đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết tiếng rền của núi của kawabata yasunari - Pdf 30

ƯỜ
NG ĐẠ
Ơ
TR
TRƯỜ
ƯỜNG
ĐẠII HỌC CẦN TH
THƠ
ÂN VĂN
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NH
NHÂ

Ữ VĂN
BỘ MÔN NG
NGỮ

ẦN HU
ỲNH TỐ UY
ÊN
TR
TRẦ
HUỲ
UYÊ
MSSV: 6106446

C ĐIỂM NỘI DUNG VÀ NGH
Ệ THU
ẬT
ĐẶ
ĐẶC
NGHỆ


NG TỔNG QU
ÁT
ĐỀ CƯƠ
ƯƠNG
QUÁ
ẦN MỞ ĐẦ
U
PH
PHẦ
ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
3. Mục đích nghiên cứu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu

ẦN NỘI DUNG
PH
PHẦ
ƯƠ
NG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
CH
CHƯƠ
ƯƠNG
1.1. Giới thiệu đôi nét về khái niệm tiểu thuyết và đặc điểm thể loại tiểu thuyết
1.2. Vài nét về bối cảnh xã hội – bối cảnh văn học Nhật Bản hiện đại từ thời Minh
Trị đến năm 1975
1.2.1. Bối cảnh xã hội
1.2.2. Bối cảnh văn học

ƯƠ
NG 3: ĐẶ
C ĐIỂM NGH
Ệ THU
ẬT TRONG TI
ỂU THUY
ẾT
CH
CHƯƠ
ƯƠNG
ĐẶC
NGHỆ
THUẬ
TIỂ
THUYẾ

ẾNG RỀN CỦA NÚI”
“TI
TIẾ


3.1. Không gian nghệ thuật
3.1.1. Không gian bối cảnh
3.1.2. Không gian tâm tưởng
3.1.3. Không gian huyền ảo – không gian của những giấc mơ
3.2. Thời gian nghệ thuật
3.3. Thi pháp chân không
3.4. Thủ pháp chiếc gương soi
3.5. Hình thức độc thoại nội tâm trong tác phẩm


thời gian, những tác phẩm của ông càng có sức thu hút mãnh liệt không chỉ với độc giả,
với những người yêu thích văn chương mà còn đối với cả giới phê bình văn học. Và
qua thời gian lao động miệt mài vì nghệ thuật đó, ông để lại cho nền văn học thế giới
nói chung và nền văn học Nhật Bản nói riêng một số lượng tác phẩm đồ sộ ở nhiều thể
loại như: truyện ngắn, truyện trong lòng bàn tay, các bài tiểu luận mỹ học, phê bình
văn học và nhất là thể loại tiểu thuyết.
Không những vậy, ta còn thấy ở nhà văn một thái độ sống ôn hòa, trầm tĩnh và
thật từ tốn. Khi hay tin mình được nhận giải thưởng danh giá ấy, ông bảo rằng vinh dự
này nên trao cho cả nền văn chương Nhật hơn là trao riêng cho một mình ông. Và ông
đã viết bài diễn văn thật sự gây ấn tượng với tên gọi “ Sinh ra bởi vẻ đẹp Nhật Bản”.
Cũng từ giải thưởng đó, ông không chỉ khẳng định được tên tuổi của mình mà còn góp
phần đưa nền văn chương Nhật Bản lên tầm cao mới, khẳng định chỗ đứng uy tín trên
văn đàn thế giới. Có thể xem ông là một trong số những ngôi sao sáng giá nhất của nền
văn chương Nhật Bản hiện đại, đã thừa hưởng một phần nào đó từ nguồn suối mênh
mông, sâu thẳm của Truy
Truyệện Genji (bộ tiểu thuyết vĩ đại của Murasaki xuất hiện vào
khoảng đầu thế kỉ XI ở Nhật như một kì quan) những gì đẹp nhất. Ông ra trường với
đề tài là tiểu thuyết Nhật Bản và đạt được nhiều thành tựu nhất cũng ở thể loại này.
Tiểu thuyết Ti
Tiếếng rền của núi là một trong số những tiểu thuyết nổi tiếng của
ông sau thế chiến thứ hai, phản ánh thời kỳ sáng tạo liên tục, sung sức nhất của nhà

1


văn, và đây cũng là tác phẩm nhận được sự quan tâm của nhiều độc giả, cũng như các
nhà nghiên cứu văn học bởi nó mang những đặc điểm nội dung và nghệ thuật đặc sắc.
Có thể nói, đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết Ti
Tiếếng rền của


Tiếếng rền của núi là:

“sự đi tìm những chân lý vĩnh cửu của đời sống (được tượng trưng bằng hình ảnh quả
núi) mà thường là chỉ tìm thấy khi con người ta đã sống qua gần hết cuộc đời mình,
khi đã để lại sau lưng cả một chặng đường kinh nghiệm và hiểu biết đủ để nhìn nhận
lại một cách sáng suốt toàn bộ cuộc sống, giống như khi người ta đã đứng cách quả
núi một khoảng đủ xa để nhìn bao quát được nó một cách toàn diện” [6; tr.8]. Qua
việc nêu lên nội dung tư tưởng chủ đạo của tác phẩm, dịch giả còn khái quát đôi nét về
các nhân vật trong truyện, nhấn mạnh nhiều ở nhân vật chính Singô, cũng như xác
định bối cảnh xã hội câu chuyện ở đây là nước Nhật sau chiến tranh. Bên cạnh đó, dịch
giả còn khẳng định: “Tác phẩm Ti
Tiếếng rền của núi được xây dựng không phải theo lối

cổ điển. Nó không tuân theo trật tự thời gian, mà bẻ gập thời gian lại để chiêm nghiệm
cái thông thái của một khoảnh khắc. Đối với nhân vật chính Singô thì cái khoảnh khắc
ấy là tuổi già sắp đến và mọi vấn đề của ông ta được phát triển xung quanh ý nghĩa
2


này”.[6; tr.10]. Bài viết của dịch giả dù không đi sâu vào đặc điểm nội dung của tác
phẩm nhưng cũng phần nào cho người đọc hiểu sơ lược về tác phẩm. Từ đó người đọc
sẽ có hứng thú hơn với tác phẩm của nhà văn bậc thầy Kawabata.

ng trong ti
Công trình tiếp theo ta có thể kể đến là Bi
Biểểu tượ
ượng
tiểểu thuy
thuyếết của
Kawabata của tác giả Trần Tố Loan. Trong bài viết này, tác giả đã tìm hiểu các biểu

Thị Bích Thủy cho rằng “Ti
Tiếếng rền của núi là tiếng vọng của những giá trị văn hóa

truyền thống Nhật Bản từ những trang văn tài hoa của người nghệ sĩ nặng lòng với cái
đẹp. Sống hòa hợp với thiên nhiên, các nhân vật trong tác phẩm như những đóa hoa
dạt dào một vẻ đẹp nữ tính, bất chấp thực tại vẫn còn nhiều gian truân.”[24] qua bài
viết Ti
Tiếếng rền của núi và ti
tiếếng vọng của vẻ đẹ
đẹpp nữ tính. Đây là một bài viết khá sâu
sắc về vẻ đẹp nữ tính của các nhân vật mà điển hình là: Singô và Kikucô. Vẻ đẹp nữ
3


tính ấy ngàn năm sau vẫn nồng nàn trong tác phẩm của Kawabata và là một trong
những đặc điểm nổi bật của quan niệm về cái đẹp trong Ti
Tiếếng rền của núi. Nguồn
mạch nữ tính và sự mềm mại của tác phẩm như hé mở cho người đọc cánh cửa tâm
hồn của người dân Phù Tang, đó là tình yêu cái đẹp kín đáo và sâu sắc.
Không thể bỏ qua bài viết Mỹ học Kawabata Yasunari của tác giả Khương Việt
Hà, bởi sự nhấn mạnh của tác giả về một trong những chủ đề chính trong tác phẩm của
Kawabata là “phản ánh lòng khát khao tha thiết với cuộc đời và niềm tin yêu con

người nơi tác giả. Thậm chí, ngay trong tác phẩm thấm đẫm âm hưởng của tuổi già và
cái chết như Ti
Tiếếng rền của núi vẫn có hoàn cảnh chào đời với sự mang thai của cô
gái người tình của Suychi (con ông Singô)”[19]. Bên cạnh đó, tác giả còn cho rằng tác
phẩm này còn “thể hiện niềm lạc quan sâu sắc về sự sống sẽ được hồi sinh từ những gì

ngỡ tưởng đã vĩnh viễn rời bỏ thế gian qua hình tượng hạt sen ngàn năm vẫn có thể

vật, bao gồm cả nhân vật có tên và nhân vật không tên. Ông ít quan tâm đến các chi
tiết, sự kiện bên ngoài, hay nói đúng hơn là những biểu hiện bên ngoài, từ thiên nhiên
cho đến hành động, tính cách nhân vật đều được nội tâm hóa. Tâm lý nhân vật trở
thành trung tâm cho mọi kiếm tìm, giải mã. Hình tượng nhân vật trung tâm trong tiểu
thuyết Ti
Tiếếng rền của núi là nhân vật Singô. Trong tác phẩm, nhân vật Singô càng gặp
bất hạnh càng gắn bó mật thiết với đời, mở rộng lòng mình lắng nghe từng xao động
nhỏ nhoi của cuộc sống bên ngoài. Một tiếng ve ngân, một chồi non lộc biếc, một tiếng
xào xạc của lá cành đều được ông cảm nhận một cách tinh tế. Thiên nhiên và con
người, bên trong và bên ngoài, tâm hồn và thân xác như đã hòa làm một.”[20]. Bài
viết đi khá sâu vào việc phân tích nguyên tắc lấy thế giới nội tâm nhân vật làm điểm

4


quy chiếu mọi sự kiện, chi tiết đã khiến cho tiểu thuyết Y. Kawabata trở thành dòng
chảy tự nhiên của tâm trạng nhân vật.
Một công trình đáng chú ý nữa, đó là chuyên luận Văn hóa Nh
Nhậật Bản và

Yasunari Kawabata của tác giả Đào Thị Thu Hằng, đây là công trình nghiên cứu về
nhiều phương diện, khía cạnh các tác phẩm của nhà văn, cũng như nghiên cứu đôi nét
về cuộc đời, văn nghiệp của nhà văn, đặc biệt là nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện của
ông qua nhiều phương diện: người kể chuyện, điểm nhìn, giọng điệu, không gian nghệ
thuật, thời gian nghệ thuật,… Thủ pháp tấm gương được tác giả đề cập như “một công

cụ đắc lực trong việc khai thác thế giới nội tâm con người. Tấm gương Kawabata
được khoát một tấm áo rất hiện đại, mới mẻ với những quan niệm, triết lí về tình yêu
và cuộc sống”[8; tr.188]. Ngoài ra, tác giả còn đặt sáng tác của Kawabata trong dòng
chảy văn học truyền thống Nhật Bản để khẳng định sự tiếp thu và cách tân của nhà văn



cho đó là không gian trong giấc mơ: miền tuổi trẻ. “Mệt mỏi vì tuổi già, Singô luôn mơ

về tuổi thanh xuân. Ông ước ao mình có thể trẻ lại bằng cách tháo cái đầu – lúc này
đã giống như một cỗ máy rệu rã – để tra dầu căn chỉnh giống như cách người ta vẫn
làm với xe cộ máy móc.”[22].
Với những công trình trên, chúng tôi nhận thấy hầu hết những ý kiến, nhận định
đều rất thuyết phục và có cơ sở khoa học. Mỗi một bài viết đi vào một khía cạnh nội
dung và nghệ thuật riêng của tác phẩm để tìm tòi nghiên cứu, đưa ra những lập luận
thuyết phục. Mặc dù chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu đặc điểm nội dung
và nghệ thuật trong tiểu thuyết Ti
Tiếếng rền của núi một cách toàn diện, nhưng với
những đóng góp trên, đã phần nào làm nền tảng cho những nghiên cứu sau này. Do đó,
khi thực hiện đề tài này, chúng tôi mong muốn mang đến một cái nhìn khái quát, đầy
đủ hơn về đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết Ti
Tiếếng rền của núi của
nhà văn Kawabata Yasunari.

ch nghi
3. Mục đí
đích
nghiêên cứu
Nghiên cứu đề tài “Đặc điểm nội dung và nghệ thuật trong tiểu thuyết Ti
Tiếếng

rền của núi của Kawabata Yasunari”, người viết mong muốn đạt được những mục
đích sau:
Đầu tiên, người viết muốn tìm hiểu và làm sáng tỏ về đặc điểm nội dung trong
tiểu thuyết Ti

đô,, Xứ tuy
tuyếết, Ng
Ngààn cánh hạc và một số tác phẩm khác của các tác giả khác để có
cái nhìn bao quát, sâu sắc về vấn đề trọng tâm của đề tài.

ươ
ng ph
áp nghi
5. Ph
Phươ
ương
phá
nghiêên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, người viết sử dụng kết hợp một số thao tác và
phương pháp như: phương pháp tiểu sử, phương pháp so sánh đối chiếu và phương
pháp phân tích tổng hợp. Cụ thể là:
Người viết vận dụng phương pháp tiểu sử vào tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp
sáng tác của nhà văn, xác định mối quan hệ giữa các yếu tố tiểu sử của nhà văn với các
yếu tố của tác phẩm để lí giải vấn đề trọng tâm của đề tài.
Hay với phương pháp so sánh, đối chiếu người viết sử dụng để so sánh, đối
chiếu đặc điểm nội dung của tác phẩm với đặc điểm nội dung của các phẩm khác cùng
thể loại của nhà văn, cũng như các tác phẩm khác của nhà văn khác; so sánh đặc điểm
nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm của tác giả với những đặc điểm nghệ thuật trong
một số tác phẩm của các nhà văn khác, để thấy được sự sáng tạo của nhà văn trên con
đường sáng tạo nghệ thuật trong việc không lặp lại của người khác và cũng không lặp
lại chính mình.
Phương pháp phân tích – tổng hợp được người viết sử dụng để phân tích, tổng
hợp một số nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đối với tác
phẩm, cũng như dựa vào sự phân tích văn bản tác phẩm để người viết đưa ra nhận xét,
đánh giá của mình để bài viết thuyết phục hơn.

Theo Descarte: “Tiểu thuyết là hình thức văn học phản ánh đầy đủ nhất các

phương hướng đã được xác định lại của chủ nghĩa cá nhân giàu tính sáng tạo, phản
ánh xu thế đem kinh nghiệm cá nhân thay thế cho truyền thống tập thể và với tư cách
là người làm trọng tài quyền uy nhất ngày càng gia tăng. Sự thay đổi đó là do một bộ
phận quan trọng nhất của bối cảnh văn hóa chung làm cho tiểu thuyết trỗi dậy. Sự
kiện đặc trưng của tiểu thuyết là sự thể nghiệm cái riêng tư của cá nhân, như tình yêu,
những thành công, thất bại, nỗi buồn, những cảm xúc thầm kín, những bí mật riêng tư
mà cá nhân muốn che giấu, là cái làm nên chủ đề đời tư trong văn học.”[15; tr.294].
Cũng là đưa ra khái niệm về tiểu thuyết, tác giả Lý Hoài Thu lại cho rằng:

“Tiểu thuyết là một thể loại lớn nằm trong phương thức tự sự có khả năng phản ánh
hiện thực đời sống một cách bao quát ở mọi giới hạn không gian và thời gian, khả
năng khám phá một cách sâu sắc những vấn đề thuộc về thân phận con người thông
qua những tính cách đa dạng, phức tạp và khả năng tái hiện những bức tranh mang
tính tổng thể rộng lớn về đời sống xã hội”[5; tr.236].
Còn theo GS. Trần Đình Sử thì: “Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống hiện tại không

ngừng biến đổi, sinh thành trên cơ sở kinh nghiệm cá nhân”[13; tr.21]. Theo cách hiểu
nào thì tiểu thuyết đều bắt đầu từ những sự việc trong sinh hoạt, đời thường.
Tại Nhật Bản, vượt qua sử ký, tùy bút và nhật ký, hình thức sơ khai của tiểu
thuyết đã xuất hiện từ những thế kỷ VI – VIII, ban đầu là sự tập hợp thành chương
những bài ca Ballad, truyện kể do các pháp sư mù gảy đàn Biwa lưu truyền khắp đảo
quốc. Cùng với những sáng tạo khởi đầu là Takatori monogatari (truyện kể Takatori),
tiểu thuyết Nhật Bản, mà hình thức của thể loại được gọi bằng tên Monogatari (truyện
kể), đi được nửa chặng đường đến Ise monogatari (truyện kể Ise) và đạt đỉnh cao với
Genji monogatari (truyện kể Genji).
Theo quan niệm trước đây, đặc biệt là quan niệm của Trung Quốc và Nhật Bản,
tiểu thuyết bao gồm hai loại chính: tiểu thuyết đoản thiên và tiểu thuyết trường thiên,
8

thuyết hướng về miêu tả hiện tại cùng thời, tiểu thuyết cho phép người trần thuật tiếp
xúc, nhìn nhận các nhân vật một cách gần gũi như những người bình thường, có thể
hiểu họ bằng kinh nghiệm của mình.
Cuối cùng, với các đặc điểm nêu trên, tiểu thuyết là thể loại văn học có khả
năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các loại văn học khác.
9


Về đặc điểm hình thức của tiểu thuyết:
Theo nhận định của M. Bakhtin thì “hình thức của tiểu thuyết chưa xong xuôi,

nó không đông cứng thành những quy phạm của thể loại đã hoàn thành, song các yếu
tố cơ bản mà tác phẩm tự sự nào cũng có như nhân vật, cốt truyện, hoàn cảnh, chi tiết,
kết cấu, lời văn đến tiểu thuyết lại được phát triển phong phú và không ngừng thay
đổi”.[15; tr.307].
Đặc điểm hình thức của tiểu thuyết đầu tiên là về nhân vật. Nhân vật trong tiểu
thuyết được miêu tả nhiều mặt, tinh tế, chi tiết như con người sống. Từ tính cách, cá
tính đến số phận, từ hành động đến tâm lý, từ các loại quan hệ đến ngôn ngữ đều được
các nhà tiểu thuyết quan tâm khám phá.
Hai là, so với các thể loại văn học khác, cốt truyện của tiểu thuyết là phức tạp
nhất. Cốt truyện trong tiểu thuyết có thể là đơn tuyến, đa tuyến hay đan bện nhiều
quãng thời gian. Cốt truyện là nơi phản ánh các tính cách nhân vật, phản ánh những
mâu thuẫn và hiện thực, giúp tư tưởng chủ đề và nội dung tiểu thuyết được thể hiện
đầy đủ nhất. Đồng thời, cốt truyện trong tiểu thuyết hiện đại cũng khá tự do, linh hoạt
trong việc chọn điểm mở đầu, điểm kết thúc.
Ba là, kết cấu trong tiểu thuyết chủ yếu là tổ chức điểm nhìn và trật tự sự kiện
để đưa người đọc đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn. Kết cấu của môtip tiểu thuyết
có hai điểm nhìn: Điểm nhìn của người trần thuật và điểm nhìn của nhân vật. Với lối
trần thuật như thế, người đọc dễ đi vào thế giới nội tâm nhân vật.
Bốn là, hoàn cảnh trong tiểu thuyết là không gian, hoàn cảnh cho nhân vật hoạt

Singô trong Ti
Tiếếng rền của núi sống đến cái tuổi 62, đã nếm trải biết bao cay đắng
ngọt bùi của cuộc đời, có thể xem ông là người thành công trong công việc so với
những người bạn cùng tuổi nhưng luôn phải suy tư, lo lắng, trăn trở về cuộc sống gia
đình mình, về cuộc sống vợ chồng của các con mà đáng ra ông phải được sống thanh
thản, vui vẻ với người thân và những đứa cháu khi tuổi đã già. Không chỉ vậy, nhân
vật này còn được tác giả miêu tả khá chi tiết và tinh tế, từ tính cách, số phận, hành
động đến diễn biến tâm trạng.
Ngoài ra, điều đáng chú ý trong các sáng tác của ông còn ở cốt truyện, bởi nó
được đánh giá là “trần thuật phi cốt truyện”. Những câu chuyện đời thường, đơn giản,
không có gì gay cấn nhưng qua bàn tay tài ba của tác giả lại trở nên cực kì hấp dẫn, lôi
cuốn người đọc, và đôi khi ta còn bắt gặp một phần sự kiện cốt truyện có dáng dấp của
tác giả trong đó. Cuộc đời của một số nhân vật trong tác phẩm có phần giống với cuộc
đời ông. Vì ông là người có khát vọng mãnh liệt vươn tới cái đẹp, tới đỉnh cao của sự
hoàn thiện và khi tuổi già đến ông không chấp nhận được và ông đã chọn cái chết, bởi
ông muốn giữ cho sự cảm thụ mỹ học cũng như đỉnh cao sự hoàn thiện của đời ông
còn được nguyên vẹn. Một câu nói “ Con người cần phải ra đi trong lúc còn được yêu

mến”[6; tr.94] trong Ti
Tiếếng rền của núi nghe như là lời tác giả đang nói về mình. Bên
cạnh yếu tố cốt truyện thì yếu tố điểm nhìn cũng là một yếu tố quan trọng trong các
sáng tác của nhà văn. Ta thấy trong tiểu thuyết Ti
Tiếếng rền của núi có nhiều đoạn người
kể chuyện trao điểm nhìn cho nhân vật, để nhân vật có một cái nhìn riêng về đối tượng
mình cần phán xét, qua đó cũng bộc lộ được bản chất của nhân vật đó. Vì vậy, người
đọc sẽ dễ đi vào thế giới nội tâm nhân vật và hiểu về nhân vật đó hơn. Còn về mặt
ngôn ngữ trong tiểu thuyết thì đa phần là ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật, như
những cuộc đối thoại giữa nhân vật Singô với vợ, với con trai, con dâu hay con gái
mình trong tiểu thuyết trên, đồng thời, những lời độc thoại nội tâm của nhân vật cũng


rời bỏ ngôi nhà ra các trung tâm công nghiệp kiếm sống thì giờ đây chủ yếu là “gia
đình hạt nhân” (chỉ có vợ chồng và những đứa con). Tuy vậy, gia đình liên tục vẫn còn
tồn tại nhưng đã có sự thay đổi đáng kể, quyền lực tuyệt đối của người chủ nhà không
còn nữa, con cái có quyền lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai theo ý muốn của bản
thân, tuy vậy, các thế hệ già vẫn mong các con cháu của mình có thể kế tục nghề
nghiệp của họ. Bên cạnh đó, vấn đề nuôi dạy con cái càng được coi trọng hơn nữa. Họ
quan niệm “tâm hồn của đứa trẻ 3 tuổi kéo dài đến 100 tuổi”, vì vậy cần phải có sự
quan tâm, chăm sóc ngay từ nhỏ để chúng được phát triển một cách tốt nhất. Bên cạnh
vấn đề nuôi dạy con cái thì vấn đề kế hoạch hóa gia đình cũng được xã hội Nhật đặc
biệt quan tâm. Suốt thời kỳ Tokugawa phương pháp chủ yếu hạn chế số người trong
gia đình là phá thai và giết trẻ sơ sinh, nhưng cả hai biện pháp này đều bị ngăn cấm
dưới thời Minh Trị vì nhu cầu hóa lao động cho các thành phố công nghiệp và nhu cầu
về lực lượng phục vụ quân đội tăng. Vào những năm đầu thế kỷ XX dấy lên phong
trào phụ nữ đấu tranh đòi quyền kiểm soát sinh đẻ và được sự ủng hộ của những người
nước ngoài, thế nhưng, đến cuối những năm 30 – thời kì chiến tranh Nhật – Trung thì
12


phong trào này chính thức bị ngăn cấm bởi nhà nước vẫn muốn dân số cần thiết phải
tăng. Một thời gian sau do chi phí nhà và giáo dục tăng cao, nhà nước không còn
khuyến khích tăng dân số, do đó tỷ lệ sinh đã giảm xuống để đảm bảo cho sự phát triển
đầy đủ của thế hệ trẻ. Từ đây, ở một số gia đình hạt nhân hiện đại, người đàn ông ngày
càng hợp tác giúp đỡ người phụ nữ theo đuổi nghề nghiệp cũng như bình đẳng với họ
trong công việc gia đình.
Về mặt giáo dục, kể từ thời Tokugawa đã bắt đầu có sự thực thi hệ thống giáo
dục toàn dân và đến thời Minh Trị, những người cầm quyền đã quyết định tập trung
vào phát triển giáo dục cho toàn dân chứ không phải chỉ riêng cho tầng lớp quý tộc.
Ngay lúc này, những người công nhân đóng vai trò chính cho quá trình hiện đại hóa
đất nước nhờ có sự giáo dục tối ưu, họ tiếp thu nhiều kỹ năng cần thiết cho sự phát
triển của bản thân cũng như góp phần xây dựng đất nước phát triển. Một điều đáng chú

cũng đã có sự phát triển, hầu hết các gia đình phải lao động nhiều để duy trì cuộc sống
đạm bạc của mình. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế Nhật lâm vào tình
trạng khủng hoảng kéo dài. Để khắc phục tình trạng ấy, nhà nước đưa ra nhiều biện
pháp như: cải cách ruộng đất, có cơ cấu lương mới, ổn định việc làm,.. nhưng cũng
chưa khôi phục được nền kinh tế vốn đã suy thoái trầm trọng. Mãi từ năm 1955 đến
1973 nền kinh tế Nhật mới thật sự khôi phục và có tốc độ tăng trưởng rất cao, vì thế,
vấn đề việc làm của người dân Nhật cũng được đảm bảo. Bên cạnh đó, vấn đề bảo
hiểm y tế và phúc lợi xã hội cũng được quan tâm và đầu tư nhiều hơn. Cụ thể, vào
những năm sau 1945, nhà nước có sự quan tâm về y tế và phúc lợi xã hội cho những
người chịu hậu quả trực tiếp của chiến tranh và chính sách này được sự ủng hộ của
cộng đồng. Đến những năm 1959 – 1960 , bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm hưu trí đã
trở thành bắt buộc cho tất cả người Nhật. Từ đây bộ mặt xã hội Nhật đã có sự thay đổi
lớn, đặc biệt là tới giữa những năm 70, hệ thống y tế được nâng cấp và gần đạt đến
trình độ của Tây Âu. Lương hưu cũng được tăng nhiều và một chế độ chăm sóc y tế
không mất tiền cho người già trong cả nước ra đời.
Với vài nét về bối cảnh xã hội Nhật phần nào cho ta hiểu hơn về xã hội mà nhà
văn Kawabata đã sống và làm việc, để ta hiểu được giá trị của những đóng góp to lớn
của nhà văn cho sự phát triển của xã hội, đặc biệt là ở lĩnh vực văn học nghệ thuật.

1.2.2. Bối cảnh văn học
Văn học Nhật Bản hiện đại nói chung được các học giả Nhật Bản chia làm ba
hoặc bốn giai đoạn. Những học giả chấp nhận là ba giai đoạn thì xem các thời Duy
Tân Minh Trị (1868 – 1912), Taisho ( 1912- 1926) và Showa (từ năm 1926) là căn cứ
cơ bản; còn những học giả chủ trương bốn giai đoạn thì chia thời kì Showa ra thành
hai giai đoạn: trước 1945 và sau 1945.

14


Khoảng 15 – 20 năm đầu thời Minh Trị, văn đàn Nhật Bản đã mở rộng cửa đón

văn học và ngôn ngữ ở Anh, có vốn hiểu biết rộng về văn hóa phương Tây. Đồng thời,
ông còn tinh thông Thiền học và văn hóa cổ điển Trung Hoa. Trong nhiều tác phẩm,

“ông thường phân tích cái tôi, nói lên nỗi cô đơn của người trí thức trong một xã hội
15


tư sản mang nhiều tàn tích phong kiến, sự bế tắc của cá nhân và tư tưởng hoài
nghi”[10; tr.94]. Ông được xem là nhà văn mở đầu tiêu biểu cho văn học hiện đại
Nhật Bản. Ngoài ra, còn có Shimazaki Toson (1872 – 1943) cũng bắt đầu nổi tiếng từ
cuối thời Minh Trị. Dưới sự ảnh hưởng của phong trào cách mạng vô sản Nhật cuối

ướ
những năm 20, ông tiến gần quan điểm duy vật lịch sử, và cho ra đời tác phẩm Tr
Trướ
ướcc
khi tảng sáng (1929-1935), đây là tác phẩm mà ông viết về những đổi thay của xã hội
trong và sau cuộc canh tân Minh Trị qua câu chuyện gia đình mình.
Mỗi nhà văn ở giai đoạn này đều đạt được những thành công nhất định.
Tanizaki Yunichiro (1886 – 1965), được xem là cây bút xuất sắc viết về những xung
đột nội tâm giữa Đông và Tây. Akutagawa Ryunosuke (1892 – 1972), nhân vật văn
học nổi bật nhất trong mười lăm năm của thời đại Taisho. Ông thường lấy đề tài rất đa
dạng trong văn học cổ Nhật Bản và Trung Hoa, tác phẩm của ông trở về với nguồn gốc
truyền thống.
Trong số các nhà văn lớn nổi lên sau thập kỷ 1905 – 1915 phải kể đến
Kawabata Yasunari (1899 – 1972), nhà lý luận hàng đầu của trường phái “Tân cảm
giác”. Khác các nhà văn đương thời, ông có những quan điểm thẫm mỹ bắt nguồn từ
những truyền thống cũ. Sau chiến tranh thế giới thứ II, “tất cả những giá trị truyền

thống bị lung lay, riêng ông vẫn tha thiết bảo vệ rung cảm truyền thống và chống lại


thân cho thế hệ thanh niên Đại chiến II, hoang mang trước sự tan vỡ của các lý tưởng
truyền thống, phá các ước lệ đạo đức xã hội, tự hủy hoại những tình cảm thiêng liêng
nhất và đánh vào những người thân thương..”[10; tr.101]; hay Ibuse Masugi (sinh
năm 1898), vào nghề từ những năm 20. “Ông thích tìm cái vô lý và cái hài hước. Sau

chiến tranh, thái độ phê phán của ông rõ rệt hơn. Ông viết tác phẩm tiểu thuyết Mưa
đen (1965) trong tình trạng bứt rứt khi nghe tin quân Mỹ dồn dập vào Việt Nam.”[10;
tr.101] và cả Inowe Yashushi (sinh 1907), là nhà viết truyện ngắn và tiểu thuyết rất nổi
tiếng, đứng trong danh sách các nhà văn chọn dự giải Nobel. Các tác phẩm của ông
luôn thấm đượm chất thơ, miêu tả sự cô đơn của con người và chủ nghĩa hư vô của con
người hiện đại.
Cho đến thập niên 1950, một đặc điểm dễ phân biệt trong giới văn học Nhật
Bản là ấn hành các tạp chí của nhóm nhà văn cùng quan điểm. Đầu tiên là Kawabata
và Yokomitru Riichi, hai nhà văn này đều cùng trường phái “Tân cảm giác”, các tác
phẩm đầu tay của hai nhà văn được đăng trên tạp chí Bungei jidai (Văn nghệ thời đại,
1924 – 1927); hay tác phẩm của các nhà văn vô sản Kobayashi Takiji và Sata Ineko
được đăng trên tạp chí xuất bản định kỳ định hướng Marxist Senki (1928 – 1931).
Việc đăng tải tiểu thuyết trên nhiều tờ báo trở thành thông lệ phổ biến, và một số nhà
văn Nhật nổi tiếng như Natsume Soseki đến Nagai Kafu,… đến Kawabata Yasunari,
đều viết bài đăng báo. Những năm kế tiếp, là một bước ngoặt đánh dấu văn học trung
gian (tập trung vào những đề tài có thật hoặc chuyện có thật). Kể từ thập niên 70, các
bản dịch tác phẩm văn học Nhật Bản xuất hiện với số ngày càng tăng, các tác phẩm
hay nhất của Soseki, Ogai, Kafu, Akutagawa, Ryunosuke, Shiga, Tanizaki, Kawabata,
Ibuse Masuji, Dazai Osamu, Mishima Yukio,… đều có bản dịch bằng tiếng Anh. Cũng
vào những năm này, trong lĩnh vực “văn chương thuần túy”, các nhà văn nam nữ đều
17


có những băn khoăn tôn giáo, chính trị, xã hội, hoặc tìm hiểu văn minh Âu – Mỹ, để

Cuộc đời ông cứ mãi long đong, lận đận, sóng gió không ngừng. Những tưởng
“người ông” sẽ là niềm hy vọng, là niềm an ủi cuối cùng của tuổi thơ đau buồn cũng
vĩnh viễn ra đi, khi ấy ông chỉ vừa tròn mười lăm tuổi. Bấy giờ cũng là lúc cả thế giới
đang bước vào cuộc Đại chiến lần thứ nhất (1914 – 1918), tang tóc gia đình và họa
chiến tranh cùng ập đến, buộc ông phải sống tự lập ngay từ thời niên thiếu, cũng như
phải chịu nhiều đau thương, mất mát, những nỗi nhọc nhằn cay đắng trong cuộc sống.
Nhưng ông lại là người có nhiều ước mơ và hoài bão, ngay từ thời trung học, ông vẫn
mơ ước được vẽ tranh nên đã cùng những người bạn của mình sáng lập ra những tuần
san nhỏ, biên tập và viết bài, nuôi ước vọng trở thành họa sĩ. Cũng đúng vào tuổi mười

18


lăm này, ông cảm thấy mình có tài viết hơn là vẽ, nên đã quyết định chọn con đường
văn chương.
Sáu năm sau đó, tức năm 1920, ông ghi danh vào học văn khoa tại trường Đại
học Hoàng gia Tokyo. Ban đầu, ông theo học văn học Anh. Học được ít lâu, ông lại
nghĩ tuy học ngoại ngữ là rất cần thiết cho sự phát triển nhưng nếu không am hiểu văn
chương của dân tộc thì khó đạt được thành tựu trên đường nghệ thuật. Vì thế, ông
quyết định chuyển sang học văn học Nhật Bản. Ông còn cùng bạn bè ra tạp chí sinh
viên và viết bài phê bình cho các báo ở Tokyo. Cũng trong thời gian theo học này, ông
còn thể nghiệm khả năng viết ở các thể loại như: truyện ngắn, thơ, tùy bút,… và ở thể
loại nào thì ông cũng có sự say mê, yêu thích. Bên cạnh đó, ông và một số bạn văn trẻ
tuổi tiếp tục sáng lập ra tạp chí Trào lưu mới (Sinto). Vì vậy, có thể thấy rằng cuộc
sống thời sinh viên của ông khá là sôi động. Kết thúc quãng thời gian học đại học, ông
ra trường với đề tài tốt nghiệp về tiểu thuyết Nhật Bản vào năm 1924.
Sau khi tốt nghiệp Đại học, ông và các nhà văn trẻ như Yokomitsu Riichi, bị lôi
cuốn bởi văn học Pháp đương đại nhiều hơn là bởi tư tưởng Mác – xít và họ đã phát
triển một phong cách văn học mới được gọi một cách không chính xác là “Chủ nghĩa


ngủ
khách lang thang đi tìm cái đẹp”. Tác giả cũng đã từng nói là ông chưa bao giờ có thể
trút bỏ được nổi ám ảnh rằng mình là người lang thang, ưu sầu, cũng như luôn mơ
mộng, dẫu rằng ông chẳng bao giờ chìm đắm được hoàn toàn trong mơ mà vẫn luôn
thức giữa khi mơ.
Cuộc đời nhà văn có những bước chuyển mới kể từ năm 1948 đến năm 1965,
ông được bầu đảm nhiệm nhiều chức vụ có uy tín. Năm 1953, nhà văn trở thành thành
viên của Viện Hàn lâm nghệ thuật. Sáu năm sau đó (1959), ông được tặng Huân
chương mang tên Goethe tại Frankful. Sau năm 1959, ông là phó Chủ tịch Hội văn bút
Quốc tế. Cũng trong suốt 17 năm kể trên, ông còn giữ chức vụ Chủ tịch Hội văn bút
Nhật Bản.
Đến năm 1968, ông được nhận giải thưởng Nobel về văn học. Nhưng chỉ bốn
năm sau đó, nhằm ngày 14 tháng 04 năm 1972, nhà văn tự tử trong căn phòng đầy khí
gas bên bờ biển Kamakura – Kamakura cũng là nơi ở của gia đình nhân vật Singô
Ôgata trong tiểu thuyết Ti
Tiếếng rền của núi.
1.3.2. Văn nghi
nghiệệp
Sự nghiệp sáng tác của tác giả thật phong phú và hầu như thành công ở tất cả
các thể loại mà ông thử nghiệm. Ở tuổi mười lăm, ông cho ra đời tác phẩm Nh
Nhậật ký

tu
tuổổi mườ
ườii sáu – tác phẩm khởi đầu cho sự nghiệp sáng tác của một nhà văn lớn. Tác
phẩm được tác giả viết bên cạnh giường bệnh của ông mình, đó là những ngày cuối
cùng mù lòa của người ông, cũng như cuộc sống cô đơn, buồn bã của một cậu thiếu
niên đã sớm ý thức được những mất mát lớn lao, những điều bất hạnh trong cuộc
sống,… tất cả những điều đó được ghi lại một cách chân thực trong cuốn nhật kí, về
sau được xuất bản cũng với tên gọi trên. Bên cạnh đó, những tác phẩm thuộc thể loại

như: Đá lăn (Suberi – iwa, năm 1925), nhân vật trong truyện này đến một nơi nghỉ có
suối nước nóng, nơi mà trước kia thường có một nét đặc biệt là có một cây thông được
coi là có thể ban khả năng sinh đẻ cho những người phụ nữ không con. Cây thông đã
bị chặt, để tìm lại nó ông ta hỏi người thợ cắt tóc địa phương, những ai đã lớn lên ở

ng mặt ng
ườ
vùng này; Gươ
ương
ngườ
ườii ch
chếết (Shinigao no Dekigoto, năm 1925), người chồng trở
về nhà sau một chuyến đi dài ngày, gặp lại người vợ – người mà anh ta ít quan tâm đến,
đã qua đời trong khi anh ta vắng nhà. Cái chết của cô vợ là cái chết đau buồn vì chồng
đã không ở bên giường bệnh của cô, và nỗi đau buồn vẫn còn đọng lại trên gương mặt
của cô sau khi chết; hay Đô
Đôii gi
giàày mùa hè (Natsu no Kutsu, năm 1926); Lời cầu

nguy
nguyệện của cô gái (Shojo no Inori, năm 1926); Hoa loa kèn (Yuri, năm 19270); Ch
Chếết
trong nh
nhàà ti
tiêêu (Setchin Jobutsu, năm 1929); Qu
Quầần áo của em gái (Imoto no Kimono,
năm 1932),…
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã từng tiếp nhận văn chương phương
tây một cách nồng nhiệt, và đôi lúc ông cũng đã bắt chước nó, nhưng ông lại là một
người phương đông nên trong suốt mười lăm năm qua ông chưa từng đánh mất đi

Đến năm 1968, nhà văn được trao tặng giải thưởng Nobel về văn học cho ba
tiểu thuyết: Xứ tuy
tuyếết, Ng
Ngààn cách hạc, Cố đô
đô. Và trong lời giới thiệu giải Nobel văn
học năm 1968 của Viện Hàn lâm Thụy Điển, Kawabata là nhà văn Nhật Bản đầu tiên
nhận giải Nobel văn học vì “Với tư cách nhà văn, ông đã truyền đạt một nhận thức

văn hóa có tính thẩm mỹ và đạo đức cao bằng một phong cách nghệ thuật độc đáo, do
đó đóng góp vào cầu nối tinh thần Đông – Tây theo cách của ông”. Và lời ca ngợi
“ ông là người tôn vinh cái đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn của hiện hữu trong đời sống
thiên nhiên và trong định mệnh con người”(diễn văn của tiến sĩ Anders Usterling
trong lễ trao giải).
Nếu như ở Việt Nam vào những năm 1935 – 1939, có cuộc tranh luận gay gắt
giữa hai trường phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”, với đại diện là Hoài Thanh và trường
phái “nghệ thuật vị nhân sinh”, với đại diện là Hải Triều, thì ở Nhật Bản, ở giai đoạn
đầu thời Chiêu Hòa đến năm kết thúc thế chiến thứ hai, văn đàn Nhật Bản cũng chứng
kiến cuộc tranh luận giữa hai dòng văn học chính, đó là văn học vô sản, với đại diện là
Tokunaga Shunao, Kobayashi Takiji và trường phái Tân cảm giác, mà Kawabata
Yasunari là một trong số những người đại diện. Kawabata có bài tiểu luận Lu
Luậận gi
giảải

ng mới của các nh
về khuynh hướ
ướng
nhàà văn mới, nền tảng lý lu
luậận của cách bi
biểểu đạ
đạtt theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status