BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
VÕ MINH HẢI
NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT TRUYỆN KIỀU
TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 60 22 01 21
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Công trình được hoàn thành tại: Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư
phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Thu Yến
(ghi rõ họ tên, chức danh khoa học, học vị)
Phản biện 1: PGS. TS. Lê Giang
Trường ĐH KHXH & NV, Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh
Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Thành Thi
Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh
Phản biện 3: TS. Nguyễn Ngọc Quận
Trường ĐH KHXH & NV, Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
Trường họp tại: vào hồi……giờ…ngày….tháng…năm 2015
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh
- Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
quá ư lộng lẫy nhưng bề bộn rườm rà của Hoa tiên hay đẽo gọt vụng về
của Sơ kính tân trang. Quả thật ngôn ngữ Truyện Kiều gần với thôn
ca hơn cả.
Về vấn đề ngôn ngữ Truyện Kiều, chúng tôi nhận thấy, những
khái quát về giá trị ngôn ngữ của tác phẩm này đã có những đánh giá
cụ thể bằng nhãn quan thẩm mỹ mang tính định lượng, bằng những số
liệu thống kê khá cụ thể và chi tiết, cụ thể có: Từ điển Truyện Kiều của
Đào Duy Anh, Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử, Tìm hiểu từ
ngữ Truyện Kiều của Lê Xuân Lít, Từ ngữ Việt và từ ngữ Hán Việt
trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều của Nguyễn Thuý Hồng, Tiếp
cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa của Lê Nguyên Cẩn
2.2. Nghiên cứu ngôn ngữ văn nghệ thuật Truyện Kiều từ góc
nhìn văn hoá
Mai Quốc Liên trong bài viết Dòng bác học và dòng bình dân
trong ngôn ngữ Truyện Kiều (1966) đã cho rằng: “Nguyễn Du là một
nhà thơ vô song đã đóng góp rất nhiều vào ngôn ngữ văn học dân
tộc. công lao của ông trong việc kế thừa một cách sáng tạo ngôn ngữ
dân gian và trong việc sử dụng tài tình ngôn ngữ văn học Trung
Quốc. Thành tựu tuyệt vời của ông trong việc làm phong phú, làm
trong sáng ngôn ngữ văn học thế kỷ XIX đã có ảnh hưởng sâu xa và
lâu dài đến sự phát triển ngôn ngữ văn học dân tộc ta”. Sau Mai
Quốc Liên, Lê Đình Kỵ cũng khảo sát Sắc thái bác học, sắc thái bình
dân và tính thống nhất của ngôn ngữ Truyện Kiều, ông cũng thống
nhất quan điểm “làm thế nào kết hợp giữa hai thành phần đó trong cùng
một tác phẩm mà không có sự phân ly, chắp nối. Hoàn cảnh mỹ học cụ
thể lúc bấy giờ cho phép sự thống nhất hai thành phần ấy trong một sự
kết hợp biện chứng, hữu cơ”.
Về ngôn ngữ bình dân, nhất là lớp từ ngữ dân tộc qua ca dao, tục
ngữ, lối nói khẩu ngữ, từ địa phương đã được các tác giả Hoàng Hữu
Yên trong Cái hay, cái đẹp của tiếng Việt trong Truyện Kiều, Phạm
Nhiệm vụ cơ bản của luận văn là tiến hành phác hoạ một cách
chân thực bức tranh văn hoá, quan niệm văn hoá, một thế giới trữ
tình của Nguyễn Du và Truyện Kiều của ông.
7. Những đóng góp của luận án
Việc tìm hiểu các tầng nghĩa bề nổi, lớp trầm tích văn hoá ẩn dấu
bên trong hệ thống ngôn ngữ thể loại truyện Nôm là một hướng giải
mã văn hoá khá mới mẻ, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu
và giảng dạy truyện thơ Nôm trong nhà trường cũng như trong giới
học thuật.
8. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục,
luận án được chia thành 03 chương.
Chương 1. MỐI QUAN HỆ GIỮA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA
NHÌN TỪ QUAN NIỆM THẨM MỸ TRUNG ĐẠI
1. 1. Ngôn ngữ với văn chương và văn hóa
1.1.1. Ngôn ngữ và văn chương từ góc nhìn văn hóa
Trong dòng chảy văn hoá của một dân tộc, với những chức năng cơ
bản của mình, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện, là công cụ tư duy,
giao tiếp, lưu trữ… mà nó còn là chất liệu cơ bản để xây dựng nên thế
giới nghệ thuật thấm đẫm những sắc màu văn hoá của cả một dân tộc,
một thời đại hay một cá nhân văn hoá cụ thể - nhà văn. Bên cạnh đó,
với tư cách là mạch ngầm văn hoá, ngôn ngữ còn là một trong những
yếu tố cấu thành văn hoá, có sức lan toả và làm sáng tỏ những tính chất
trội bật của một nền văn hoá trong đời sống xã hội của một dân tộc.
1.1.2. Sự tác động của ngôn ngữ đối với văn hoá
Ngôn ngữ đã góp phần không nhỏ trong việc phản ánh, thể
hiện và phát triển những giá trị, những yếu tính cốt lõi của văn hoá.
Nó là thước đo nhân bản của xã hội và con người. Ngôn ngữ - một
hiện hữu vật chất căn bản – sẽ giúp cho văn hoá và các giá trị căn bản
của nó sẽ khúc xạ, ngấm sâu và dần hình thành chiều sâu văn hoá,
thống mã khoá nghệ thuật cần có sự phân tích, biện giải. Nó bao gồm
một hệ thống những từ, ngữ, kiểu diễn ngôn, tứ thơ, đặc điểm ước lệ,
lối nói uyển ngữ từ cú mỹ lệ của thơ ca cổ điển Trung Quốc. Bên
cạnh đó, nó còn là hệ thống những từ ngữ được thoát thai từ văn hoá,
văn học dân gian Việt Nam, từ vốn kinh nghiệm dân gian qua thành
ngữ, tục ngữ hay hệ thống hư từ, từ láy trong tiếng Việt. Lớp từ ngữ
này đã thể hiện một trình độ tiếp thu văn hoá, chiều sâu của kinh
nghiệm sống mà nhà thơ muốn gửi gắm vào trong thi phẩm của mình.
1.2.3. Giá trị thẩm mỹ của ngôn ngữ nghệ thuật tác phẩm văn
chương cổ điển Việt Nam nhìn từ góc độ văn hoá
Khảo sát hệ thống ngôn ngữ tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam
nhất là truyện thơ Nôm bác học, hệ thống thi văn liệu, điển cố, thành
ngữ Hán Việt, từ ngữ xã hội, thuật ngữ luôn là những nội dung quan
trong. Nó không chỉ là những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn mà còn là
những rào cản nghệ thuật đối với người đọc. Khi tiếp cận văn hoá với
những ngữ liệu này, người đọc sẽ giải thích được tính hợp lý vốn có
để những ngữ liệu này có thể tồn tại được, tức là người đọc có thể
phân tích và nêu bật nét nghĩa hư chỉ của ngữ liệu.
Có thể nói, tham chiếu từ góc độ văn hoá, chúng ta dễ dàng nhận thấy
ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm văn chương cổ điển Việt
Nam không chỉ là một công cụ giao tiếp đặc thù của nhà văn đối với
bạn đọc mà nó đã trở thành một hình thức giao tiếp văn hoá đặc thù.
1.3. Ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm – Tấm gương phản chiếu
văn hóa
1.3.1. Ngôn ngữ nghệ thuật truyện Nôm, một hình thức giao
tiếp đặc thù của văn học cổ điển Việt Nam
Trong quá trình hành chức của nó, hệ thống ngữ liệu đã đóng vai
trò to lớn và góp phần hình thành tính văn hoá, khả năng đa nghĩa của
ngôn ngữ truyện Nôm. Đồng thời, cách thức liên tưởng và sử dụng
ngữ liệu cũng tạo nên tính chất phức điệu, những tình điệu thẩm mỹ cổ
ở mảnh đất Hồng Lĩnh cũng là điều đáng nói. Thứ ba, từ mạch nguồn
văn hoá gia đình, phẩm chất tài hoa của người cha và tư chất nghệ sĩ
của người mẹ đã ảnh hưởng không ít đến tư tưởng thẩm mỹ của ông.
Thứ tư, Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân khi đề tự Truyện
Kiều đã viết: “Đôi mắt nhìn thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ đến ngàn
đời”. Người xưa đã chết vì kẻ tri âm nên đã thốt lên những lời tri kỷ
ấy vậy. Mộng Liên Đường quả là người thấu hiểu tâm sự của Nguyễn
Du và phong cách triết nhân của thi nhân.
1.4.2. Sự thể hiện quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du trong
thơ chữ Hán và Truyện Kiều
Một là, quan niệm thẩm mỹ của ông được bộc lộ rõ nét qua cái
nhìn về cuộc đời và con người. Nguyễn Du đã tạo nên những cơ sở
triết học, mỹ học để triển khai tư tưởng nhân sinh của mình theo
hướng kết hợp Nho, Phật và Lão trên nền tảng tâm thế Việt: lấy sự
cảm thương, đồng điệu làm điểm tựa cho những nhận định về nhân
thế. Hai là, Nguyễn Du đã xem thiên nhiên như một cõi thiêng, một
chốn đi về của tâm hồn. Ba là, quan niệm thẩm mỹ của Nguyễn Du
được thể hiện qua sự minh triết của con người thanh cao, u uẩn.
Nguyễn Du đã tuân thủ nguyên lý minh triết của Phật giáo và sắc thái
duy tình của người Việt. Bốn là, nhà thơ còn quan tâm đến bản chất,
chức năng của văn chương.
Chương 2. HỆ THỐNG NGỮ LIỆU VĂN HÓA TRONG NGÔN
NGỮ NGHỆ THUẬT TRUYỆN KIỀU
2.1. Tiếp nhận và ảnh hưởng của văn hóa Hán, bác học và văn
hoá Việt, bình dân đối với hệ thống ngữ liệu trong ngôn ngữ nghệ
thuật Truyện Kiều
2.1.1.Tiếp nhận và ảnh hưởng của văn hoá Hán, văn hoá
bác học đối với hệ thống ngữ liệu trong ngôn ngữ nghệ thuật
Truyện Kiều
Dấu ấn thẩm mỹ của hệ thống ngữ liệu (là những dẫn chứng, dẫn
2.1.3. Đặc trưng thẩm mỹ của hệ thống ngữ liệu văn hóa trong ngôn ngữ
nghệ thuật Truyện Kiều
2.1.3.1. Đặc trưng thẩm mỹ của các ngữ liệu văn hoá Hán,
bác học trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
Trong Truyện Kiều, cách sử dụng và bố trí ngữ liệu văn hoá của
Nguyễn Du vừa hấp dẫn, vừa chuẩn mực đồng thời còn thể hiện cá
tính sáng tạo của nhà thơ. Thông qua các ngữ liệu đã được chuyển
dịch, chuyển dẫn một cách khéo léo, người tiếp nhận có thể tìm thấy
được vẻ đẹp về thế giới hình tượng phong phú, sinh động được diễn
đạt bằng nghệ thuật ẩn dụ, biểu trưng, uyển ngữ của văn cách trung
cổ. Bên cạnh tính điển phạm, tập cổ, đăng đối , hệ thống ngữ liệu
văn hoá trong ngôn Truyện Kiều nói riêng đã thể hiện tính trang nhã,
uyên bác phù hợp với tính chất bác học trong quan niệm xưa.
2.1.3.2. Đặc trưng thẩm mỹ của các ngữ liệu văn hoá Việt,
bình dân trong ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều
Với hệ thống từ ngữ bình dân, tác giả dường như lách nhẹ, đi sâu
vào chân tơ kẽ tóc của những phẩm cách, ngoại hình của các nhân vật
phản diện. Trong ngôn ngữ Truyện Kiều, chúng tôi thống kê được
332 thành ngữ được sử dụng nguyên mẫu và 113 thành ngữ tách xen
và được vận dụng một cách sáng tạo. Truyện Kiều đánh dấu một
bước phát triển mới về chất, có ý nghĩa đặc biệt trong việc học tập
thơ ca dân gian và ngôn ngữ quần chúng của nhà thơ. Nguyễn Du vận
dụng khẩu ngữ, thành ngữ, tục ngữ; trong đó thành ngữ được vận
dụng nhiều nhất.
Lớp từ vựng khẩu ngữ của quần chúng đã đi vào thơ Nguyễn Du
một cách chan hoà, dung dị và nhẹ nhàng, giữ một vị trí đặc biệt quan
trọng. Với 1.736 lượt xuất hiện như vây, hệ thống hư từ không chỉ thể
hiện sự linh hoạt trong việc thể hiện cách sử dụng hư từ mà còn góp
phần làm đa dạng hoá các lớp từ trong ngôn ngữ tác phẩm, thể hiện
tính dân dã, khẩu ngữ.
bình dân
Riêng Truyện Kiều, trong tổng số 1102 ngữ liệu được khảo
sát, số lượng 445 thành ngữ được sử dụng là một con số khá lớn. Cụ
thể là 170 thành ngữ có xuất xứ từ văn học dân gian Việt Nam, 162
thành ngữ có xuất xứ từ văn học, văn hoá bác học Trung Hoa và 113
thành ngữ tạo mới. Tât nhiên trong số này, 332 thành ngữ được sử
dụng nguyên dạng và 113 thành ngữ được vận dụng sáng tạo, tách
xen như một phương tiện tu từ mà không mất đi vẻ cân đối, bóng bẩy
của câu thơ. Các số liệu về từ ngữ được so sánh và phân tích trên đã
góp phần thể hiện một bức tranh ngôn ngữ đa dạng với nhiều thành
phần khác nhau trong ngôn ngữ Truyện Kiều (qua so sánh đối chiếu
với Hoa Tiên, Lục Vân Tiên). Ngoài, cùng với sự kết hợp hài hoà
giữa hai yếu tố văn hoá bác học và bình dân trong ngôn ngữ Truyện
Kiều, sự trội bật của ngôn ngữ bình dân đã nâng cao giá trị văn hoá,
thẩm mỹ của ngôn ngữ nghệ thuật tác phẩm.
2.3. Nghệ thuật sử dụng ngữ liệu văn hóa trong ngôn ngữ nghệ
thuật Truyện Kiều
2.3.1. Hệ thống ngữ liệu văn hoá được chuyển dẫn tự nhiên,
biến hoá và thích hợp với nội dung ngữ cảnh
Hệ thống mỹ từ văn hoá trong Truyện Kiều phần lớn là các ngữ
liệu có chiều hướng thiên về quá khứ. Nó được thể hiện qua hàng loạt
các từ ngữ thi ca, dẫn ngữ, thi liệu, điển cố mà chúng tôi gọi chung
là ngữ liệu văn hoá.
Với ngôn ngữ bác học trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sử dụng
một hệ thống ngữ liệu mang tính nghiêm trang, tôn kính để phác họa
những tính cách hoặc miêu tả tính cách nhân vật. Với ngôn ngữ bình
dân, ông thường sử dụng hệ thống này với các nhân vật phản diện,
mang tính chất phê phán.
2.3.2. Hệ thống ngữ liệu văn hoá được vận dụng và chuyển dẫn một
cách sáng tạo
LIỆU VĂN HOÁ TRONG NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
TRUYỆN KIỀU
3.1. Ngữ liệu văn hoá với sự thể hiện tính triết luận và bức
tranh thời đại qua ngôn ngữ tác giả
3.1.1. Tính triết luận và trầm tích văn hóa qua ngôn ngữ trữ tình
Tính triết luận ở đây được hiểu như là chiều sâu văn hoá, những
tác động văn hoá đến sự lựa chọn, sử dụng các ngữ liệu bình dân, bác
học trong ngôn ngữ trữ tình hay tự sự của tác phẩm, tác giả. Do đó,
theo chúng tôi, tính triết luận của lớp từ ngữ văn hoá trong một tác
phẩm văn học cổ điển được thể hiện ở chỗ nó đã giúp tác giả phản
ánh, nghiền ngẫm về hiện thực, cuộc sống, quan niệm nhân sinh,
miêu tả nhân vật, biểu đạt tình cảm cá nhân qua thế giới nghệ thuật
phong phú, đa dạng.
Giá trị đích thực của hệ thống hình tượng nghệ thuật, của bức
tranh sống động của cuộc sống trở nên phong phú và đa dạng hơn
thông qua hệ thống ngôn ngữ triết lý, trữ tình của nhà thơ. Với cái
nhìn tinh tế, tư duy nhạy bén và lăng kính mỹ thuật độc đáo, Nguyễn
Du đã thể hiện một chiều kích văn hoá phức hợp qua một hệ thống
ngôn ngữ đặc sắc giàu tính triết mỹ, đậm tính trữ tình. Mỗi câu thơ
của ông chẳng những nhuốm một vẻ đẹp u tịch, triết mỹ của thơ ca
phương Đông mà còn hiển hiện những đường nét lung linh của văn
hoá Á Đông.
Trong tư duy nghệ thuật và quan niệm thẩm mỹ của nhà thơ, hai
đặc trưng này chuyển hoá, tác động qua lại một cách thần tình khiến
cho ngôn ngữ trữ tình của nhà thơ luôn sinh động, có tính triết mỹ,
không có sự lặp lại, điều đó tạo nên sự trong sáng, hài hoà của ngôn
ngữ tác giả và nhân vật trong thiên truyện.
3.1.2. Bức tranh văn hóa thời đại qua ngôn ngữ tự sự
Ngôn ngữ tự sự của tác giả, nếu xét từ phương diện kể, được hiểu
là những lời kể của tác giả nhằm nêu lên một vấn đề nào đấy. Để mở
Để nhận chân cái vẻ bề ngoài của Khổng Tước văn tưởng cũng thật
dễ dàng, bởi ngoại diện của nó đã được phô ra hết bên ngoài, nhưng
vấn đề là nhận ra được sự ẩn hàm những tàng độc của nó như mối
quan hệ giữa vẻ đẹp bên ngoài của công lại dung chứa một hệ thống
lục phủ ngũ tạng đầy chất độc. Tác giả đã khéo léo sử dụng mối quan
hệ ấy dưới bộ lông sặc sỡ của Khổng Tước. Trong tác phẩm, ở đâu
Nguyễn Du dùng những lời lẽ khoa trương, ồn ào thì ở đó có sự xuất
hiện của những kẻ chuyên sống bằng xác thịt con người, bằng mưu mô
và thủ đoạn, những lừa dối, sự tầm thường hoặc chưa hoàn thiện. Sau
cái đêm ở trú phường, khi đã ở ngoài mươi dặm trường đình, Thuý Kiều
tâm sự với Vương Bà trước lúc chia tay, đã nhận xét về Mã: “Khác màu
kẻ quý người thanh/ Ngẫm ra cho kỹ như hình con buôn.”
Như đã nói, ngôn ngữ của các nhân vật phản diện, hay có tính tiêu
cực đã phân tích trên đã chỉ rõ vẻ đẹp của những lông công, là những
bước biểu diễn của con công và sự tàng độc của gan công. Có lẽ vũ
điệu đẹp nhất, những chiệc lông đẹp nhất chính là kỹ thuật và giọng
điệu, ngôn ngữ náo nhiệt nhất mà tác giả đã sử dụng để viết về cái
“không khí Từ Hải” (chữ dùng của Xuân Diệu). Từ góc độ ngôn ngữ,
qua thống kê trong 12 câu thơ được trích trên, chúng tôi nhận thấy có
lẽ nhà thơ đã vận dụng hết những gì là tinh tuý nhất của hai lớp ngữ
liệu bình dân và bác học để phục dựng cái không khí rất hào tráng
của đội quân Từ Hải. Sự kết hợp nhuần nhuyễn những ngữ liệu bác
học và bình dân đã giúp nhà thơ như muốn thể hiện cái oai hùng rất
lớn của cái không khí ấy. Chẳng hạn, khi sử dụng từ cô quả (tiếng
vua chư hầu tự xưng), bá vương (vừa ám chỉ những người đứng đầu
có tài năng, sức mạnh, vừa ám chỉ việc làm của Từ Hải giống như Sở
Bá Vương năm xưa) có nguồn gốc từ văn hoá khiêm xưng của Trung
Hoa (cô gia, quả nhân) hoặc thời kỳ lịch sử Hán sở tranh hùng, tả giả
muốn đề cao vai trò to lớn của người anh hùng Từ Hải. Thế nhưng,
cái không khí ấy càng hùng tráng bao nhiêu thì khi sự thất bại của họ
giới nghệ thuật sinh động qua một hệ thống từ ngữ mang tính phúng dụ
sâu sắc, dung chứa những quan niệm văn hóa, văn chương và đậm hơi
thở của cuộc sống. Nó “không chỉ chiếm lĩnh ở đỉnh cao về nghệ
thuật sử dụng tiếng Việt mà còn có vai trò hiếm có trong việc đóng
góp vào kho tàng từ vựng tiếng Việt một hệ thống từ ngữ mới, đi vào
lời ăn tiếng nói hằng ngày của mọi tầng lớp nhân dân.”.
Sau khi ra đời, Truyện Kiều đã thực sự trở thành món ăn tinh
thần cho bao thế hệ người đọc Việt Nam, là một tác phẩm có vị trí
đỉnh cao trong lịch sử phát triển của văn học Việt Nam, là sách giáo
khoa quốc văn cần phải đọc ở các bậc học, là một đối tượng nghiên
cứu chuyên sâu của các chuyên luận khoa học. Cùng với Lục Vân
Tiên ở Nam Bộ, Truyện Kiều đã trở thành hai đại tuyệt phẩm của thể
loại truyện Nôm bác học. Sự ra đời của Truyện Kiều đã góp phần to
lớn làm phong phú đời sống văn hóa dân tộc. “Làm trai biết đánh tổ
tôm, uống trà Chính Thái, xem nôm Thúy Kiều” đã trở thành một nét
văn hóa đặc sắc của người dân Việt. Trong sinh hoạt văn hóa cộng
đồng, những hình thức sinh hoạt như đố Kiều, lẩy Kiều, bình Kiều,
ca tài tử, cải lương liên quan các tuồng tích trong Truyện Kiều đều in
đậm dấu ấn ngôn ngữ văn hoá Truyện Kiều.
Sau Truyện Kiều, không ít người đã nói đến cái gọi là lục bát hậu
Truyện Kiều, Truyện Kiều đọc ngược, văn Kiều, thơ Kiều, bói Kiều,
vịnh Kiều, tập Kiều. Trong những năm gần đây, sau khi thành lập
Hội Kiều học Viêt Nam quy tụ những học giả, chuyên gia Hán Nôm,
người yêu mến Nguyễn Du và Truyện Kiều, các nhà nghiên cứu và
nhà xuất bản Thanh niên lần lượt cho xuất bản các ấn phẩm nghiên
cứu, bình luận về Truyện Kiều trong bộ Tùng thư Truyện Kiều, đây
được xem là một bộ sách góp phần thay đổi diện mạo của “văn hoá
Kiều”. Có thể nói, đây không chỉ là một công việc thuần tuý khoa
học mà còn là một cách thức rất cơ bản khuyến khích việc tuyên
truyền quảng bá “văn hoá Kiều” đến bạn đọc trong và ngoài nước.
1. Lịch sử tiếp nhận ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều từ góc nhìn
văn hoá tuy không có bề dày như nhiều hướng tiếp cận khác nhưng
nó đã mở ra được một hướng nghiên cứu mới về một đối tượng đặc
biệt của văn học dân tộc. Khảo sát hệ thống ngôn ngữ trong tác phẩm
văn học trung đại nói chung và ngôn ngữ nghệ thuật Truyện Kiều nói
riêng từ góc độ văn hoá là một công việc vô cùng lý thú và hấp dẫn.
Với hệ thống ngữ liệu văn hóa, chúng ta có thể đi vào tìm hiểu bức
tranh “muôn hình muôn vẻ” về thế giới nghệ thuật, xã hội, con người
và những cách tân của tác giả trong quá trình chiếm lĩnh hiện thực,
những trải nghiệm của một thi nhân, triết nhân luôn nặng nợ với đời.
2. Vấn đề hàm nghĩa văn hoá và ngôn ngữ văn hoá trong tiếng
Việt tuy đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu, song sự thống nhất
quan điểm nghiên cứu về nội hàm và ngoại diên của các khái niệm
này vẫn chưa được cụ thể hoá, khu biệt hoá. Trong bối cảnh chung
đó, việc đề xuất một cách hiểu sơ khởi về hai khái niệm này của tác
giả luận văn đã góp phần xây dựng nên hệ quy chiếu để phân loại và
biện giải về hệ thống ngữ liệu văn hoá trong ngôn ngữ Truyện Kiều
nói riêng và ngôn ngữ truyện Nôm nói chung. Khi trở thành một yếu
tố quan trọng của ngôn ngữ nghệ thuật trong các tác phẩm văn học cổ
điển Việt Nam, hệ thống từ ngữ này đã phát huy tối đa tiềm năng vốn
có của nó, giúp cho nhà nghệ sỹ có thể diễn đạt uyển chuyển những
khái quát nghệ thuật ở cấp độ cao.
3. Hệ thống từ ngữ văn hóa trong Truyện Kiều đã tồn tại với tư cách
là một phương tiện đặc thù của ngôn từ tác phẩm. Nguyễn Du đã vận
dụng một cách nhuần nhuyễn, cách tân, sáng tạo, linh động, thần tình,
đích đáng, tự nhiên, gọn gàng, ý vị thanh nhã và thuyết phục người
đọc. Đó còn là nhờ có sự hòa quyện giữa những yếu tố khách quan và
chủ quan theo đặc trưng thi pháp văn học Trung đại, là sự tiếp nhận
những ảnh hưởng từ văn học cổ điển Trung Hoa.
4. Những đặc trưng thẩm mỹ của hệ thống ngôn ngữ văn hóa trong