BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRỊNH ĐÌNH LƯƠNG
TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRỊNH ĐÌNH LƯƠNG
TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đăng Điệp
HÀ NỘI, 2016
2.3.2 Thiên nhiên thơ mộng, trữ tình .............................................................. 64
2.3.3 Thiên nhiên trong cuộc sống của con người .......................................... 67
Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 73
Chương 3. NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI VÀ BẢN SẮC
VĂN HÓA TRONG TRUYỆN NGẮN CAO DUY SƠN........................... 74
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật .................................................................. 74
3.1.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật ................................................ 74
3.1.2 Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật ..................................................... 81
3.2. Nghệ thuật miêu tả đối lập ....................................................................... 87
3.2.1 Sự đối lập giữa cái xấu và cái đẹp ......................................................... 87
3.2.2 Sự đối lập giữa cái thiện và cái ác......................................................... 94
3.3. Ngôn ngữ nghệ thuật .............................................................................. 101
3.3.1 Ngôn ngữ giàu hình ảnh....................................................................... 101
3.3.2 Vận dụng lối nói so sánh, liên tưởng độc đáo ..................................... 105
3.3.3 Sử dụng ngôn ngữ Tày trong tác phẩm ................................................ 108
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 111
KẾT LUẬN .................................................................................................. 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 116
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới
PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp - người thầy trực tiếp hướng dẫn, tận tâm dìu dắt,
chỉ bảo tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Lí luận văn học, các
thầy cô giáo khoa Ngữ văn, các thầy cô Phòng Sau đại học Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu.
Trịnh Đình Lương
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nhắc đến mảng đề tài dân tộc và miền núi, ngoài những cái tên đã
trở nên quen thuộc với bạn đọc như Tô Hoài, Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng,
Trung Trung Đỉnh,... thì Cao Duy Sơn cũng là một tên tuổi khá nổi bật trong
nền văn học Việt Nam. Để làm nên thành công đó, trong những trang viết của
ông luôn thấm đẫm bản sắc văn hóa của dân tộc Tày ở Cao Bằng. Nó là yếu tố
làm nên bản sắc riêng trong sáng tác của Cao Duy Sơn so với các nhà văn
khác. Có lần nhà văn đã tâm sự: “Tôi sinh ra và lớn lên ở thị trấn Cô Sầu
(huyện Trùng Khánh, Cao Bằng). Đó là một thị trấn cổ rất nổi tiếng. Nghiệp
văn chương của tôi cứ bám lấy thị trấn Cô Sầu mà khám phá, viết mãi vẫn
chưa thấy đủ, chưa thấy thấu cái tầng sâu văn hoá tiềm ẩn ở vùng đất này.
Tôi viết như một sự trả nợ, trả nợ quê hương, trả nợ những người đã sinh ra
mình, bè bạn, xóm giềng... Cả đời tôi, sẽ vẫn là những cuộc khám phá về Cô
Sầu với những con người miền núi chân chất.” [18, 1]. Như vậy, có thể nói
tình yêu và bản sắc văn hóa độc đáo của mảnh đất Cô Sầu đã ngấm vào máu
thịt của Cao Duy Sơn để mỗi trang viết của ông luôn chứa đựng một chiều sâu
văn hóa lớn khiến người đọc bị lôi cuốn và thích thú khi tìm hiểu về nó.
1.2. Văn học và văn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau, văn học
chính là sự tự ý thức của văn hóa. Văn học chẳng những là một bộ phận của
văn hóa, chịu sự chi phối, ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một
trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa. Do vậy, khi nghiên cứu
văn học, chúng ta có thể nghiên cứu theo hướng văn hóa học. Đây là một
trong những khuynh hướng nghiên cứu đang diễn ra khá sôi động trên thế giới
và ở Việt Nam. Điều này đã tạo điều kiện cho việc khám phá văn học trở nên
phong phú và linh hoạt hơn, nhiều chân trời mới của văn học được mở ra.
Tác giả Phan Chinh An trong bài viết Đi tìm vẻ đẹp của hoài niệm cũng
3
đề cập tới tập truyện ngắn. Ông cho rằng với tập truyện ngắn này, Cao Duy
Sơn đã “thực hiện một cuộc hành hương tinh thần tìm về những vẻ đẹp xưa
của núi Phja Phủ, của lũng Cô Sầu với ước mơ cháy bỏng “giới thiệu được
vùng quê nghèo khó ấy, ghi danh nó trong văn học”. Đến với Ngôi nhà xưa
bên suối, người đọc sẽ được “làm quen với những địa danh xa lạ như suối
Cun, Páo Lò, Âu Lâm, bản Niểng, Nhòm Nhèm, Háng Vài, Pác Gà, Cổ Lâu...
cảm nhận không khí, hương vị miền núi “rất Tày”. Cái không khí, hương vị
rất riêng ấy trước tiên lan tỏa trong nhiều tập tục tốt đẹp”, sau đó là ở “vẻ
đẹp tâm hồn và tính cách con người dân tộc Tày” [2].
Tiếp theo, có rất nhiều tác giả đã bày tỏ cảm xúc, ý kiến của mình về
nội dung trong các sáng tác của Cao Duy Sơn. Nhà văn Trung Trung Đỉnh
không giấu giếm được cảm xúc của mình khi đọc những truyện ngắn đầu tiên
của Cao Duy Sơn. Điều khiến ông nhớ mãi trong các tác phẩm ấy chính là
“cái không khí miền núi vừa mơ mơ màng màng lại vừa sâu hun hút bởi vẻ
đẹp của thiên nhiên quyến rũ con người ta, lôi kéo con người ta, nâng đỡ con
người ta từ chốn thâm nghiêm huyền bí của rừng già, hang thẳm, đến khi trở
về với cuộc sống tự nhiên, hồn nhiên của cộng đồng… Văn Cao Duy Sơn giàu
hình ảnh, giàu chất say của người say thiên nhiên” [35, 486]. Theo tác giả,
cái không khí miền núi này đã phần nào góp phần không nhỏ vào việc thể
hiện bản sắc dân tộc trong sáng tác của nhà văn.
Trong Luận văn Thạc sĩ Truyện ngắn về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc
(qua các tác phẩm của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Huy Thiệp),
Nguyễn Minh Trường đã đi sâu tìm hiểu hình tượng cuộc sống và con người
trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn. Tác giả đã khẳng định: Với phong cách
riêng biệt, truyện ngắn Cao Duy Sơn “đã tạo nên những bức tranh sinh động,
phong phú về cuộc sống kì thú nơi thế giới sơn lâm..” [68].
“đều là những mảnh vụn đời tư với tất cả cái dở dang, bề bộn, phồn tạp của
5
cuộc đời”... Với những thăng trầm ở mọi thân phận, các nhân vật của Cao Duy
Sơn thiên về loại nhân vật số phận hơn là nhân vật tính cách, tuy là nhà văn vẫn
có ý thức tạo cho mỗi nhân vật một nét cá tính và ngôn ngữ riêng” [31, 115].
Còn tác giả Đinh Thị Minh Hảo trong Luận văn Thạc sĩ Đặc Điểm
truyện ngắn Cao Duy Sơn đã chỉ ra được một thế giới nhân vật “phân cực”
mà Cao Duy Sơn dựng lên trong sáng tác của mình. Tác giả luận văn khẳng
định: Đó là “một thế giới “phân cực” thiện - ác đối kháng và một kết thúc có
hậu. Trong thế giới ấy các nhân vật chính diện đẹp từ ngoại hình đến tâm
hồn. Các nhân vật phản diện lại xấu xa về nhân cách và dị dạng méo mó về
ngoại hình” [10].
Khi bàn về giọng điệu nghệ thuật trong các sáng tác của Cao Duy Sơn,
Lý Thị Thu Phương đã nhận xét: “Cái nhìn và giọng điệu Cao Duy Sơn vừa
chân thành, mộc mạc, vừa ấm áp, trữ tình” [39, 101]. Tác giả nhận ra giọng
điệu khẳng định ngợi ca qua các tập truyện của nhà văn, các nhân vật của ông
thường được miêu tả đẹp về tâm hồn, ứng xử, đặc biệt là vẻ đẹp nhân cách.
Bên cạnh đó, tác giả Đào Thủy Nguyên cũng đề cập đến vấn đề giọng
điệu: “Giọng văn trần thuật của Cao Duy Sơn thực sự gieo vui khi kể về
phong tục tập quán của dận tộc mình”... “Bên cạnh giọng điệu ngợi ca tự
hào, giọng điệu xót xa thương cảm cũng là biểu hiện của tình yêu quê hương
xứ sở. Yêu đất mẹ bao nhiêu, Cao Duy Sơn càng xót xa bấy nhiêu trước thực
trạng quê hương còn nhiều chua xót…” [33, 49]. Như vậy, tác giả đã chỉ ra
hai biểu hiện của giọng điệu trong truyện ngắn Cao Duy Sơn là giọng điệu
ngợi ca tự hào và giọng điệu xót xa thương cảm.
Về ngôn ngữ nghệ thuật, trong bài Ban mai có một giọt sương, Đỗ Đức
đã tập trung nói về tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối. Tác giả nhận xét:
“Văn trong tập này của Cao Duy Sơn... không cầu kì, thoáng đọc còn cảm
mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và một số phương diện nghệ thuật thể hiện
7
bản sắc dân tộc trong sáng tác của Cao Duy Sơn.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp các khái niệm về văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
- Tìm hiểu các dấu ấn văn hóa trong truyện ngắn Cao Duy Sơn để đưa
ra một cái nhìn mới, khám phá mới, từ đó khẳng định giá trị văn hóa, giá trị
nghệ thuật cũng như đóng góp của nhà văn cho văn xuôi dân tộc thiểu số Việt
Nam nói riêng và cho nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện luận văn chúng tôi không khảo sát toàn bộ sáng tác của Cao
Duy Sơn mà tập trung vào truyện ngắn của ông. Trong quá trình tìm hiểu,
người viết đi sâu vào những yếu tố văn hóa, phương diện văn hóa để làm nổi
bật hướng nghiên cứu văn hóa học.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát của luận văn là các tập truyện ngắn của nhà văn Cao
Duy Sơn: Những đám mây hình người (2002); Những chuyện ở lũng Cô Sầu
(2003); Ngôi nhà xưa bên suối (2008); Hoa bay cuối trời (2008) trong mối
liên hệ với các hiện tượng văn hóa, văn học khác ngoài nó. Trong trường hợp
cần thiết, chúng tôi so sánh với các sáng tác khác của nhà văn cũng như một
số tác giả khác.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài chúng tôi thực hiện đồng bộ các phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận văn hóa học: Văn hóa học hình thành trên vùng
tiếp giáp của các tri thức xã hội, nhân văn về con người và xã hội. Nghiên cứu
văn hóa như một chỉnh thể toàn vẹn với một phạm vi rộng khắp, trong đó văn
hóa học văn học nghệ thuật như một tiểu hệ thống. Từ cái nhìn văn hóa, chúng
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA
VÀ VÀI NÉT VỀ NHÀ VĂN CAO DUY SƠN
1.1. Khái niệm về văn hóa
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng lớn với rất nhiều cách
hiểu khác nhau, nó liên quan đến mọi mặt của đời sống vật chất và tinh thần
của con người. Văn hóa giữ một vị trí quan trọng trong quá trình đi lên của
bất cứ quốc gia, dân tộc nào. Do vậy mà UNESCO đã nhận định “văn hóa là
cội nguồn trực tiếp của phát triển xã hội, có vị trí trung tâm và đóng vai trò
điều tiết xã hội” [32].
Đã có hàng trăm bài viết, công trình nghiên cứu luận bàn về khái niệm
và định nghĩa về văn hoá, nhưng cho đến nay, người ta vẫn chưa đưa ra được
một khái niệm chung nhất. Hiện nay có hơn 300 định nghĩa về văn hóa và
dường như theo xu hướng phát triển của xã hội thì khái niệm này còn phát
triển và được bổ sung nhiều hơn nữa.
Theo Từ điển tiếng Việt, “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; là
những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu của đời sống tinh
thần (tổng quát); là những kiến thức, tri thức khoa học (nói khái quát); là
trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; là nền văn hóa
của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những
di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau.” [59, 1406]
Cựu Tổng giám đốc Unessco Federico Mayor có đưa ra định nghĩa về
văn hoá: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách tổng quát mọi mặt của
cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng
như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ
10
thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân
quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh bao quanh con người, tồn tại hữu
thức và cả vô thức trong mỗi chúng ta. Ngay cả những khía cạnh nhỏ nhất
của cuộc sống cũng mang dấu hiệu văn hóa. Tất cả những yếu tố thuộc về
con người, mang dấu ấn của con người đều là văn hóa. Bất kỳ một lĩnh vực
nào cũng nằm trong văn hóa.
1.2. Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
Có thể thấy văn học là nghệ thuật dùng ngôn từ, hình tượng để thể hiện
đời sống và xã hội con người. “Văn học ở thời nào cũng phải đặt trong cấu
trúc tổng thể của văn hoá, nhưng ở ta xem xét văn học và tiếp cận văn học từ
góc độ văn hóa hiện nay vẫn là vấn đề hết sức mới mẻ. Trước đây, văn học và
văn hóa bị xem xét một cách biệt lập do người ta quan niệm văn học có đặc
trưng loại biệt. Bây giờ đặc trưng loại biệt không phải là không còn, nhưng
trong nhiều cách tiếp cận thì cách tiếp cận văn học từ góc độ văn hoá đang
cho thấy đây là một hướng tiếp cận có hiệu quả. Cách tiếp cận này xem văn
học như một thành tố trong cấu trúc của tổng thể văn hóa, nó truyền tải, lưu
giữ được những giá trị văn hoá” [62, 3]. Trong lịch sử văn học của bất cứ
quốc gia nào cũng tồn tại mối quan hệ giữa văn hóa và văn học. Đó là một
mối quan hệ hai chiều khăng khít không thể tách rời. Ở đây chúng tôi muốn
khẳng định thêm một lần nữa mối quan hệ đó, để có thể thấy hướng tiếp cận
tác phẩm văn học từ góc nhìn văn hóa là cần thiết.
Có một thời kì văn hóa, văn học được đặt ở vị trí ngang bằng, “được
coi là quan hệ tương hỗ”, tức là nghiên cứu văn hóa thì dùng văn học làm tư
liệu, còn nghiên cứu văn học lại dùng văn hóa để soi chiếu. Gần đây, sau khi
Unesco phát động những thập kỷ phát triển văn hóa cùng với thay đổi nhận
thức văn hóa, các công trình của M.Bakhtin được giới thiệu, các nhà nghiên
cứu đã thống nhất văn hóa là nhân tố chi phối văn học. Văn hóa trở thành một
12
hướng nghiên cứu hiệu quả. Đã có một số tác giả đi theo hướng nghiên cứu
yếu tố văn hóa được đưa vào văn học, làm đề tài cho văn học, bảo lưu trong
văn học. Mặt khác, văn học lại lý giải các giá trị văn hoá, đồng thời bảo lưu
chúng trong trường kỳ lịch sử. Nhờ vậy mà nhiều giá trị văn hóa đã chiến
thắng được thời gian đến tận bây giờ.
Văn hoá thời kỳ phong kiến cũng được phản ánh sâu sắc qua các sáng
tác văn học. Chúng ta có thể thấy được hào quang của các triều đại phong
kiến qua các tác phẩm văn học, thấy được lịch sử qua các trang sách, thấy
được cha ông ta đã sống ra sao, chiến đấu thế nào… trong hàng nghìn năm
dựng nước và giữ nước. Qua văn học, chúng ta có thể thấy được bức tranh
văn hóa của dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử. Tuy nhiên, văn học không thể
phản ánh trực tiếp được văn hoá: “...mà chỉ có thể phản ánh thông qua “lăng
kính” văn hóa, thông qua “bộ lọc” của các giá trị văn hóa. Nhờ thế mà tránh
được sự phản ánh “gương”, phản ánh một cách trần trụi. Và, có lẽ, cũng nhờ
thế mà tạo cho văn học một lối phản ánh đặc trưng, phản ánh như người ta
nói, có nghệ thuật” [62, 3].
Có người cho rằng, chúng ta có thể tìm thấy văn hóa qua sử sách, thậm
chí còn rõ hơn văn học. Chúng ta có thể biết người xưa ăn gì, mặc gì, sinh hoạt
ra sao một cách cụ thể. Đây là điều không cần bàn cãi nhưng cũng chỉ là một
phần, bởi khái niệm văn hóa có nội hàm rất rộng. Sử học có thể tái hiện được
những giá trị văn hóa cụ thể nhưng còn những giá trị phi vật chất. Đó là điều
khó có thể dựng lại được nếu chỉ qua một mảnh gốm, một lưỡi cày hay lưỡi
cuốc. Chẳng hạn như tinh thần yêu nước, tư tưởng nhân đạo. Đó là những
truyền thống văn hóa quý giá chỉ có thể thấy được rõ nhất qua hình tượng nghệ
thuật văn học. Đó là khả năng phản ánh tuyệt vời của văn học nếu chỉ miêu tả
bằng ngôn ngữ thông thường khó có thể thuyết phục được. Mặt khác, có những
yếu tố văn hóa từ lâu đã không còn nữa, thời gian đã xoá nhoà nó đi mà sử học
14
cũng không sao tạo dựng lại được, lúc đó họ phải tìm đến các tác phẩm văn
những yếu tố tinh thần. Những yếu tố tinh thần này không những thuộc về ý
thức, còn thuộc về vô thức. Ở đây người viết muốn nhắc tới Tâm phân học
của C. G. Jung. Ông đã tự tìm cho mình một hướng đi riêng khi chia vô thức
con người thành ba tầng:
- Ý thức là phần nhô lên trên mặt nước của hòn đảo.
- Phần chìm dưới nước là vô thức cá thể.
- Cắm sâu dưới đáy biển là vô thức tập thể.
Ông cho rằng vô thức tập thể là những yếu tố ẩn sâu trong tâm lý con
người, do những dấu ấn nguyên thủy của cộng đồng chi phối. Như đã nói ở
trên, những gì thuộc về con người đều là dấu ấn văn hóa. Bởi vậy khi tìm hiểu
văn học theo hướng này, chúng ta cũng không thể không khảo sát tới các yếu tố
tâm lý thuộc về vô thức. Không chỉ vậy, mối quan hệ giữa văn hóa và văn học
còn thể hiện ở khả năng điều chỉnh văn hóa của văn học. Có thể nói, văn hóa
phát triển theo từng thời kỳ lịch sử. Ở đó có những giá trị vẫn trường tồn, có
những giá trị đã mất đi hay gần bị mất đi. Đó là sự “thanh lọc” của thời gian.
Thời gian lưu lại những gì đẹp đẽ và “phủ bụi” lên những gì không còn phù
hợp. Sự “thanh lọc” ấy một phần nhờ vào vai trò của văn học. Chẳng hạn như
tác phẩm Vang bóng một thời của tác giả Nguyễn Tuân. Trước những cách
sống đẹp, tao nhã như uống trà, thưởng hoa, thả thơ… đang dần mất đi cùng sự
suy tàn của triều đại phong kiến, nhà văn đã dùng văn học để bảo lưu nó. Như
vậy, những nét văn hóa đó sống cùng tác phẩm của ông để nhắc nhở chúng ta
về một thời quá khứ vàng son, sống mãi cùng tâm thức người Việt. Một tác
phẩm được đánh giá là “kỳ thư” như Tôtem sói (Khương Nhung) cũng thể hiện
rất rõ điều này. Có lẽ với nhiều nước trên thế giới thì văn hóa du mục và loài
sói thảo nguyên vẫn còn rất xa lạ. Chúng ta không biết rằng nền văn hóa đó
đang dần bị biến mất bởi sự phát triển của đô thị, của khoa học hiện đại. Tác
16
giả Khương Nhung bằng tác phẩm của mình đã giới thiệu cho bạn đọc thế giới
thức tác phẩm văn học. Chẳng hạn như việc nghiên cứu “cổ mẫu” (Archetype)
là hướng nghiên cứu tập trung vào những biểu tượng văn hóa ảnh hưởng trong
vô thức cộng đồng xuất hiện trong sáng tác văn học. Mục đính của thao tác này
như C.G. Jung đã từng tuyên bố: “Nỗi buồn sáng tạo dẫn đưa nghệ sĩ đi vào bề
sâu cho tới khi nó tìm thấy trong vô thức mình cái nguyên tượng có khả năng
bù đắp lại cao nhất sự tổn thất và què quặt của tinh thần hiện đại” [21]. Nói
cách khác, việc tìm hiểu cổ mẫu chính là tìm về cõi vô thức nơi động lực thôi
thúc nhà văn viết và ảnh hưởng của nó tới việc xây dựng tác phẩm thông qua
những biểu tượng văn hóa. Hay hướng nghiên cứu thi pháp đối thoại kiểu
Bakhtin cũng nhằm khám phá bề sâu tác phẩm trong mối quan hệ đối thoại
với các văn bản khác trong đó có văn bản văn hóa. Ở đây người viết muốn
nhấn mạnh thêm một vấn đề: đấy chính là quan niệm của văn học đương đại
coi văn bản không đơn thuần là một quyển sách hay tờ giấy cụ thể nữa mà còn
bao gồm những gì thuộc về ý thức, tinh thần. Nói như vậy văn hóa cũng được
coi là một văn bản mà văn học trong tính đối thoại của nó cần có mối quan hệ
chặt chẽ để nhằm kêu gọi tối đa ý nghĩa. Tính đối thoại này trong biểu hiện
của nó cũng ảnh hướng tới việc xây dựng, kết cấu tác phẩm.
Thứ hai, nghiên cứu mối quan hệ văn học với các truyền thống văn hóa,
chẳng hạn văn học với Nho học, Đạo học, Phật học, văn hóa với thi ca, văn
hóa với tư duy tiểu thuyết, sinh thái tinh thần với thể loại phóng sự… Mối
quan hệ văn học với chính trị được nghiên cứu dưới góc độ văn học với văn
hóa chính trị, văn học với các thiết chế văn học như nghị quyết về văn học,
phê bình văn học, tổ chức văn học, báo chí… Hướng nghiên cứu này tập
trung việc đưa văn học vào môi trường văn hóa với những phong tục, tập
quán, tư tưởng, tín ngưỡng… Từ xưa đến nay văn học cũng như tác giả luôn
đứng trong một nền văn hóa nào đấy, theo đuổi hay chịu ảnh hưởng của một
18
vài học thuyết, tư tưởng. Cho nên khi khám phá văn bản, chúng ta cũng phải
tài của mình. Thêm vào đó trong quá trình vận dụng lý thuyết để nghiên cứu
đối tượng của mình, chúng tôi sẽ cố gắng áp dụng một cách linh hoạt nhất,
sao cho phù hợp với đối tượng mà mình đang tìm hiểu.
1.4 Đôi nét về văn hóa dân tộc Tày ở Cao Bằng
Dân tộc Tày có khoảng 1.500.000 người, đông nhất trong các dân tộc
thiểu số nước ta, là một cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Dân tộc
Tày còn có tên gọi khác là Thổ và bao gồm cả các nhóm: Ngạn, Phén, Thu
Lao, Pa Dí. Phần đông người Tày cư trú ven các thung lũng, triền núi thấp ở
các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lào Cai, Quảng Ninh
và một số vùng thuộc Bắc Giang vv... Người Tày có một nền nông nghiệp cổ
truyền khá phát triển với đủ loại cây trồng như lúa, ngô, khoai... và rau quả
mùa nào thức đó.
Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối. Tên bản thường
gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông. Mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc
nhà. Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ. Gia đình người Tày thường quí con trai
hơn và có qui định rõ ràng trong quan hệ giữa các thành viên trong nhà. Vợ
chồng yêu thương nhau, ít ly hôn. Đã từ lâu không còn tục ở rể.
Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ tôn giáo hàng đầu của người Tày. Nơi thờ tổ
tiên chiếm vị trí trung tâm, tôn nghiêm nhất trong nhà. Chiếc giường trước
bàn thờ để không, khách lạ không được ngồi, nằm lên đó. Ngoài ra, có những
điều kiêng kị như không đặt chân lên khúc củi đang cháy trong bếp lửa hay
đặt chân lên thành bếp. Những người đi đám ma về chưa tắm rửa sạch sẽ
không được nhìn vào gia súc, gia cầm.
Nhà ở của người Tày Cao Bằng Những thường là nhà sàn, nhà đất mái
lợp cỏ gianh và một số vùng giáp biên giới có loại nhà phòng thủ. Trong nhà
phân biệt phòng nam ở ngoài, nữ ở trong buồng. Phổ biến là loại nhà đất 3