BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐINH LỆ GIANG
TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐINH LỆ GIANG
TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY
TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đoàn Đức Phương
HÀ NỘI, 2015
cứu của các công trình khác nhưng luôn đảm bảo yêu cầu về trích dẫn tài liệu
theo quy định.
Những kết quả đạt được trình bày trong luận văn đã trải qua quá trình
tìm hiểu, nghiên cứu với các phương pháp khoa học được sử dụng trong
nghiên cứu văn học. Tôi cũng đã áp dụng phương pháp tiếp cận văn hóa học
để có cái nhìn bao quát, có cách đánh giá khách quan và đảm bảo tính khoa
học, tính trách nhiệm trong phát biểu của mình.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Đinh Lệ Giang
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................. 3
3. Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu ....................................................... 7
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 8
5. Đóng góp của luận văn .................................................................................... 8
6. Cấu trúc luận văn ............................................................................................ 9
NỘI DUNG .............................................................................................................. 10
Chương 1: VẤN ĐỀ TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC
CỦA ĐỖ BÍCH THÚY ...................................................................................................... 10
1.1. Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và văn học ............................................... 10
1.1.1. Sự ảnh hưởng chi phối của văn hóa và văn học ................................................ 10
1.1.2. Phương pháp tiếp cận văn hóa học ................................................................... 18
1.2. Sáng tác của Đỗ Bích Thúy................................................................................. 21
Ngôn ngữ và giọng điệu .................................................................................. 69
3.1.1. Ngôn ngữ đặc trưng của văn hóa Tây Bắc ....................................................... 70
3.1.2. Giọng điệu trữ tình.......................................................................................... 79
3.2.
Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật....................................................... 88
3.2.1. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật .......................................................... 89
3.2.2. Nghệ thuật khắc họa tâm lý nhân vật .............................................................. 96
3.3.
Thời gian không gian nghệ thuật .................................................................... 104
3.3.1. Thời gian nghệ thuật ..................................................................................... 105
3.3.2. Không gian nghệ thuật ................................................................................... 111
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 116
THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 120
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa và văn học có mối quan hệ hữu cơ không tách rời, văn hóa chi phối
đến mọi mặt đời sống văn học nhưng chính văn học cũng góp phần làm nên các giá
trị văn hóa tinh thần. Nếu văn hoá thể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người
trước thế giới, thì văn học là hoạt động lưu giữ những thành quả đó một cách sinh
động nhất. Để có được những thành quả đó, văn hoá của một dân tộc cũng như của
toàn thể nhân loại từng trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, chọn lựa, đấu tranh và
sáng tạo để hình thành những giá trị trong xã hội. Văn học vừa thể hiện con đường
Mặc dù thành công với nhiều thể loại như: truyện vừa Người đàn bà miền
núi (2007), tản văn Trên căn gác áp mái (2011), tiểu thuyết Dưới bóng cây sồi
(2005), Cửa hiệu giặt là (đoạt giải Văn học Nghệ thuật Thủ đô 2013-2014), tiểu
thuyết lịch sử Cánh chim kiêu hãnh (2013)… kịch bản sân khấu Cô gái xinh đẹp,
Quá khứ đòi nợ, Diễm 500 đô… nhưng có thể nói, thành công nhất trong sáng tác
của Đỗ Bích Thúy là thể loại truyện ngắn, những tác phẩm viết về con người và
mảnh đất nơi chị sinh ra. Truyện ngắn của chị mang người đọc đến với mảnh đất Hà
Giang, với hương vị của núi rừng; của con suối chảy ra từ khe đá lạnh; của mây trời
đặc sánh “như một bầy trăn trắng đang quấn quyện vào nhau”; của mùi ngải đắng,
mần tang; của những nét ăn, nét ở, phong tục tập quán còn giữ nguyên vẻ hoang sơ,
thuần phác; của ánh trăng “cứ rọi vào nhà cả đêm, trăng đi một vòng cửa trước ra
cửa sau”; của những trái tim con gái vật vã, cháy bùng tiếng khèn gọi tình dưới
thung xa; của bếp lửa nhà sàn và tiếng mõ trâu gõ vào khuya khoắt… Tìm hiểu,
nghiên cứu truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy là tìm hiểu những nét riêng trong văn
hóa của vùng cao Tây Bắc.
Nghiên cứu truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy từ góc độ văn hóa là việc làm
thiết thực, giúp người đọc thấy được rõ hơn những tín hiệu văn hóa đặc trưng của
vùng núi cao “đỉnh trời” trong sáng tác của chị và hiểu rõ thêm mối quan hệ hai
chiều giữa văn hóa và văn học. Đồng thời cũng là một dịp để chúng tôi hiểu kĩ, hiểu
sâu hơn những khía cạnh lí thuyết về phương pháp nghiên cứu văn hóa học, đồng
thời rèn luyện, nâng cao kĩ năng vận dụng những tri thức lý luận trong nghiên cứu
văn học.
3
2. Lịch sử vấn đề
Trong phạm vi đề tài luận văn này, chúng tôi xuất phát từ mối quan hệ hữu
cơ giữa văn hóa và văn học để đi sâu khảo sát truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, tìm
hiểu và đánh giá những giá trị nội dung và các yếu tố nghệ thuật tác phẩm của chị
văn học đã có không ít những công trình đề cập đến như các công trình nghiên cứu
văn học dân gian và các tác giả nổi bật trong văn học trung đại. Có thể kể đến hàng
loạt những công trình, vừa ảnh hưởng của tư tưởng của H.Taine, vừa mang tư tưởng
mới của thế kỉ XX và vừa cho thấy sự ảnh hưởng sâu sắc cũng như sự phá cách,
mang đậm nét riêng, dấu ấn cá nhân của tác giả như: Thi nhân Việt Nam (Hoài
Thanh – Hoài Chân, Nhà in Nguyễn Đức Phiên, 1942); Quan niệm con người trong
sáng tác Nguyễn Khuyến, trong sách Nguyễn Khuyến, đời và thơ (Trần Đình Sử,
NXB Giáo dục Hà Nội – 1995); Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam (thời kì cổ - cận đại)
(Nguyễn Huệ Chi, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội – 1983), Suy nghĩ về phong cách
lớn và phân kì lịch sử văn học Việt Nam (Đỗ Đức Hiểu, Tạp chí Văn học, số 3 –
1985), Văn học trung đại Việt Nam – quan niệm con người và tiến trình phát triển
(Nguyễn Hữu Sơn, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội – 1995), Nhà Nho tài tử và văn
học Việt Nam (Trần Ngọc Vương, NXB Giáo dục, Hà Nội – 1995), Vấn đề “ngã”
và “phi ngã” trong văn học Việt Nam trung cận đại (Nguyễn Đình Chú, Tạp chí
Văn học, số 5 – 1999)…
Những năm cuối của thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, rất nhiều những xu hướng
nghiên cứu văn học nổi lên và đã có một thời, giới nghiên cứu cũng như độc giả đã
thực sự bị “nhiễu loạn” vì điều đó. Tuy nhiên, những giá trị thực, những hướng đi
đúng thì tự thân đã khẳng định được vị thế của mình. Nghiên cứu văn học từ góc
nhìn văn hóa vẫn là một hướng đi đúng, khoa học và sâu sắc. Đã có không ít những
công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học cho thấy rõ điều đó như: Nguyễn Bính –
hành trình sáng tạo thi ca (Đoàn Đức Phương, Nxb Giáo dục, 2005); Văn hoá nghệ
thuật dưới góc nhìn xã hội học (Đoàn Đức Phương, Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số
10/2005); Con người nhân văn trong thơ ca Việt Nam (Đoàn Thị Thu Vân, NXB
Giáo dục, Hà Nội – 2007), Trào lưu trữ tình trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII –
đầu thế kỉ XIX và dấu vết ảnh hưởng của sách “Thế thuyết tân ngữ” (Trần Nho
Thìn, Nghiên cứu Văn học, số 12 – 2007), Văn học trung đại Việt Nam dưới góc
nhìn văn hóa (Trần Nho Thìn, NXB Giáo dục Hà Nội – 2008)…
quán đặc thù khiến người đọc luôn cảm thấy tò mò và bị cuốn hút (…) Trong truyện
6
ngắn của Đỗ Bích Thúy, không gian Tây Bắc hiện lên đậm nét, để lại dư vị khó
quên trong lòng độc giả.” [2; tr.3]
Trong bài viết Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và
Nguyễn Ngọc Tư đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội (661) tháng 1/2007, tác giả
Phạm Thùy Dương cho rằng truyện ngắn Đỗ Bích Thúy luôn có cái nhìn nhân ái về
con người. Tác giả thấy rõ trong truyện ngắn của chị “đằng sau cuộc sống, khí chất
của con người mỗi vùng đất là tình cảm cảm thương sâu sắc của nhà văn tới những
con người bất hạnh.” [8; tr.102]
Nhà văn Trung Trung Đỉnh trong bài viết Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy in
trên báo Văn nghệ số 5, ra ngày 3/2/2007 cảm nhận khá sâu sắc về văn phong Đỗ
Bích Thúy: “Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống
của con người miền cao một cách tài tình. Không truyện nào là không kể về cách
sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán.
Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù các tác giả không hề cố ý đưa vào
chi tiết lạ. Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chi tiết
rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có.” [14; tr.58]
Nhà văn Lê Thành Nghị trong bài báo Từ truyện ngắn của một người viết trẻ
đăng trên báo Văn nghệ trẻ (số 3/2005), đã có cảm nhận tinh tế của mình: “Chúng ta
sẽ bước vào một không gian lạ, không gian có núi cao, trời rộng của vùng núi phía
Bắc, nơi từ đó nhìn xuống, dòng sông Nho Quế chỉ còn bé như sợi chỉ dưới chân
núi Mã Pí Lèng. Một không gian đầy hoa lá rừng, có tiếng gà gáy tách te trong bụi
rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên cuội đỏ, có những chàng trai
thổi sáo theo sau các cô gái khoác quẩy tấu xuống chợ; những nồi thắng cố nghi
ngút khói trong phiên chợ vùng cao đầy màu sắc; những đêm trăng sóng sánh huyền
ảo, những cụm mần tang mọc trong thung lũng; tiếng đàn môi réo rắt sau bờ rào đá;
Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài luận văn chúng tôi chỉ tập trung vào
nghiên cứu một số truyện ngắn trong các tập: Tiếng đàn môi sau bờ rào đá (NXB
CAND, Hà Nội, 2005); Mèo đen (NXB Thời đại, 2011); Đàn bà đẹp (NXB Văn
học, 2013), và một số truyện ngắn đăng trên các báo, tạp chí và trang cá nhân của
chị.
8
4. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài luận văn này chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp
nghiên cứu sau:
Phương pháp tiếp cận văn hóa học
Sử dụng phương pháp này, trước hết chúng tôi xem xét những ảnh hưởng
của các yếu tố văn hóa của vùng đất có ảnh hưởng đến các yếu tố nội dung và nghệ
thuật của truyện ngắn Đỗ Bích Thúy. Đồng thời cũng lý giải những tín hiệu văn hóa
có trong truyện ngắn của chị.
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phân tích là thao tác nhằm chỉ ra sự ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa trong
tác phẩm của chị. Còn thao tác tổng hợp nhằm khái quát lên những đặc điểm nổi
bật.
Phương pháp so sánh, đối chiếu
- So sánh đồng đại: So sánh với các tác giả, tác phẩm cùng thời để thấy
những nét tương đồng và khác biệt trong nội dung, đề tài, tư tưởng thẩm mỹ, nghệ
thuật thể hiện của các nhà văn, những nét giống và khác nhau trong việc phản ánh
hiện thực đời sống.
- So sánh lịch đại: So sánh đối tượng với các tác phẩm trước để thấy được sự
tiếp nối và đổi mới của Đỗ Bích Thúy trong việc thể hiện con người, cuộc sống
vùng cao Tây Bắc.
Phương pháp nghiên cứu tác giả:
VẤN ĐỀ TIẾP CẬN VĂN HÓA HỌC
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA ĐỖ BÍCH THÚY
1.1. Mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và văn học
1.1.1 Sự ảnh hưởng, chi phối của văn hóa và văn học
Quá trình phát triển của nhân loại, cải tạo tự nhiên, cải tạo đời sống của cá
nhân và của cả cộng đồng xã hội vừa dựa trên những quy luật chung của thế giới tự
nhiên, vừa xây dựng những quy luật riêng của thế giới loài người là một quá trình
sáng tạo văn hóa. Trong sự sáng tạo và phát triển văn hóa này, chủ thể là con người,
khách thể là tự nhiên, mà văn hóa là sự thống nhất của các mặt đối lập con người và
tự nhiên, giữa khách thể và chủ thể. Cái gọi là “tự nhiên” ở đây, không chỉ nói về
giới tự nhiên tồn tại bên ngoài và đối lập với bản thân con người, mà còn là bản
năng con người, các tính chất của thân thể con người, tính tự nhiên nội tại. Xuất
phát điểm của văn hóa là dựa vào hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, tiến đến
cải tạo con người. Con người sáng tạo văn hóa, đồng thời văn hóa cũng sáng tạo
con người. Do vậy, hàm nghĩa thực chất của văn hóa là “người hóa”, là quá trình
chủ thể con người thông qua hoạt động thực tiễn, thích ứng, lợi dụng, cải tạo khách
thể giới tự nhiên mà dần dần hình thành quan niệm giá trị của mình.
Văn hóa nghĩa rộng là chỉ tất cả của cải vật chất và tinh thần do con người
sáng tạo nên. Nó nói lên sự khác biệt về bản chất giữa con người và động vật nói
chung, giữa xã hội loài người và giới tự nhiên, nói lên phương thức sinh tồn đặc biệt
của con người cao hơn giới tự nhiên. Do nội hàm phong phú của nó mà có những
phân loại rất khác nhau. Có khi văn hóa được phân thành hai loại văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần; có khi văn hóa được phân thành ba loại: văn hóa vật chất, văn
hóa chế độ, văn hóa tư tưởng; cũng có khi văn hóa được phân thành năm loại: văn
hóa mang tính sinh sản, văn hóa mang tính đời sống, văn hóa mang tính giao tế, văn
hóa mang tính chế độ, và văn hóa mang tính quan niệm.
Văn hóa nghĩa hẹp chủ yếu bao gồm văn hóa chế độ và văn hóa tư tưởng mà
con người sáng tạo ra. Trong nhiều sách viết rằng văn hóa theo nghĩa hẹp chỉ thiên
rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
12
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [32, tr.431].
Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và
phát minh ra. Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của Hồ
Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống
con người.
Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng
phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có
liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người
làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo
đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên
ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức
chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [74; tr. 22]. Theo định nghĩa này
thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ
tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc.
Dưới đây, chúng tôi xin trích dẫn khái niệm của UNESSCO về văn hóa trong
bản tuyên bố những chính sách về văn hóa trong Hội nghị quốc tế tổ chức từ 26
tháng 7 đến 6 tháng 8 năm 1982 tại Mêhicô:
- Văn hóa là tổng thể các nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và
xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.
- Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền
cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín
ngưỡng. Văn hóa làm cho con người có khả năng suy xét về bản thân. Chính văn
hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có
Sholokhov... Hay với văn học Việt Nam, người đọc được thưởng thức những đặc
sản văn hóa vùng đất Nam Bộ trong các sáng tác của Sơn Nam, Nguyễn Quang
Sáng, Nguyễn Ngọc Tư... thì Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Duy lại cho ta cảm
nhận được nét nghĩ, cách cảm và cả tâm hồn đằm thắm, sâu sắc của vùng văn hóa
Trung Bộ; Nam Cao, Nguyễn Tuân, Thạch Lam... đưa ta về vùng đồng bằng Bắc
Bộ và Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy lại đưa ta lên với vùng đất có những con người
14
mang trong mình hơi thở của núi rừng, của suối lũ mưa nguồn Tây Bắc.... Không
chỉ mỗi quốc gia, dân tộc mà ngay cả mỗi vùng lãnh thổ, miền quê cũng mang trong
mình những đặc điểm văn hóa khó trộn lẫn, phải chăng đó là cái “hồn đất” ngấm
vào mỗi con người để toát lên thành những nét văn hóa riêng. Văn học như cỗ máy
kì diệu, đưa người đọc vượt không gian để được biết đến những vùng miền văn hóa
khắp nơi trên thế giới để ngấm cái “hồn đất” ấy.
Văn học còn đưa người đọc vượt thời gian để trở về với quá khứ xa ngái, để
thấy và hiểu được cả một thời kì văn hóa, xã hội của nhân loại. Illiade và Odyssée
hai bản trường ca bất hủ của Homere không chỉ đưa người đọc về quá khứ xa xôi
của nước Hy Lạp để biết về cuộc chiến thành Troie mà ở phương diện nào đó còn
cho thấy sự phát triển đi lên của nền văn hóa lục địa già, sự văn minh của con người
nơi đó. Nếu Illiade ca ngợi sức mạnh thể lực của con người thì Odyssée ca ngợi vẻ
đẹp trí tuệ và phải chăng sức mạnh vô bờ, vẻ đẹp rực rỡ nhất của con người chính là
trí tuệ. Lev Tolstoi không chỉ cho người đọc được thấy con người Nga kiên cường,
nhân hậu trong cuộc kháng chiến vệ quốc mà đó còn là sự trưởng thành, quá trình
thức tỉnh của cả một thế hệ trẻ nước Nga hay châu Âu khi đó đang mất phương
hướng, đang thần thánh hóa Napoléon. Ca dao, tục ngữ, truyện cổ Việt Nam cho
thấy những đặc trưng của nền văn hóa lúa nước, nền sản xuất phụ thuộc vào thiên
nhiên và còn thấy được mối quan hệ xã hội, những mâu thuẫn gay gắt giữa giai cấp
bị trị với giai cấp thống trị. Văn học thời Trần cho ta thấy khí thế hào sảng của một
coi mình là hơn hết thảy thì trong Bài ca ngất ngưởng Nguyễn Công Trứ vẫn đinh
ninh “nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung”... Như vậy, văn học có thể được coi là
biểu hiện của tâm thức văn hóa dân tộc. Các hiện tượng văn học thường ẩn chứa
trong nó những yếu tố văn hóa bền vững, hiện diện trên bề mặt của hiện thực đời
sống hoặc trong sâu thẳm tâm thức văn hóa của con người.
Sáng tác văn học chính là một hành vi văn hóa cao đẹp của người nghệ sĩ.
Trong đó, nhà văn sẽ phải chọn lọc các cách xử lý mối quan hệ phức tạp của con
người với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình... bằng những tâm thức văn hóa
của chính mình. Vậy nên, chưa người Việt nào lại chê chị Dậu trong tác phẩm Tắt
đèn của Ngô Tất Tố, hay đem so sánh với Fantine trong Những người khốn khổ để
phê phán như Trần Đăng Khoa trong cuốn Chân dung và Đối thoại. Chị Dậu buộc
phải bán con để chuộc chồng bởi cái quan niệm văn hóa đã ăn sâu và trong tiềm
16
thức của người Việt chúng ta hàng bao nhiêu thế kỷ mà không dễ gì lý giải nổi. Cái
tư tưởng “xuất giá tòng phu” của Nho giáo chi phối hành động của chị hay cái quan
niệm rất thuần Việt “giàu bán chó, khó bán con”, và cái chuyện “bán vợ, đợ con” đã
có một thời như là phổ biến, điều bình thường trong xã hội đã khiến chị hành xử
như thế? Nhưng rõ ràng, cách hành xử của chị Dậu và Fantine khác nhau hay của
hai nhà văn: Ngô Tất Tố và V.Hugo khác nhau thể hiện những đặc trưng khác nhau
của hai nền văn hóa. Và nếu so sánh chị Dậu với hàng loạt các nhân vật nữ khác
trong văn học Việt Nam người đọc mới thấy hết những giá trị văn hóa đã lắng đọng
lại thành một hệ thống chuẩn mực cho người phụ nữ Việt Nam qua nhiều thời kì
lịch sử.
Như vậy, văn hóa tác động sâu sắc đến văn học thông qua sự cảm nhận, thẩm
thấu những giá trị văn hóa của người nghệ sĩ sáng tác. Do đó, bên trong cá tính sáng
tạo nghệ thuật, những nét đặc trưng rất riêng của mỗi người cầm bút thì trong cách
xử lý các tình huống, lựa chọn các tình tiết và lớn hơn là xây dựng các hình tượng
phóng. Dù là phản ứng trước những làn sóng văn hoá tiêu cực hay cổ vũ cho sự tiếp
biến văn hoá, giới trí thức sáng tác tinh hoa bao giờ cũng là những người tiên phong
mở ra hướng mới của văn hoá dân tộc. Nói như học giả Đinh Gia Trinh trong Lời
phi lộ đăng trên Văn học tạp chí số 1 năm 1932 thì: “Muốn giữ cho cái quốc hồn
của mình đừng siêu lạc, cái quốc túy của mình khỏi thất tán, cái quốc hoa của mình
ngày một thêm rực rỡ tốt tươi thì thế nào cũng phải trau chuốt, sửa sang, sắp đặt,
gom góp, chỉnh đốn thứ tiếng nói ấy thành văn thành vẻ, thành riêng hẳn, là đặc sản
của dân tộc mình mới được”. Trau chuốt, sửa sang, sắp đặt, gom góp, chỉnh đốn...
vốn ngôn ngữ của dân tộc thì người đóng vai trò to lớn chính là đội ngũ những
người nghệ sĩ sáng tạo văn học. Giữ cho cái quốc hồn, quốc túy, quốc hoa.. đó
chính là những giá trị văn hóa.
Không chỉ là một thành tố của văn hóa, một phương tiện lưu giữ các giá trị
văn hóa mà văn học còn góp phần làm giàu hơn cho nền văn hóa ở khả năng sản
sinh ra các giá trị văn hóa mới, các giá trị tinh thần mới và ở các nhà văn, nhà thơ
lớn, tư tưởng ấy còn có khả năng vượt qua các giới hạn thời gian và không gian.
Hình tượng nhân vật Jeann Val Jean trong Những người khốn khổ quả thực đã lay
động không ít thế hệ độc giả và “lẽ sống tình thương” là tư tưởng văn hóa, nhân
văn cho mọi con người, mọi thời đại. Tinh thần Thơ mới mang đến cho con người ý
18
thức về tự do, về khát vọng hạnh phúc cá nhân, làm thay đổi cách nghĩ, cách sống
của con người trở nên tích cực hơn, nhân văn hơn... Nhưng cũng có thể nói, tư
tưởng của Thơ mới, tinh thần đó đã được xuất hiện trong sáng tác thơ ca của
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ... Nghĩa là chính các nhà nghệ sĩ
vĩ đại của dân tộc đã không cần đến luồng gió mới của phương Tây, của châu Âu
mà đã tự bản thân mình sáng tạo ra cái giá trị văn hóa đầy nhân văn, nhân bản ấy.
Văn học thực sự đã đi vào đời sống văn hóa, đó là sự đóng góp dễ nhận thấy
thông qua nhiều cách thức diễn đạt của văn học đã trở thành lời nói quen thuộc của
ngôn ngữ nhân vật... đều thể hiện những đặc trưng văn hóa. Người ta gọi đó là quá
trình thẩm thấu và truyền đi của văn học và văn hóa, và quá trình đó diễn ra theo cả
hai chiều: lịch đại và đồng đại. Một mặt, những giá trị từ nguồn văn hoá truyền
thống thẩm thấu, chảy trong mạch ngầm của nó và thấm vào thế giới hình tượng và
ngôn từ của tác phẩm mà đôi khi chủ thể sáng tạo không ý thức một cách tự giác.
Mặt khác, những giá trị văn hoá mới hình thành vào lúc đương thời không thôi cám
dỗ, kêu gọi, thách thức, đòi hỏi nhà văn phải trả lời, trực tiếp hay gián tiếp, bằng
ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm của mình. Đặng Thai Mai trong cuốn Văn học
khái luận đã cho rằng: “Giữa các cơ cấu hyền diệu của văn hóa vẫn có những sợi
dây liên lạc bất di bất dịch, để hỗn hợp những ảnh hưởng của thổ nghi, khí hậu, trú
trạch dân cư và thần thánh của giống người thành một khối cố định mà trí tính có
thể nhận thấy rõ là dính líu chặt chẽ với nhau... Vậy nên lịch sử là một tập “dư địa
chí” hay đi, thì văn học có thể xem như một pho “dân sinh trí” biết nói và biết mơ
mộng”. Vậy nên, đó là cơ sở quan trọng để chúng ta tin rằng, không thể xem xét,
đánh giá đầy đủ mọi phương diện, giá trị, tư tưởng của một tác phẩm văn học nếu
không đặt nó trong mối tương quan với văn hóa.
Văn hóa là một hệ thống tổng thể bao gồm nhiều thành tố tạo thành thì văn
học là một thành tố quan trọng và như chúng tôi đã đề cập ở phần trên, giữa văn hóa
và văn học có mối quan hệ hữu cơ không tách rời. Vậy phương pháp tiếp cận văn
hóa học được hiểu là phương pháp nghiên cứu văn học dựa trên mối quan hệ hữu cơ
đó và xem xét, nghiên cứu văn học trong một hệ thống tổng thể các giá trị văn hóa.
Nói như M.Bakhtin thì: “Cần phải nghiên cứu văn học và tác phẩm văn học như
những hệ thống chỉnh thể ở hai cấp liên đới. Hệ thống chỉnh thể của tác phẩm gia