QUAN HỆ THẦY-TRÒ VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY-HỌC Ở ĐẠI HỌC TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ - Pdf 21

QUAN HỆ THẦY-TRÒ VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY-HỌC
Ở ĐẠI HỌC TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ

GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm
(Đại học KHXH & NV - ĐHQG Tp. HCM)

TÓM TẮT
Bài viết bàn về mối quan hệ giữa người dạy và người học và phương pháp
dạy-học ở đại học từ góc nhìn văn hoá.
Về mối quan hệ giữa người dạy và người học, với cái nhìn lịch sử văn hoá, tác
giả đã chỉ ra rằng cái gọi là phương pháp "lấy trò làm trung tâm" không phải là
mới mẻ gì, nó đã có mặt ngay từ khi con người mới hình thành. Trong quá trình
phát triển giáo dục, tuỳ nơi, tuỳ lúc mà phương pháp Trò-trung-tâm hay Thầy-
trung-tâm có thể chiếm ưu thế. Mỗi phương pháp có những ưu và nhược điểm
riêng, không thể nói phương pháp nào hay hơn phương pháp nào. Và trong giai
đoạn hiện đại, cách tốt nhất là kết hợp cả hai phương pháp.
Sự kết hợp này đã được tác giả cụ thể hoá trong phần về phương pháp hoạt
động dạy và học của Thầy và Trò qua mô hình giao tiếp Thầy-Trò như một cuộc
đối thoại. Để cuộc đối thoại này phát huy tác dụng, điều quan trọng là cần chú ý
đến cái cách mà sinh viên tiếp thu thông tin. Kênh thông tin mà sinh viên có khả
năng tiếp thu nhiều nhất là kênh thị giác, trong khi phương pháp thuyết giảng chay
lâu nay lại chỉ sử dụng thính giác và xúc giác.
1. Vấn đề
Trong những cố gắng nâng cao chất lượng đào tạo đại học, những năm gần
đây thịnh hành khuynh hướng phê phán phương pháp giảng dạy phổ biến lâu nay
được gọi là phương pháp lấy Thầy làm trung tâm (teacher-centered) và tích cực cổ
động cho phương pháp lấy Trò làm trung tâm (student-centered). Lấy Thầy làm
trung tâm được hiểu là thầy đóng vai trò chủ động trong quá trình đào tạo; thầy
giảng, trò nghe. Lấy Trò làm trung tâm là trò đóng vai trò chủ động trong việc đi
tìm kiến thức; trò hỏi, thầy trả lời; hoặc trò tự nghiên cứu, thầy đóng vai trò cố vấn.
Phương pháp THẦY-trung-tâm được xem là phương pháp cổ điển, lỗi thời;

Hai phương pháp này, mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm
riêng (xem bảng 1).
PP ƯU ĐIỂM NHƯỢC ĐIỂM
TRÒ-
trung-
tâm
- Cá nhân hóa cao
- Hiểu sâu, nhớ lâu
- Việc học hấp dẫn
- Dễ kích thích óc sáng tạo
- Cách thức đào tạo linh
hoạt
- Không đào tạo được đồng loạt
- Tốn nhiều thời gian
- Lượng kiến thức ít
- Kiến thức không có tính hệ
thống
- Không có quy trình đào tạo ổn
định
THẦY-
trung-
tâm
- Đào tạo được đồng loạt
- Tốn ít thời gian
- Lượng kiến thức nhiều
- Kiến thức có hệ thống
- Chủ động quy trình đào
tạo
- Ít quan tâm được tới từng cá
nhân

là quan trọng (thời giờ là cao su). Tuy dân số trong mỗi nhà thì nhiều (nhu cầu
đông con), nhưng trong một làng thì lại ít, vì vậy không có nhu cầu phải đào tạo
nhanh gấp và đồng loạt. Kết quả học phụ thuộc vào năng lực học và dạy của trò
và thầy, chứ không phụ thuộc vào thời gian và quy trình đào tạo. Bởi vậy, đời
Trần mới có Nguyễn Hiền nhờ tự học mà mới l2 tuổi đã thi đỗ trạng nguyên.
Sống ổn định lâu dài với nhau, người ta coi trọng nội dung hơn hình thức,
chất lượng hơn số lượng, hiệu quả hơn thời gian. Dân trong làng không đông nên
lớp học chỉ vài ba người. Cho nên có điều kiện để cá nhân hoá nội dung và quá
trình đào tạo. Bởi vậy, mới có cách đào tạo kiểu Phật giáo Thiền tông với chủ
trương vô ngôn, mỗi trò phải tự mình nghiền ngẫm để tìm ra chân lý.
Cho nên trong gần suốt lịch sử, ở phương Đông, phương pháp TRÒ-trung-tâm
luôn giữ vai trò chủ đạo. Phương pháp THẦY-trung-tâm chỉ mới được biết đến từ
khi phương Đông tiếp xúc với phương Tây và thực sự lên ngôi từ khi các quốc gia
phương Đông tiếp thu và chuyển sang hệ thống "Tây học", tức là từ khoảng cuối
tk. XIX - đầu tk. XX.
5. Phương Tây và phương pháp THẦY-trung-tâm
Văn hoá phương Tây (đúng hơn là tây-bắc) hình thành ở xứ lạnh khô, nơi mà
thực vật cực kỳ nghèo nàn, trên cơ sở một nền kinh tế từ săn bắt chuyển sang
chăn nuôi du mục, sau này chuyển sang thương mại và công nghiệp sống trong đô
thị. Người du mục chỉ tập trung tâm trí vào một việc là lo cho đàn gia súc nên đã
hình thành một lối tư duy phân tích, và do phải luôn di chuyển nên cộng đồng
phải được tổ chức chặt chẽ, tạo nên một lối ứng xử nguyên tắc.
Do truyền thống tư duy phân tích nên khối lượng kiến thức luôn được chia
nhỏ và tăng lên rất nhanh. Do lối ứng xử nguyên tắc nên trong mọi việc đều tuân
theo những quy trình chặt chẽ, bài bản. Bởi vậy mà phương Tây đã sáng tạo ra
một hệ thống các khoa học với vô số bộ môn. Một hệ thống giáo dục với nhiều
cấp, nhiều lớp, nhiều môn học chi li và tách biệt. Sự linh hoạt của phương Tây,
nếu có, cũng là linh hoạt trong khuôn khổ nguyên tắc: hệ thống giáo dục theo tín
chỉ chỉ cho phép linh hoạt lắp ghép theo những mô-đun đã dự tính trước.
Do cuộc sống thường xuyên di chuyển, công việc tiếp nối liên tục nên thời

- Về mặt quy mô tuyển sinh thì phần lớn các trường (cả công lập, bán công và
dân lập) đều tìm cách khai thác hệ này hệ khác để tuyển sao cho được thật nhiều
sinh viên để có nguồn kinh phí dồi dào. Đó là NHIỀU.
- Về tổ chức đào tạo thì nhiều nơi có hiện tượng dồn ghép lớp quá đông để tiết
kiệm giảng đường, tiết kiệm thầy. Đó là RẺ.
Khuynh hướng nhanh, nhiều, rẻ bộc lộ không chỉ từ phía cơ sở đào tạo mà cả
từ phía người được đào tạo: Khi chọn trường, thí sinh có khuynh hướng lựa chọn
những trường, ngành nào có thời gian đào tạo nhanh (để chóng ra trường) và học
phí thấp (rẻ); trong thời gian học thì lại tranh thủ học thêm ở nhiều trường, chạy
"sô" để kiếm nhiều bằng!
Ông cha ta xưa coi một kho vàng không bằng một nang chữ mà con cháu nay
dạy và học chữ lại muốn nhanh, nhiều, rẻ thì làm sao mà nói tới chất lượng tốt
được!
Do chất lượng đào tạo sa sút nên một số người tích cực cổ động cho phương
pháp TRÒ-trung-tâm, xem nó như một cứu cánh. Người không hiểu ngọn ngành
cứ tưởng đây là một phương pháp mới, trong khi thực ra đó là sự trở lại một
phương pháp đã có lịch sử lâu đời.
Và trở lại phương pháp TRÒ-trung-tâm cũng tức là trở lại những nhược điểm
kinh điển của nó. Chẳng hạn, ở một lớp dạy ngoại ngữ, thầy thường xuyên dành
nhiều thời gian làm việc riêng với từng sinh viên, tuy điều này có lợi cho những
sinh viên được thầy luyện riêng, nhưng dư luận chung thì rất phàn nàn vì họ mất
rất nhiều thời gian nghe thầy và các bạn khác nói những nội dung mà họ không
cần, cách học ấy không gây hứng thú chung và lượng kiến thức thu được qua một
tiết học rất ít; mặt khác, vì thầy mất nhiều thời gian làm việc với các cá nhân nên
những nội dung khác thường bị lướt qua hoặc bỏ qua cho kịp tiến độ.
Rõ ràng là ở giai đoạn hiện nay, phương pháp THẦY-trung-tâm khi đã bị đẩy
đến cực đoan thì không còn thích hợp, nhưng trở lại phương pháp TRÒ-trung-tâm
xa xưa lại là mắc vào vòng luẩn quẩn. Tình hình này ở lĩnh vực phương pháp
giảng dạy nói chung giống hệt như tình trạng ở lĩnh vực phương pháp dạy ngoại
ngữ.

phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở Việt Nam đầu thế kỷ XX đã có tác dụng thật
là mạnh mẽ:
Buổi diễn thuyết người đông như hội,
Kỳ bình văn khách đến như mưa
Tuy nhiên, một bài thuyết giảng hấp dẫn trong quan hệ kết hợp với phương
pháp Trò-trung-tâm cũng có những đòi hỏi riêng của nó.
Cách kết hợp nhuần nhuyễn đơn giản nhất là xem hoạt động trên lớp như một
mô hình giao tiếp mà trong đó diễn ra ĐỐI THOẠI giữa Thầy và Trò.
Trong mô hình giao tiếp Thầy-Trò này, vai trò của thầy và trò không thể
quy định cứng nhắc mà phải thay đổi liều lượng theo những tỷ lệ khác nhau tuỳ
theo yêu cầu, mục đích, điều kiện cụ thể của từng cấp học. Chẳng hạn, ở bậc tiểu
học, trẻ em đang hiếu động, cần phát huy vai trò của Trò nhiều hơn. Ở lứa tuổi
trung học, học sinh đã vào nền nếp, nhưng khả năng tư duy độc lập còn thấp, số
lượng học sinh lại rất đông, thì Thầy cần đóng vai trò chủ đạo. Đến những năm
đầu đại học, sinh viên đã bắt đầu có khả năng tư duy độc lập, lại là lúc vai trò của
người học cần được chú trọng, cần tăng cường đối thoại Thầy-Trò. Ở những năm
cuối đại học và cấp sau đại học, người học đã trưởng thành thì vai trò của người
học cần được phát huy tới mức tối đa. Liều lượng này còn phải được thay đổi tuỳ
theo yêu cầu, mục đích, điều kiện cụ thể của từng môn học, trong từng buổi học.
Tuy nhiên, dù với liều lượng như thế nào thì trên bình diện tổng thể, Thầy vẫn
phải là người giữ vai trò chủ động. Nếu từng nơi từng lúc, thầy không chủ động
trao quyền thì Trò cũng không thể có được cái quyền chủ đạo. Nói cách khác,
Thầy phải làm chủ tình huống tới mức việc trao quyền chủ động cho Trò chính là
một phần trong cái kịch-bản-giảng-dạy rất linh hoạt của Thầy. Muốn vậy, người
Thầy phải đáp ứng các yêu cầu sau:
a) Thầy (người phát tin) phải có lượng thông tin tích luỹ dư thừa cao so với
yêu cầu của Trò (người nhận tin). Áp dụng vào thực tiễn giảng dạy thì nói nôm na
là phải tránh tình trạng "cơm chấm cơm". Thầy có giỏi thì mới đủ bản lĩnh đối đầu
với các câu hỏi, các tình huống rất đa dạng có thể diễn ra trong và ngoài buổi học.
b) Thầy (người phát tin) phải nắm vững đối tượng nhận tin (tuổi tác, trình độ,

Kênh thông
tin
Sau 3 giờ Sau 3 ngày

Nghe 70% 10%
Nhìn 72% 20%
Nghe và Nhìn

85% 65%

Trong khi đó thì hoạt động chủ yếu trong phương pháp Thầy-trung-tâm thuần
tuý lâu nay là thầy độc thoại còn trò thì ghi chép một cách thụ động, và hai giác
quan được trò sử dụng trong hoạt động này là thính giác (để nghe) và xúc giác (để
viết), nhìn chung rõ ràng là không phù hợp.
Tín hiệu thị giác có hai loại: ngôn từ và phi ngôn từ. Nếu chỉ xét riêng tín
hiệu ngôn từ (ngôn ngữ tự nhiên) thôi thì việc thầy giảng bằng cách nói kết hợp
với ghi chép những ý chính lên bảng rõ ràng là sẽ có hiệu quả hơn nhiều so với
việc thầy chỉ nói chay. Ngoài ra, còn có trường hợp sinh viên cần biết chữ viết tay
của các nhân vật lịch sử, hoặc chữ viết của các hệ văn tự đặc thù mà người dạy
không biết.
Tín hiệu thị giác phi ngôn từ cũng có hai loại: điệu bộ, cử chỉ, nét mặt (ngôn
ngữ cơ thể) và hình ảnh, bảng biểu, bản đồ, đồ thị, hiện vật (ngôn ngữ hình ảnh).
Ngôn ngữ cơ thể của người thầy tuy tự thân nó hầu như không mang hoặc mang
rất ít thông tin, nhưng nó có tác dụng hỗ trợ rất nhiều cho việc tiếp thu thông tin
ngôn từ. Những người thầy có khả năng sử dụng ngôn ngữ cơ thể giống như
những diễn viên: họ không chỉ nói bằng miệng, mà nét mặt, tay chân và cả cơ thể
họ đều biết nói.
Khác với ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ hình ảnh tự thân nó đã là những thông tin
rất quan trọng rồi. Đối với khoa học xã hội và nhân văn, chỉ trừ văn học là có ít
thông tin hình ảnh, còn thì sử học, địa lý, dân tộc học, khảo cổ học, xã hội học,

centered-learners is not new any more but has existed for ages. In process of
promoting education, either method of learners-learners or method of teachers-
teachers can be alternately dominated or superior. Each method has its own
shortcomings and advantages and it is really hard to say what is better. At present,
it is best to combine both of them.
This combination has been specified in the section of activity method of
teaching-learning by teachers-learners through communicative model between
teachers-learners as a "talk". In order to bring the talk into effect, it is most
important that how learner get the knowledge. The knowledge that can be
apprehended by learners is by visual aids whereas teaching method without audio-
visual aids has based on 2 senses, i.e. hearing and touching.

[1] Dương Thiệu Tống, Khảo sát sơ khởi về kiểu cách học tập của sinh viên
HUFLIT. - Trong: Nâng cao chất lượng đào tạo đại học. - Tp. HCM, Đại học
Ngoại ngữ - Tin học Tp.HCM & Đại học Hùng Vương, 1977, tr. 34-35.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status