là các nước phương Tây. Nhờ vậy, nhiều ừào lưu, khuynh hướng lí
luận văn học hiện đại của thế giới đã ảnh hưởng đến Việt Nam, tác động đến sự
tìm tòi, thể nghiệm và sáng tạo của nhà văn cũng như mang lại luồng gió mới
mẻ trong thị hiếu tiếp nhận của độc giả.
1.1.1. Thể loại truyện ngắn
Sự đổi mới quan niệm và ý thức nghệ thuật của văn học sau 1986 được
đánh giá là nhân tố đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng chi phối mọi thể loại,
ừong đó có truyện ngắn. Với đặc thù là một thể loại nhỏ, gọn và cơ động,
truyện ngắn bắt nhịp rất nhanh với những vấn đề của đời sống. Truyện ngắn
nhanh nhạy, len lỏi vào mọi ngóc ngách của xã hội, phản chiếu mọi tâm điểm
nóng bỏng của hiện thực. Nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc nhận xét: “Đây cỏ thể
coi là một thời kì có nhiều truyện ngắn hay trong văn học Việt Nam, tiếp theo
“vụ được mùa truyện ngắn” năm 1960 và những vụ mùa khác, trong chiến
tranh ”. Tuy nhiên truyện ngắn làn này có những nét khác biệt rõ rệt: “Những
năm 1960 từng để lại nhiều truyện ngắn đẹp như thơ, trong veo, trữ tình.
Văn Kháng, Nguyễn Khải...), phong cách trữ tình (ứng với Y Ban, Phạm Ngọc
Tiến, Nguyễn Thị Thu Huệ...), về hình thức, truyện ngắn giai đoạn này khá đa
dạng, có thể nói đến một kiểu truyện kỳ hiện đại (Ben trần
14
gian của Lìm Sơn Minh, Hai người đàn bà xóm Trai của Nguyễn Quang
Thiều), kiểu truyện giả cổ tích (Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy
Thiệp), truyện ngắn kịch ịKịch câm của Phan Thị Vàng Anh), truyện rất ngắn
(Vùng lặng của Phạm Sông Hồng), truyện ngắn triết luận (Tâm tưởng của Bùi
Hiển, Sắng mãi vớỉ cây xanh của Nguyễn Minh Châu...). Trong tiến trình phát
triển lịch sử văn học nói chung và thể loại truyện ngắn nói riêng, truyện ngắn
nữ cũng có thành tựu đáng ghi nhận” [42; tr.34].
1.1.2. Thể loại tiểu thuyết
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), đất nước đã có nhiều thay đổi lớn lao
trên mọi mặt văn hóa, chính trị,... Điều đó đã tạo ra những thay đổi lớn ừong
văn học nhất là ở Văn Xuôi. Khi vấn đề tự do, dân chủ ttong sáng tạo văn hóa,
văn học được Đảng đặc biệt chú ttọng, xem đó như “điều kiện sổng còn để tạo
nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ để phát triển tài năng” thì sự đổi
mới văn học mới thực sự diễn ra ở bề sâu với một quan niệm đa dạng, nhiều
chiều về đòi sống [47]. Đối với tiểu thuyết, mọi phương diện đều có sự thay đổi
như: điểm nhìn, cảm hứng, đề tài, chủ đề, thi pháp thể loại. Tất cả đã và đang có
những nỗ lực cách tân đáng được ghi nhận của một loạt các tác giả tài năng. Họ
không chỉ dừng lại ở cảm hứng ngợi ca mà còn đi sâu vào khám phá hiện thực
bằng cái nhìn phân tích, chiêm nghiệm phê phán. Đồng thời, họ còn đi sâu
khám phá những chiều sâu tâm lý, những biểu hiện tâm linh sâu thẳm của con
người. Đúng như PGS. TS Nguyễn Thị Bình nhận xét:
“Cỏ một dòng mạch mới, lúc đầu âm thầm lặng lẽ, càng về sau càng mạnh
mẽ hơn, trong đó chứa đựng nhận thức khoa học hơn, đầy đủ hơn về hiện thực.
người đọc nằm ở cái nhìn hiện thực, ở quan niệm nghệ thuật về con người mà
mỗi tác phẩm đề xuất. Nỗ lực đổi mới chặng đường này chủ yếu dồn vào cách
xử lý chất liệu hiện thực: một hiện thực đa chiều, hiện thực vừa có tính tất định,
vừa đáng ngờ, vừa hữu lý vừa phi lý, vừa trật tự vừa hỗn loạn, vừa thuộc về cái
rõ rành
16
lý trí vừa như thuộc cõi siêu linh bí ẩn huyền hồ... đó là sự nới rộng đáng kể
biên độ hiện thực so với tiểu thuyết trước 1975. Soi qua “tấm gương” tiểu
thuyết, có thể thấy các mối quan hệ giữa văn chương với hiện thực, nhà văn với
bạn đọc đều được dân chủ hoá mạnh mẽ. Nhà văn có quyền xem hiện thực là
mục đích phản ánh hay chỉ là phương tiện để công bố tư tưởng riêng, do vậy
anh ta không còn bị lệ thuộc vào hiện thực. Người đọc từ bỏ dần thói quen đối
chiếu những điều tác phẩm kể lại với cuộc sống có thực ngoài tác phẩm để suy
tư về những gì được nhà văn gửi gắm qua cái hiện thực được lựa chọn có khi
đầy tính chủ quan, cá biệt. Người đọc có quyền tin hay không tin câu chuyện
được kể bằng kinh nghiệm cá nhân như thế.
Điều đáng lưu ý là dù nhu cầu đổi mới văn chương đã ừở thành phổ biến
và cấp thiết ừong toàn bộ đời sống văn học nhưng văn xuôi (trong đó có tiểu
thuyết) cho tới chặng cao ừào vẫn tập trung vào sự đổi mới nội dung hiện thực
của tác phẩm, nghĩa là câu hỏi “viết về cái gì” luôn được ưu tiên hơn hẳn câu
hỏi “viết như thế nào?”. Dù viết về người lính hay người nông dân, trí thức hay
doanh nhân, ừẻ em hay người già, người gặp thời hay kẻ lạc thòi, về quá khứ
lịch sử hay về hiện tại, hưởng tới cảm hứng triết luận hay cảm hứng ừào lộng;
ngợi ca, khẳng định hay phê phán, phủ nhận... thì tinh thần chung vẫn là kể một
câu chuyện có đầu có cuối theo logic nhân - quả, sao cho người đọc có thể dễ
dàng quy chiếu ý nghĩa tác phẩm về hình tượng thế giới khách quan. Nói cách
khác, giá trị thẩm mỹ mà tác phẩm đem lại chủ yếu phụ thuộc vào nội dung
nghiêm túc mà nó truyền tải (Văn dĩ tải đạo). Trước đó, tiểu thuyết Thiên sứ
thực sự là một “món lạ”, rất lạ so với “khẩu vị” phổ biến của người đọc Việt
Nam. Từ Thiên sứ, “tiếng gọi của trò chơi” hình như càng ngày càng hấp dẫn
nhiều người viết hơn. Dù nghệ thuật bao giờ chả có hư cấu, bịa đặt, nhưng xem
ra hư cấu ở văn chương truyền thống là
18
để thuyết phục người đọc tin vào tính chất thật của câu chuyện được kể. Còn ở
“trò chơi tiểu thuyết” bây giờ, sự hư cấu, bịa đặt lại cố cho lộ liễu để vừa gián
cách người đọc với câu chuyện, vừa gây men ngờ vực trong họ.
Thiên sứ mở đàu với lời ghi chú “Cuốn sách này bắt đầu từ một điển tích
của nhà văn G. G và những chuyện khó tin của nhà văn F.”. Các chương như
sự lắp ghép ngẫu nhiên những mảnh vụn rời rạc của hiện thực, những chi tiết
như tiện đâu kể đẩy. Cuộc “chơi kết cấu”, “chơi nhân vật” được công khai ngay
ở hình thức văn bản, ở cách đặt tên chương, mục đến cách mô hình hoá nhân
vật. Mỗi nhân vật giống cuộc thử nghiệm của một cái tôi nhỏ bé, tính cách nhân
vật không được nhà văn lý giải mà được người đọc quan sát từ “cuộc chơi” của
chúng. Mỗi nhân vật cũng là một mô hình, được sổ hoá {Mô hình I- Chương 8,
Mổ hình II- Chương 13, Người đàn bà công dân - Chương 17,...). Các chương
được sắp xếp sao cho có khả năng phá vỡ mạnh nhất tính cân xứng, hài hoà của
tiểu thuyết truyền thống: Chương 10 - Không đề chỉ là mươi dòng tự luận của
người kể chuyện. Chương 14 - Ván bài mở ra với bảng phân vai và “tóm tắt lý
lịch” nhân vật như một văn bản kịch. Chương 18 - Nhật ký chị Hằng, Chương
15 - Thơ PH... Nhìn vào hình thức văn bản đã thấy ngay sự sắp đặt, pha trộn, lai
ghép của các thể loại. Tạ Duy Anh xác nhận tính trò chơi trong Thiên thần
sám hối bằng lời Tựa: “CỔM chuyện khó tin này là của một đứa trẻ còn ở
trong bụng mẹ. Neu đọc xong quý vị vẫn không tin thì cũng không sao”. Và
người kể chuyện xưng tôi sẽ chính là cái bào thai ấy. Nguyễn Bình Phương tạo
sám hối là những bức hoạ bằng ngôn từ theo phong cách lập thể, không nhằm
trình bày một hiện thực phổ biến, khả tín mà là những giấc mơ, những ám ảnh
vô thức, những trò diễn của sân khấu múa rối hay của lễ hội hoá trang. Hiện
thực đó không để người ta tin, mà để người ta nghi ngờ và ngẫm nghĩ. Quan hệ
dân chủ giữa văn học với hiện thực được xác lập đồng thời với việc khước từ sự
áp đặt chân lý lên người đọc (Chuyện 299 người đàn ông cầu hôn
20
chị Hằng, chuyện cô bé 14 tuổi tự đình tăng trưởng trong Thiên sứ, chuyện cái
thai không chịu chào đời vì cảm giác bất an trong Thiên thần sám hối, chuyện
cô gái Mai Trừng được sinh ra để trừng trị cái ác trong Cõi người rung chuông
tận thế,...
Thứ hai: Những nhân vật dị biệt hoặc kỳ ảo: Quang lùn (gợi hình ảnh quỷ
lùn) - người chỉ tôn thờ duy nhất sức mạnh của các nguyên tắc và ý chí, bé Hon
- thiên sứ pha lê đến trần gian chỉ để “ban phát nụ cười và môi hôn thom ngậy
mùi sữa”, Hoài - cô bé mãi mãi 14 tuổi, không chịu làm người lớn vì không
chấp nhận “thế giới phủ thảm của người lớn” (Thiên sứ), Mai Trừng (Cõi
người rung chuông tận thế) có khả năng phát “điện trường” cực mạnh mỗi khi
kẻ ác đến gần, chàng trai 17 tuổi sống lại sau tai nạn điện giật có khả năng đi
ngược thời gian {Trong sương hồng hiện ra), linh hồn của Hoa, Hưomg,
Khánh {Người sông Mẽ), Từ Lộ, Dã nhân, chàng Cá bơn {Giàn thiêu), Tính
{Thoạt kỳ thuỷ) - một con bênh tâm thần hiếu sát chỉ thích nhìn máu chảy... là
những nhân vật được xây dựng như một sự đối thoại, hoặc chối từ quan niệm
điển hình hoá của chủ nghĩa hiện thực truyền thống. Ở đây cái cá biệt, cái “phi
sử thi” là đặc điểm chính.
Thứ ba: Điểm nhìn trần thuật chủ yếu được giao cho các nhân vật dị biệt
đó. Tính chủ quan của câu chuyện là một cách khẳng định kinh nghiệm cá nhân
và làm tăng chất nghịch, chất hài cho tiểu thuyết. Thế giới trong Thiên sứ được