truyện ngắn sơn nam và bình nguyên lộc từ góc nhìn văn hóa học - Pdf 24


1
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Marxim Gorki, văn hào người Nga, từng nói: “Người nghệ sĩ thật sự vĩ đại trước
hết phải là người nghệ sĩ của một dân tộc, một quê hương cụ thể”. Trong lịch sử văn học
thế giới và văn học Việt Nam, có rất nhiều nhà văn nổi tiếng nhờ biết phát huy những
tinh hoa văn hóa của dân tộc mình. Nhiều nhà văn Nam Bộ đã ghi tên tuổi mình vào lịch
sử văn học Việt Nam nhờ biết khai thác bản sắc độc đáo của văn hóa vùng miền, trong
đó, nổi tiếng hơn cả trong thế kỷ trước là Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc. Giá trị tác
phẩm của hai nhà văn này được nhiều người nhận định trước hết là ở chỗ gắn bó sâu sắc
với vùng đất quê hương qua việc phản ánh chân thực hình ảnh thiên nhiên và con người
vùng đất phương Nam của Tổ quốc.
Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc là hai nhà văn tiêu biểu của Nam Bộ sau 1945,
sau thời đại của những nhà văn như Hồ Biểu Chánh, Phi Vân Sơn Nam và Bình
Nguyên Lộc, một người ở miền tận cùng của đất nước mênh mang sông rạch, một người
thì ở vùng đất rừng khô cằn, buồn tẻ. Sơn Nam viết về miền Tây Nam Bộ, Bình Nguyên
Lộc viết về miền Đông Nam Bộ, tác phẩm của hai nhà văn này đã đưa người đọc trở về
với thời những lưu dân Việt đi mở đất phương Nam, phản ánh thiên nhiên, cuộc sống và
con người nơi đây với những nét độc đáo của riêng vùng đất Nam Bộ. Trong lối cảm,
cách nghĩ và nhất là văn phong của hai nhà văn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc cũng
mang đậm chất Nam Bộ.
Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của hai nhà văn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, ghi
nhận những cống hiến thầm lặng của họ trong việc thể hiện hình ảnh đất và người
phương Nam, vì thế, có ý nghĩa góp phần trong việc nghiên cứu những thành tựu của
văn học Nam Bộ trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, luận văn viết về Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc
nhưng chưa có công trình nào chuyên sâu về thể loại truyện ngắn của hai ông trong quan
hệ với đề tài văn hóa Nam Bộ. Mặt khác, nhiều công trình chỉ mới nghiên cứu tổng quát
các nhà văn Nam Bộ nói chung hoặc riêng lẻ về nhà văn Sơn Nam hay Bình Nguyên
Lộc chứ chưa nghiên cứu hai nhà văn này trong thế liên hợp đối sánh. Việc nghiên cứu

nhân toàn quốc, anh cũng “có hạng” [96, tr.206].

3
Khi nghiên cứu Sơn Nam, nhiều người chú trọng tới giá trị nội dung trong tác
phẩm của ông, nhất là hình ảnh thiên nhiên và con người. Trong Mười khuôn mặt văn
nghệ, Tạ Tỵ đã nói về Sơn Nam như sau: “Càng đọc anh, chúng ta càng nhận thấy rõ
rằng thân phận con người Việt Nam được phản ánh qua những khung cảnh khắc khổ
của thiên nhiên, của xã hội, cái thiên nhiên và xã hội dưới thời nô lệ như a tòng với nhau
để đè nén con người.” [249, tr.244].
Sau 1975, tác phẩm của nhà văn Sơn Nam được đưa vào giảng dạy ở bậc trung
học phổ thông với truyện ngắn Bắt sấu rừng U Minh hạ.
Trên lĩnh vực xuất bản, có nhiều bài viết giới thiệu về Sơn Nam, như lời “Tựa”
của nhà thơ Viễn Phương viết cho tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, ông viết: “Đọc
Hương rừng Cà Mau, đồng bào hiểu thêm được về thiên nhiên, về lịch sử, về đời sống, về
con người của vùng đất xa xôi, huyền bí này. Bàng bạc trong những trang sách này là
một tình yêu quê hương đậm đà, đằm thắm.” [352, tr.2].
Hoàng Phủ Ngọc Tường trong “Lời giới thiệu” tập truyện ngắn Hương rừng Cà
Mau, tái bản năm 1998, thì cho rằng: “Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam là một quyển
cảo thơm viết về những mảnh đời thường của đất, của nước, của rừng, ruộng và của
những số phận con người tưởng chừng rất tầm thường nhưng dưới ngòi bút Sơn Nam đã
vụt hiện thành những điểm sáng, lấp lánh trên bức tranh sơn thuỷ của miền cực Nam Tổ
quốc.” [372, tr.4].
Trong “Lời giới thiệu” quyển Hồi ký của Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ đã khẳng
định: “Gần 60 năm cầm bút, trải qua bao thăng trầm vất vả, ông đã có một số lượng tác
phẩm thật đồ sộ: gần 300 truyện ngắn, hàng chục tập sách biên khảo về người và đất
Nam Bộ. Ông thật xứng đáng với danh hiệu cao quý mà bạn đọc xa gần phong tặng: nhà
Nam Bộ học.” [363, tr.3].
Lê Minh Đức trong “Lời giới thiệu” tập 26 truyện ngắn của Sơn Nam, cho rằng:
“Những cuốn sách và những bài báo của Sơn Nam đã giúp người ta đi trở lại những
ngày đầu khai phá tìm hiểu những điều kiện thiên nhiên và xã hội của cuộc sống trong

về văn hóa dân gian.”
2
1
Nguyễn Trọng Tín –“Sơn Nam, nhà văn của vùng đất mới Nam Bộ”
(
2
Nguyễn Trung Quốc - Những trang hồi ức về văn hoá của Sơn Nam
(quechoa.info/) 5
Nguyễn Mạnh Trinh trong “Sơn Nam, ông già Ba Tri của đồng bằng Nam Bộ” đã
khẳng định: “Sinh hoạt một thuở của những người di dân Nam Bộ được sống lại
trong Hương Rừng Cà Mau.”
1

Trong “Sơn Nam, nhà văn, nhà Nam Bộ học (Phỏng vấn người Sài Gòn)”, Phan
Hoàng đã viết: “Tất cả đã tạo nên tên tuổi Sơn Nam, nhà văn, nhà Nam Bộ học mà sự
nghiệp gắn liền với vùng đất mới, trù phú và đầy hào khí. Với ông, đi và viết như một
nhu cầu sinh tồn. Cho đến thời điểm bước vào kỷ niệm 300 Sài Gòn, Sơn Nam đã có
trong tay mấy mươi tác phẩm giá trị về văn minh miệt vườn, về những người đi khai phá
vùng đất mới và sáng tạo ra nền văn hoá truyền thống” [88, tr.59].
Huỳnh Công Tín trong bài viết “Nhà văn Sơn Nam - nhà Nam Bộ học” cho rằng:
“Ông còn làm sống lại quá khứ miền Nam, không chỉ hiện nay mà cả vài trăm năm về
trước, từ chuyện khẩn hoang miền Nam, chuyện thời Đàng Cựu, đến lai lịch của từng
vùng đất cụ thể: Sài Gòn, Gia Định, An Giang, Hà Tiên, Cần Thơ, Hậu Giang, Long Hồ,
Vĩnh Long ” [237, tr.175].

cứu về văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975, nhà nghiên cứu văn học Trần
Hữu Tá nhận xét: “Đất nước, lịch sử và con người Nam Bộ đã được Sơn Nam say sưa
phản ánh trong tập truyện Hương rừng Cà Mau” và: “Tác giả đã không tách những nỗ
lực chinh phục thiên nhiên của người dân miền Nam khỏi tinh thần chiến đấu anh dũng
để bảo vệ quê hương đất nước của họ.” [197, tr.72].
Lê Phương Chi trong Tâm tình văn nghệ sĩ, cho rằng: “Ông đã làm sống lại hào
khí miền Tây Nam Bộ, thời Tổ tiên ta di dân lập ấp, và ông dựng lại những cảnh tượng
bi hùng của ông cha ta trong công cuộc khai hoang tranh đấu giành sự sinh tồn với thiên
nhiên, giành từng tấc đất ngọn rau để giành đất, lấn biển mở rộng bờ cõi.” [28, tr.132].
Trong Tự điển Văn học (2004), ở mục từ “Sơn Nam”, Trần Hữu Tá nhận xét:
“Con người và vùng đất nê địa Cà Mau cứ hiện lên trên từng trang viết của ông, cuốn
hút, say người. Ông kể lại một cách sinh động cảnh nhân dân dũng cảm trừ rắn, bắt cá
sấu, chống trả quyết liệt và chiến thắng thiên nhiên khắc nghiệt. Trong gian khổ, tinh
thần những người tay lấm chân bùn ấy vẫn bình thản, hồn nhiên.” [199, tr.1566].
Bùi Đức Tịnh trong quyển Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam (2005), nhận
định: “Trong các truyện của Sơn Nam nổi bật trên bức tranh làng mạc quê hương là
những người nông dân đôn hậu, chất phác, dũng cảm, đã đem tất cả sức sống khai phá
và giữ gìn từng tấc đất cho gia đình và Tổ quốc.” [239, tr.564].
Nguyễn Thị Thanh Xuân trong Tiếng vọng những mùa qua, viết về Sơn Nam như
sau: “Phạm Anh Tài, ngay từ “Tây đầu đỏ” và “Bên rừng cù lao Dung” đã thể hiện
những nét riêng trong cách dẫn truyện cũng như lối xây dựng nhân vật và tài tả cảnh.
Đó là cách dẫn truyện tự nhiên và rất có duyên, không hề lộ ra sự sắp xếp; đó là sự khắc

7
hoạ người nông dân Nam Bộ rất đậm đà bản sắc từ ngoại hình đến ngôn ngữ; đó là sự
am hiểu và quan sát tỉ mỉ về đất miền Nam.” [265, tr.233].
Hoài Anh, trên Tạp chí Văn hoá, số 7, trong bài “Sơn Nam, người đánh đàn độc
huyền kể chuyện Nam Bộ”, có nhận xét: “Anh Sơn Nam là một con người Nam Bộ chân
chất, thẳng thắn, một nhà văn, nhà văn hoá của Nam Bộ mà những trang viết cũng giản
dị, đầy ắp chất sống, thấu đáo nhân tình như chính lời nói hằng ngày của anh.” [6,

chương, cách viết truyện của Bình Nguyên Lộc [28]; Nguyễn Nam Anh có bài phỏng
vấn “Nhà văn Bình Nguyên Lộc” đăng trên Giai phẩm Văn số 199 ra ngày 01-4-1972,
trong đó khẳng định Hương gió Đồng Nai, tác phẩm đầu tay, đã được nhà văn viết với cả
tấm lòng yêu thương quê hương [8]; tạp chí Thời tập số 25 ra ngày 10-10-1974 có dành
riêng số đặc biệt về Bình Nguyên Lộc. Trong số này có nhiều bài viết rất có giá trị như
các bài của Trần Văn Nam, Cao Huy Khanh v.v [150]; [101].
Sau năm 1975, có một số bài viết về Bình Nguyên Lộc như của các tác giả Viễn
Phương, Trang Thế Hy, Thanh Việt Thanh, Nguyễn Mẫn… Nhà thơ Viễn Phương đã
gợi lại những kỷ niệm về Bình Nguyên Lộc qua bài “Thương một nhành mai” [178];
Trang Thế Hy ghi lại những kỷ niệm với Bình Nguyên Lộc và khẳng định đây là con
người rất gắn bó với xứ sở quê hương (Văn nghệ Tp. HCM, số Xuân 2005); Thanh Việt
Thanh đã khẳng định truyện ngắn là thể loại sở trường và thành công nhất của Bình
Nguyên Lộc [203, tr.9]; Nguyễn Mẫn thì cho rằng Bình Nguyên Lộc là nhà văn của tình
yêu: tình yêu quê hương, tình yêu nam nữ và tình yêu con người [134, tr.16].
Trong Nhìn lại một chặng đường văn học, Trần Hữu Tá khi viết về văn học
miền Nam giai đoạn 1954-1975, có nhắc đến Bình Nguyên Lộc. [197, tr.23].
Năm 2002, tác phẩm của Bình Nguyên Lộc được in lại trong Tuyển tập Bình
Nguyên Lộc do Nguyễn Q. Thắng tuyển chọn và giới thiệu [433]. Tiếp theo, Nguyễn Q.
Thắng còn giới thiệu cuộc đời và tác phẩm của Bình Nguyên Lộc trong Văn học Việt
Nam nơi miền đất mới, tập 2 [212] và trong “Bình Nguyên Lộc với Hương gió Đồng
Nai” (2010) [215].
Trong Từ điển văn học (Bộ mới), tại mục từ “Bình Nguyên Lộc”, T.Khuê có giới
thiệu sơ lược cuộc đời và nêu giá trị một số tác phẩm của Bình Nguyên Lộc như Nhốt
gió, Rừng mắm, Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc… rồi nhận

9
định: “Trước Bình Nguyên Lộc, dường như chưa có một nhà văn Việt Nam nào viết về sự
khai phá đất hoang của dân tộc Việt, về đất và nước một cách bát ngát và sâu xa đến
thế.” [199, tr.133].
Năm 2004, Nguyễn Lương Hải Khôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ: Đặc trưng văn

hy vọng sẽ góp phần khẳng định vị trí, giá trị tác phẩm của hai nhà văn từ một phương
diện mới, góc độ xem xét mới có tính liên ngành.
- Phương pháp thi pháp học: Luận án tìm hiểu, khảo sát thế giới nghệ thuật trong
truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, qua đó, làm nổi bật không chỉ hiện thực
được phản ánh mà cả quan niệm về con người và cuộc đời của hai nhà văn nói trên.
- Phương pháp hệ thống: Truyện ngắn của hai nhà văn Sơn Nam và Bình
Nguyên Lộc được xem xét như một hệ thống các yếu tố nội dung và nghệ thuật, trong
quan hệ tác giả - tác phẩm - thực tại - độc giả; và đến lượt nó, hệ thống văn chương này
lại trở thành một yếu tố trong văn hóa vùng, văn hóa dân tộc như những hệ thống lớn
hơn, bao trùm.
- Phương pháp so sánh: Để làm nổi bật đặc trưng văn hoá vùng cũng như phong
cách tác giả trong nội dung cũng như hình thức nghệ thuật thể hiện của truyện ngắn Sơn
Nam và Bình Nguyên Lộc, luận án áp dụng phương pháp so sánh: so sánh Sơn Nam và
Bình Nguyên Lộc; so sánh Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc như những nhà văn của Nam Bộ
với một số nhà văn tiêu biểu gắn bó cùng đề tài văn hoá Bắc Bộ hay văn hóa Trung Bộ.
- Phương pháp lịch sử - xã hội: Đặt văn học trong mối tương quan với các yếu tố
xã hội và lịch sử, từ đó phân tích truyện ngắn Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc trong quan hệ
với văn hóa Nam Bộ.
5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Vận dụng hướng tiếp cận văn hoá học - văn học trong nghiên cứu truyện
ngắn của Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, luận án có đóng góp về văn học sử cũng như về
lý luận, về phương pháp nghiên cứu.
5.2. Qua phân tích nội dung và hình thức thể hiện không gian văn hoá, thời gian
văn hoá, tính cách văn hoá Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên

11
Lộc, luận án làm rõ những đặc điểm và những đóng góp của hai nhà văn đối với văn học,
văn hoá Nam Bộ nói riêng; văn học, văn hóa Việt Nam nói chung.
6. Kết cấu luận án
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, luận án chia thành bốn chương:

1.1.1. Quan hệ văn học - văn hóa và hướng tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa học
Trước hết, về văn học, hiện nay, có nhiều định nghĩa về văn học. Một cách vắn
tắt, có thể xem văn học là một loại hình nghệ thuật, dùng ngôn từ làm phương tiện xây
dựng hình tượng, phản ánh và biểu hiện cuộc sống và con người.
Định nghĩa về văn hóa có phần phức tạp hơn. Các nhà nghiên cứu từng thống kê
đến hơn bốn trăm định nghĩa với nội hàm, ngoại diên khác nhau về văn hóa. Cách hiểu
của ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO, được cộng đồng quốc tế chấp nhận
(tại Hội nghị liên chính phủ về chính sách văn hóa họp tại Venise), ông cho rằng “Văn
hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản
phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao
động” [Tạp chí Người đưa tin UNESCO, tháng 11 / 1989, tr 5]. Một nhà nghiên cứu văn
hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm, đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt
động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của
mình”. Định nghĩa này chú ý tới tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử
của văn hóa.
Như chúng ta đều biết, văn học là tiếng nói từ trái tim của con người, là sự suy
nghĩ và cảm nhận của con người về cuộc sống. Hơn nữa, văn học còn thể hiện khả năng
nhận thức và cách ứng xử của con người trước môi trường thiên nhiên và xã hội, trong
không gian và thời gian.
Còn văn hoá là sản phẩm đặc thù của con người, ra đời và tồn tại cùng với loài
người. Theo nghĩa rộng, văn hoá là những giá trị mà con người tạo ra trong quá trình tác
động vào tự nhiên và xã hội. Văn hoá bộc lộ ở cách thức, trình độ sinh hoạt, tổ chức, ứng
xử; ở quan hệ nhiều mặt của con người với thế giới: tự nhiên, xã hội, bản thân. Văn hoá
là cách sống, quy luật sống của một cộng đồng, là khả năng lựa chọn các ứng xử, các giải

13
pháp của cộng đồng trong những tình huống hệ trọng, có ý nghĩa bước ngoặt của đời
sống, của lịch sử.
Như vậy, có thể nói, con người sáng tạo ra văn học, thông qua văn học mà phản

như chính trị, kinh tế, pháp luật, tôn giáo, thị hiếu, ẩm thực, trang phục, tập quán, cử
chỉ… Đọc bất cứ tác phẩm văn học nào ta đều có thể bắt gặp vô vàn biểu hiện văn hóa
trong đó.” [193, tr.9].
Văn hóa và văn học, suy cho cùng, đều phản ánh và thể hiện những góc nhìn
về con người. Điều này được Lê Trí Viễn khẳng định: “Nói văn học, nói văn hoá gì,
chung quy là nói con người.” [dẫn lại: 240, tr.182].
Nhà văn M. Gorki từng nói “Văn học là nhân học”. Trong bất kỳ tác phẩm văn
học nào, con người vẫn là đối tượng trung tâm để nhà văn phản ánh, con người đó tồn tại
trong môi trường không gian và thời gian cụ thể. Con người với tính cách là một thực thể
văn hóa bao giờ cũng tồn tại trong ba mối quan hệ căn bản: quan hệ với môi trường tự
nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân mình.
Giữa con người và văn hoá có mối quan hệ mật thiết với nhau, chính con người
đã sáng tạo ra văn hoá; đồng thời con người lại là sản phẩm của văn hoá. Con người
kế thừa những thành tựu văn hoá ở thế hệ trước, “Con người là tổng hoà của những mối
quan hệ xã hội” (Mác). Con người luôn mang những giá trị văn hoá, do đó, con người
cũng là đại biểu thể hiện giá trị văn hoá do chính mình sáng tạo ra.
Văn học và văn hóa quan hệ chặt chẽ như vậy nên tiếp cận văn học từ góc độ văn
hóa học chắc chắn là một hướng đi hứa hẹn nhiều triển vọng. Hướng nghiên cứu này
được khá nhiều nhà nghiên cứu văn học trên thế giới cũng như ở nước ta vận dụng với ý
thức tự giác ngày càng rõ nét.
Một trong những lý thuyết nghiên cứu văn hóa sớm được các nhà nghiên cứu văn
học trên thế giới quan tâm là lý thuyết Văn hóa - Lịch sử của Hippolyte Taine (1828-1893).
Theo Hippolyte Taine, “Ba động lực đầu tiên” có vai trò quyết định đối với đặc điểm một
nền văn hóa cũng như tính cách con người trong nền văn hóa đó, là (1) chủng tộc, (2) môi
trường và (3) thời điểm. Với ba động lực này, Taine đã nhấn mạnh những điểm quan trọng
về (1) chủ thể văn hóa, (2) không gian văn hóa và (3) môi trường văn hóa.

15
Trường phái Văn hóa và Nhân cách mà đại diện tiêu biểu là Ruth Fulton Benedict
(1887-1948), Margaret Mead… chú ý tới kiểu thức (pattern) / cấu hình (configuration)

trung cận đại, Trần Đình Hượu đã chọn Nho giáo để tìm hiểu một số vấn đề của văn học
trung đại. Trần Ngọc Vương tiếp tục bằng các công trình: Nhà nho tài tử và văn học Việt
Nam, Văn học Việt Nam, dòng riêng giữa nguồn chung, Văn học trung đại Việt Nam
dưới góc nhìn văn hoá…, nhiều tác phẩm văn học trung đại như Truyện Kiều, Bình Ngô
đại cáo… đã được Trần Nho Thìn tiếp cận từ góc độ văn hoá học. Lê Nguyên Cẩn có
công trình Tiếp cận Truyện Kiều dưới góc nhìn văn hóa. Gần đây, Đỗ Lai Thuý vận
dụng hướng nghiên cứu này đối với văn học trung đại và hiện đại mà tiêu biểu là Từ góc
nhìn văn hoá, Hồ Xuân Hương: hoài niệm phồn thực…
Sự quan tâm đến hướng nghiên cứu này, về mặt lý luận, ở Việt Nam, mới khởi
sắc gần đây, có thể thấy qua những bài viết của các tác giả như Trần Đình Sử (Chuyển
hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học Trung Quốc), Nguyễn Văn Dân (Tiếp cận văn
học bằng văn hóa học), Đỗ Lai Thúy (Mối quan hệ văn hóa - văn học), Trần Lê Bảo
(Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học), Lê Nguyên Cẩn (Tính văn hóa của tác phẩm
văn học), Huỳnh Như Phương (Văn học và văn hóa truyền thống), Đỗ Thị Minh Thúy
(Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học), Nguyễn Văn Hiệu (Mối quan hệ giữa nghiên
cứu văn học và văn hóa học), Cao Kim Lan (Văn học và ngữ cảnh văn hóa)…
Trong bài “Chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học Trung Quốc”, Trần
Đình Sử đã từ kinh nghiệm nước ngoài nhận diện “những hướng nghiên cứu (văn học)
mới trong tầm nhìn văn hóa” với ba định hướng chủ yếu: (1) nghiên cứu thi pháp văn
hóa; (2) nghiên cứu văn học trong quan hệ với các truyền thống văn hóa, văn học trong
quan hệ với chính trị, với “sinh thái tinh thần” của xã hội; (3) nghiên cứu văn học trong
quan hệ với văn hóa đại chúng. Về phương pháp, đây là hướng nghiên cứu liên ngành,
kết hợp các phương pháp dân tộc học (ethnography), phân tích văn bản (textual
approaches), nghiên cứu tiếp nhận (recepion studies), phương pháp xã hội học…
Vận dụng hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa học trong đề tài luận
án, chúng tôi tập trung vào hai điểm cốt lõi: (1) phân tích những phương diện văn hóa
Nam Bộ đã được Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc lựa chọn phản ánh (2) lý giải nội dung,
nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm của họ bằng những yếu tố văn hóa Nam Bộ.

17

18
yếu là vùng đất bazan màu mỡ và đất phù sa cổ, thoát nước tốt, thuận lợi cho việc trồng
cây công nghiệp trong khi miền Tây với sông ngòi, kênh rạch chằng chịt thuận lợi cho
việc trồng lúa nước, khai thác thủy hải sản.
Về khí hậu, Nam Bộ có hai mùa rõ rệt: mùa nắng và mùa mưa. Miền Tây Nam
Bộ còn có thêm mùa nước nổi, kéo dài từ ba đến bốn tháng, bắt đầu từ tháng chín. Mùa
nước nổi tuy có những khó khăn nhưng đồng thời cũng đem đến cho người dân nơi đây
nhiều nguồn lợi như tôm cá, phù sa và nguồn nước tưới mát cho những cánh đồng mênh
mông mỗi năm.
Điều kiện tự nhiên vừa ưu đãi vừa có những thách thức nói trên đã góp phần quan
trọng tạo nên cách ứng xử hòa hợp với tự nhiên của người Nam Bộ.
1.1.2.2. Chủ thể văn hoá
Nam Bộ là vùng đa văn hóa nhất nước. Ở vùng đất này, người Việt cộng cư cùng
với những tộc người khác như Chăm, Khmer, Hoa, Mạ, Stiêng, Chơro, Mơnông… tạo
nên một bức tranh văn hóa đa dạng với cấu trúc chủ thể đa tộc người, trong đó người
Việt chiếm đa số.
Từ xưa đến nay, các dân tộc trên vùng đất Nam Bộ cùng nhau chung sống hoà
bình, tôn trọng nhau và quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc diễn ra liên tục,
không ngừng làm giàu thêm những sắc thái phong phú cho mỗi nền văn hóa…
1.1.2.3. Thời gian văn hoá
Thời gian văn hóa Nam Bộ có thể được chia làm ba giai đoạn: (1) Giai đoạn
trước khi người Việt đến khai hoang – từ trước thế kỷ XVII, (2) Giai đoạn khẩn hoang –
từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, (3) Giai đoạn tiếp xúc với Phương Tây và hội nhập quốc
tế - từ thế kỷ XIX đến nay.
Thứ nhất là giai đoạn trước khi người Việt đến khai hoang. Trên miền đất là Nam
Bộ ngày nay đã có dấu tích của những nền văn hóa cổ phát triển (Óc Eo).
Thứ hai là giai đoạn khẩn hoang. Khoảng cuối thế kỷ XVII, đã có những người
Việt đầu tiên tới khai phá vùng đất phương Nam. Người Việt tiến về phương Nam chính
là do sự thôi thúc tất yếu của lịch sử. Nước ta phía Đông giáp biển, phía Bắc giáp Trung
Quốc, một đất nước rộng lớn, phía Tây gặp rừng núi đầy hiểm trở. Để phát triển, chỉ còn

nó gắn với cuộc xâm lăng của hai thế lực thực dân, đế quốc lớn là Pháp và Mỹ. Nam Bộ

20
kiên cường trong kháng chiến cũng là Nam Bộ đi đầu trong tiếp thu ảnh hưởng văn minh
phương Tây, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngày nay, Nam Bộ vẫn là nơi
năng động nhất nước trong việc hội nhập toàn cầu.
Về thời gian văn hóa, như vậy, Nam Bộ vừa có bề dày trong diễn trình lịch sử của
văn hóa Việt Nam, lại là vùng đất giàu sức trẻ của cả các tộc người ở đây. Nam Bộ là
vùng văn hóa linh hoạt, năng động, hiện đại hóa mạnh nhất nước.
Những đóng góp của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc đối với văn học Nam Bộ nói
riêng, văn học Việt Nam nói chung chính là sự thể hiện một cách nghệ thuật những đặc
trưng văn hóa vùng qua không gian, thời gian và chủ thể văn hóa.
1.2. Nhà văn Sơn Nam với văn hóa Nam Bộ
1.2.1. Cuộc đời của Sơn Nam
Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài (theo khai sinh là Phạm Minh Tày, do nhân
viên ký lục ghi sai), sinh ngày 11-12-1926, tại làng Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh
Rạch Giá, mất ngày 18-8-2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Thuở nhỏ, ông học tiểu học
ở Rạch Giá, sau đó học trung học tại trường Phan Thanh Giản ở Cần Thơ. Năm 1945, tốt
nghiệp Thành chung, Sơn Nam về lại Rạch Giá với ý định tìm một chân thư ký thì Cách
mạng tháng Tám bùng nổ. Sau đó, Sơn Nam gia nhập Thanh niên Tiền phong, một tổ
chức cách mạng, tham gia cướp chính quyền ở địa phương, rồi xếp bút nghiên, mang nóp
với giáo ra bưng biền trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến.
Ban đầu, Sơn Nam làm Phó Bí thư Tỉnh Đoàn Thanh niên Cứu quốc, Tỉnh ủy
viên Tỉnh ủy Rạch Giá, rồi được điều về công tác ở Hội Văn hóa Cứu quốc tỉnh, sau về
công tác tại phòng Chính trị Quân khu 9. Năm 1950, ông chuyển qua làm cán bộ Văn
nghệ thuộc Ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Kỳ.
Chính cuộc sống chiến đấu gian khổ, ác liệt ở rừng U Minh và vùng tứ giác Long
Xuyên là nguồn tư liệu sống cho các trang viết của Sơn Nam sau này. Chín năm kháng
chiến ở bưng biền, nhà văn Sơn Nam có dịp tìm hiểu về thiên nhiên, lịch sử và đời sống
con người vùng châu thổ sông Cửu Long, hiểu được tính khẳng khái, ngoan cường đấu

trình, rong ruổi khắp các nẻo đường, ngõ ngách để quan sát và viết, đồng thời cùng tham
gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật như: ra Hà Nội làm khách mời của Hội nghị các
nhà văn Trẻ, theo đoàn làm phim đi Huế, về miền Tây. Ngoài ra, ông liên tục tham gia

22
các hội thảo về lịch sử văn hóa Sài Gòn. Do làm việc quá nhiều, sau khi hoàn thành hai
tập biên khảo “Sài Gòn lục tỉnh xưa” và “Ấn tượng 300 năm”, nhà văn Sơn Nam ngã
bệnh vì kiệt sức.
Sau một thời gian điều trị trong bệnh viện do bị tai nạn giao thông, nhà văn Sơn
Nam trở về căn nhà thuê ở Gò Vấp, sáng sáng lại ra Nhà truyền thống Gò Vấp hoặc đến
nghiên cứu ở các đình miếu, đêm về lại ngồi gõ lọc cọc bên chiếc máy đánh chữ cũ kỹ
những gì đã nghe, đã thấy trong ngày. Ông sống và viết miệt mài như thế cho đến cuối
cuộc đời.
Nhắc đến phong cách sống của Sơn Nam, người ta thường nghĩ đến một trí thức
lớn nhưng có đời sống giản dị. Sơn Nam được mệnh danh là “ông già đi bộ”. Ông từng
nói: “Tôi là người tạo được chút ít tăm tiếng trong giới văn nghệ nhờ cái nghề đi bộ. Đi
bộ rất có ích cho cái việc gọi là “lao động trừu tượng”. Sơn Nam vừa đi bộ vừa ngẫm
nghĩ để rồi sau đó cho ra đời những trang văn bình dị mang đậm hơi thở của cuộc sống
đời thường.
Khi trả lời nhà báo phỏng vấn, Sơn Nam khẳng định ông cầm bút vì sinh kế, song
điều thiêng liêng hơn mà ông không nhắc đến, đó là lòng đam mê văn nghệ. Lòng đam
mê ấy đã tạo nên sức sống và góp phần làm nên bút lực sung mãn của ông. Cuộc đời của
Sơn Nam gắn bó thiết tha với vùng đất Nam Bộ, nhất là Sài Gòn và miền Hậu Giang quê
hương ông. Bởi vậy, các công trình biên khảo và sáng tác văn chương, nhất là truyện
ngắn, Sơn Nam thường viết về vùng đất này.
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác của Sơn Nam
Tiếp bước các nhà văn lớp trước, Sơn Nam là một trong số rất ít nhà văn thành
công khi viết về văn hoá Nam Bộ. Tác phẩm của ông thường tập trung viết miền Tây
Nam Bộ và Sài Gòn xưa, qua đó thể hiện nét đẹp riêng của miền đất này, mà nổi bật nhất
là tái hiện lịch sử khẩn hoang, thiên nhiên và con người nơi đây.

chủ để viết.”
Sơn Nam “tự chọn cho mình cách viết truyện theo kiểu dã sử hiện đại và khảo
cứu về lịch sử khẩn hoang vùng đất mới Nam Bộ. Cách viết này được nhiều độc giả quan
tâm, lại không khiêu khích chính quyền đương thời. Người đọc tinh tế cũng dễ nhận ra 1
Dương Thanh- “Sơn Nam: Bản sắc nước mắm, cá kho không bao giờ phai”
( />d%E1%BA%A5t-m%E1%BB%9Bi-nam-b%E1%BB%99/) 24
sự đánh động tinh thần yêu nước, tưởng nhớ cội nguồn tiên tổ trong những trang viết
của tôi” [363,tr.63]. Ông đặc biệt tâm đắc với quan niệm của G.Lukacs: “Lối thoát của
nhà văn khi bị áp bức tối đa, duy nhất chỉ một con đường là viết truyện dã sử hoặc huyền
thoại”. Không ít sáng tác của Sơn Nam phảng phất màu sắc dã sử, huyền thoại vì theo
ông, lịch sử khẩn hoang và cuộc kháng chiến chống Pháp chính là một huyền thoại thâm
trầm và vĩ đại của dân tộc!
Sơn Nam quan niệm khi viết về nguồn cội của dân tộc, của quê hương, để hiểu
biết sâu sắc, khách quan thì không chỉ hướng nội mà còn cần nhìn ra bên ngoài, đặt nền
văn hóa của mình trong mối tương quan với các nền văn hóa khác của khu vực và thế
giới, giữ gìn văn hóa truyền thống đồng thời học tập tinh hoa văn minh hiện đại.
Theo bài Tựa cho tập sách Người Quảng Nam, ông viết: “Viết về vùng đất mình sinh ra
là chọn con đường đi đúng hướng, để qua đó sống lại với đời sống tâm linh nguồn cội.
Đời sống tâm linh là cần, nhưng cái tâm linh dạt dào sức sống ấy phải thúc đẩy con
người nhìn ra thế giới, với các nước láng giềng. Tự tôn với cái “tâm linh thuần tuý” của
mình là tự sát. Phải tạo ra cái vật chất, phải có khoa học kỹ thuật, phải tồn tại và tồn tại
cho bằng được.”
Những lời dặn dò của Sơn Nam rất bổ ích cho các thế hệ nhà văn trẻ vì trong giai
đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, điều cần thiết trước hết là phải giữ gìn được bản sắc của

thức làm ăn nhưng đều nặng lòng với nơi chôn nhau cắt rún. Đó là nét văn hóa đặc trưng dễ
nhận thấy ở người dân vùng đất này. Sự hình thành miệt vườn đã tạo nên hệ sinh thái mới,
đẩy lùi tình trạng sình lầy, thú dữ lan tràn, giúp con người có cuộc sống ổn định. Vườn cây
mở ra, dân miệt vườn thêm đông đúc, nhà cửa khang trang, xóm làng trù phú. Cảnh sông
nước, vườn, ruộng nối liền nhau, trên bến dưới thuyền là sự đổi mới hoàn toàn so với thời
dân cư thưa thớt, sông rạch ngăn cách việc giao thông, đi lại trước đây.
Sơn Nam gọi châu thổ sông Cửu Long là Văn minh Miệt Vườn, văn minh sông
nước hay văn minh sông rạch để nói lên tính chất cá biệt của sông nước miền Nam, chỗ
nào cũng sông, cũng rạch, một nét đặc thù chỉ có ở miền Nam. Về mặt địa lí của miệt
vườn, nhà văn Sơn Nam xác định: “Miệt vườn là vùng Sa Đéc, Mỹ Tho, Vĩnh Long, sau
này là một phần của Cần Thơ. Vùng miệt vườn là nơi có mật độ dân số cao nhứt, theo

Trích đoạn Sơn Nam – Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn so sánh Miền đất mới Nam Bộ vừa hoang sơ, đầy thách thức vừa phong nhiêu, đầy hứa hẹn trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc Hai vùng Tây và Đông Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc Ứng xử hòa hợp với tự nhiên của con người Nam Bộ qua truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc Nghệ thuật thể hiện không gian văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status