ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
………….o0o…………
NGUYỄN XUÂN THỦY
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 60 22 32 Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
………….o0o…………
1.2.1. Hành trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy 17
1.2.2. Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy trong dòng truyện văn học trẻ 18
Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 20
2.1. Phong cảnh thiên nhiên miền núi 20
2.2.1. Thiên nhiên hùng vĩ, hoang sơ 21
2.2.2. Thiên nhiên thơ mộng giàu tính nhạc và họa 23
2.2.Cuộc sống và văn hóa miền núi 28
2.2.1. Cuộc sống, sinh hoạt 28
2.2.2.Đặc trưng văn hóa 30
2.3. Con người miền núi 37
2.3.1. Người phụ nữ 37
2.3.1.1.Người phụ nữ suốt đời chịu thương chịu khó 38
2.3.1.2. Người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, bất công trong xã hội và mất
mát trong tình yêu. 40
2.3.1.3.Người phụ nữ bao dung, nhân hậu, thủy chung 44
2.3.2. Những nhân vật khác 47
2.3.2.1. Những người đàn ông 47
2.3.2.2. Những đứa trẻ 49
Chƣơng 3: ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY 50
3.1. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 50
3.1.1. Khái lược về cốt truyện 50
3.1.2. Các kiểu cốt truyện trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 50
3.1.2.1. Cốt truyện truyền thống 51
3.1.2.2. Cốt truyện đan xen nhiều mạch truyện 54
3.1.2.3. Cốt truyện có kết thúc bỏ ngỏ, kết thúc bất ngờ 59
3.1.3. Tổ chức các thành phần cốt truyện 62
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật 69
3.2.1. Khái lược về nhân vật và nhân vật trong truyện ngắn 69
3.2.2. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình và hành động trong sáng tác của Đỗ
Bích Thúy 70
2. Cái tên Đỗ Bích Thúy tuy chưa thật nhiều người biết đến nhưng với bất
cứ ai đã từng đọc tác phẩm của chị đều không thể quên được chất văn giản dị,
mộc mạc, tác phẩm của chị là nơi mà cảm xúc của người viết như hòa quyện vào
tâm trạng từng nhân vật, từng số phận. Giá trị thực sự của tác phẩm nghệ thuật
chính là ở sức ám gợi lâu bền, là sự đọng lại trong tâm trí của người đọc những
trăn trở, suy tư, những điều mà nhà văn muốn nói đến. Và Đỗ Bích Thúy đã rất
thành công trong việc này.
Đỗ Bích Thúy sinh ngày 13/4/1975 tại Hà Giang. Con đường đến với văn
chương của Đỗ Bích Thúy không dài nhưng nhiều bước chuyển mình. Đỗ Bích
Thúy ước mơ được làm cô giáo, tuy nhiên ước mơ đó không thực hiện được và
chị học Tài chính – kế toán, sau đó chị làm kế toán cho báo Hà Giang. Sau một
thời gian làm kế tóan, chị chuyển sang lĩnh vực viết lách, làm báo. Với bốn năm
làm việc cho báo Hà Giang – khoảng thời gian không dài nhưng chị thêm hiểu
sâu sắc và phong phú hơn về cuộc sống con người quê hương mình thông qua
những lần trèo đèo lội suối lên những thung sâu hay bản xa để lấy tư liệu làm
báo. Sau đó, chị về Hà Nội tiếp tục học đại học tại Học viện báo chí tuyên truyền.
Chính thời gian học xa nhà, với nỗi nhớ quê hương, gia đình, bè bạn da diết đã
làm nên cảm hứng để chị sáng tác những tác phẩm đong đầy cảm xúc về mảnh
đất Hà Giang, quê chị rồi gửi bài viết của mình đến Tạp chí Văn nghệ quân đội
dự thi, và kết quả là chị giành giải nhất cho cuộc thi sáng tác truyện ngắn này.
2
Thành công bước đầu đã chắp cánh hồn văn và mạch cảm xúc cho đứa con của
núi rừng tiếp tục chặng đường sáng tác của mình.
Quan niệm viết văn của chị rất giản đơn, viết chính vì nhu cầu nội tâm,
viết văn với chị như sự trả ơn, nên trong chặng đường viết văn của mình, chị đã
định hình một cách viết không ồn ào, hoa mĩ, không gây ra những cú sốc mạnh
với độc giả như một số bạn viết cùng trang lứa. Chính vì thế, đầu sách cảu chị
nằm khiêm tốn trong hiệu sách và cũng chỉ ai thực sự say mê văn chương đích
thực mới quan tâm, tìm đến chị và những cuốn sách của chị. Và, điều đó cũng đủ
nhân vật, những số phận với những hoàn cảnh đau đớn đến xót xa….Cứ thế, tác
phẩm của chị nhẹ nhàng thẩm thấu vào lòng người đọc và đọng lại trong tâm trí
bạn đọc những trăn trở, suy tư,….
Với phong cách nghệ thuật rất đặc biệt, chị tìm cho mình lối đi không ồn
ào, hoa mĩ, mà miệt mài, cần mẫn viết. Cho đến nay, có rất nhiều bài báo trên cả
báo viết lẫn báo mạng viết về chị và những tác phẩm của mình. Trên báo văn
nghệ trẻ, số ra ngày 11/03/2001, Điệp Anh có bài Gặp hai nữ thủ khoa truyện
ngắn trẻ đã nhận xét: “Thế mạnh của Đỗ Bích Thúy là đời sống của người dân
Tây Bắc, với những không gian vừa quen vừa lạ, những phong tục tập quán đặc
thù khiến người đọc luôn cảm thấy tò mò và bị cuốn hút (…). Trong truyện ngắn
của Đỗ Bích Thúy, không gian Tây Băc hiện lên đậm nét, để lại dư vị khó quên
trong lòng độc giả, dù người đọc vẫn chưa thể hết quyến luyến với những áng
văn thơ dìu dặt tiếng sáo , tiếng khèn, la đà với rượu nồng bếp lửa của núi rừng
Tây Bắc trong các sáng tác của các bậc tiền bối như Tô hoài, Chế Lan Viên, Tố
Hữu,…” [2; 3]
Cảm nhận đó còn thuyết phục hơn nữa khi nhà văn Trung Trung Đỉnh ,
một nhà văn chuyên viết về đề tài miền núi đã viết: “Tôi có cảm giác Đỗ Bích
Thúy còn quá nhiều điều để viết về miền rẻo cao xa xôi nhưng gần gũi, tuyệt vời
đẹp ấy của đất nước ta. Tôi cũng là người mê viết truyện ngắn và mê cao nguyên
đá kì vĩ Hà Giang, nhưng đọc truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy, tôi thực sự ngả mũ
….chào thua! Dẫu đây mới chỉ là mở đầu. Một mở đầu mơ ước của mọi nhà văn.
(…)Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống của
ngưới miền cao một cách tài tình. Không truyện nào là không kể về về cách sống,
lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán.
Truyện nào cũng hay cũng mới , cũng lạ mặc dù tác giả không hề cố đưa vào chi
tiết lạ. Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chi tiết
rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có. [11; 8]
Cái lạ mà nhà văn trung Trung Đỉnh cảm nhận thấy cũng rất gần gũi với
cảm giác về cái lạ mà nhà văn Chu Lai khi đọc văn Đỗ Bích Thúy, trong bài Cái
duyên và sức gợi của hai giọng văn trẻ, nhà nghiên cứu Chu Lai viết: “Đọc
nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được gủi gắm vào từng
trang viết. Nó đã được nói qua nhân vật, qua giọng kể không mới lạ nhưng đằm
lắng và nhiều cảm xúc của Đỗ Bích Thúy. Hiện tại, quá khứ, chuyện mới, chuyện
cũ đan xen, cài quấn nhau như dòng chảy cuộc sống muôn đời nay tiếp nối, tiếp
nối không dứt. Lối dẫn chuyện tự nhiên và không gò bó, cách miêu tả thiên nhiên
và đời sống của miền đất cực bắc đất nước khá sinh động là ưu điểm nổi trội của
cuốn tiểu thuyết này. (…)Với Bóng của cây sồi, Đỗ Bích Thúy thêm một lần nữa
chứng tỏ sự hiểu biết, gắn bó của mình đối với cuộc sống của những người Tày,
5
người Dao ở vùng cực Bắc Hà Giang, nơi thượng nguồn con sông Lô huyền bí”
[60; 43]
Với báo mạng cũng có nhiều bài viết đề cập đến sáng tác của Đỗ Bích
thúy. Tác giả Hà Anh với bài viết: Đỗ Bích Thúy “ Nếu làm độc giả thất vọng tôi
thà chịu cũ” được đăng tải trên trang ra ngày
05/12/2005. Tiếp đến là bài viết của tác giả Dương Bình Nguyên với bài Nhà văn
Đỗ Bích Thúy: viết vì nhu cầu nội tâm được đăng tải trên trang
ra ngày 21/1/2006 và bài viết Nhà văn Đỗ Bích Thúy –
sự mềm mại quyết liệt được đăng trên trang . Ngoài ra
còn có các bài khác viết về chị trên trang khác như : ;
Phongdiep.net có bài viết Đỗ Bích Thúy – tôi đã không nghĩ rằng người phụ nữ
có thể hy sinh nhiều đến thế, ra ngày 23/1/2009. Tiếp đến, là tác giả Bình Nguyên
Trang với bài viết Đỗ Bích Thúy và Ngải đắng ở trên núi. Hay trang
ra ngày 23/11/2009 có bài Đường đến với văn chương của
một người viết trẻ của tác giả Lê Hương Thủy giới thiệu nội dung cuốn sách
Người đàn bà miền núi của Đỗ Bích Thúy.
Như vậy, các bài viết đều chỉ ra những đặc điểm chung nhất, những đóng
góp cụ thể của Đỗ Bích Thúy đối với truyện ngắn văn học trẻ Việt Nam, tuy
nhiên, những nhận định này mới dừng lại ở riêng lẻ từng tác phẩm hay từng
chùm tác phẩm của ch . Có thể nhận thấy, bài Từ truyện ngắn của một người viết
lòng những độc giả đã từng đọc truyện ngắn của chị.
Xuất phát từ những tan rã trong cuộc sống truyền thống khi đối mặt với
thời mở cửa đó, nhà văn Chu Lai nhận định “ Cảm hứng truyện ngắn của Thúy là
cảm hứng trở về. Môtip xuyên suốt là môtip người mẹ và gia đình. Hầu như chỉ
sử dụng một ngôi thứ nhất là tôi” [ 25; 104]. Còn tác giả Phạm Thùy Dương
trong bài Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn
Ngọc Tư [8] lại khai thác tính cảm thương trong các truyện ngắn của Đỗ Bích
Thúy. Tính cảm thương ấy, theo người viết, nó được bộc lộ qua tình thương con
trẻ, thương cho những số phận của người phụ nữ vùng cao, và, tính cảm thương
thể hiện ngay trong giọng điệu cảm thương trong văn phong của chị.
Qua các bài viết, các công trình nghiên cứu về tác phẩm của Đỗ Bích
Thúy, chúng ta thấy, các tác giả đều chú ý đến nhiều khía cạnh khác nhau trong
khi khai thác giá trị sáng tạo văn học của chị. Đó là hình ảnh người phụ nữ với
những phẩm chất cao đẹp, là văn phong thuần hậu, mang đậm ngôn ngữ miền núi
của các dân tộ miền núi phía Bắc, là cảm hứng nhân đạo xuyên suốt các tác
phẩm, là giá trị văn hóa mà các tác phẩm của chị mang lại…… Chính vì vậy, đọc
tác phẩm của Đỗ Bích Thúy, chúng ta được sống trong hơi thở núi rừng với
những con người hồn hậu chất phác vừa lạ vừa quen, sống trong không gian lạ
lẫm nhưng gần gũi với những phong tục tập quán ,những nết ăn ở, sinh hoạt của
người vùng cao nơi địa đầu tổ quốc…. Chính những đặc điểm này trong truyện
7
ngắn của Đỗ Bích Thúy đã tạo nên một phong cách riêng của chị và cũng chính
những đặc điểm này khiến chị chiếm một chỗ đứng quan trọng trong lòng độc giả
yêu mến văn học thực sự và góp phần tạo nên vị trí quan trọng trong dòng chảy
văn học trẻ Việt Nam.
Ngoài những bài báo đánh giá, nhận xét, khám phá, tìm hiểu một số khía
cạnh nhỏ về truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy còn có một số công trình nghiên cứu
bước đầu so sánh đối chiếu với một số nhà văn trẻ khác hoặc bước đầu đi vào
khai thác những tác phẩm của Đỗ Bích Thúy ở một số khía cạnh như: Luận văn
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phụ lục, nội dung luận văn gồm có ba
chương:
Chương 1: Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy trong dòng chảy văn học trẻ.
Chương 2: Đặc điểm nội dung truyện ngắn Đỗ Bích Thúy.
Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Đỗ Bích Thúy.
9
Chƣơng 1
TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY TRONG DÒNG TRUYỆN
NGẮN ĐƢƠNG ĐẠI
1.1.Phác thảo về truyện ngắn đƣơng đại Việt Nam
1.1.1. Những chuyển biến về nội dung, khuynh hướng phản ánh
Từ sau 1986 văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng chiếm một ưu thế
lớn. Chúng ta có thể khẳng định điều này qua việc nhìn vào sáng tác văn học trên
các tờ báo, tạp chí chuyên ngành văn học, ở các Nhà xuất bản uy tín, các cuộc thi
lớn và các giải thưởng văn học.
Thời kỳ này, từ sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật, sự mở rộng về phạm
trù thẩm mỹ trong văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài,
phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp. Mỗi
nhà văn đều lí giải cuộc sống từ góc nhìn riêng, với những cách xử lý ngôn ngữ
riêng. Tất cả những đặc điểm trên khiến truyện ngắn Việt Nam đương đại gặt hái
được thành công trên nhiều phương diện.
Chiến thắng vĩ đại năm 1975 với khúc ca khải hoàn non sông về một mối
đã mở ra chặng đường mới cho dân tộc Việt Nam, chặng đường của độc lập dân
tộc, của hòa bình tự do và xây dựng – tái thiết đất nước sau những năm dài đau
thương. Chiến tranh đã lùi dần vào quá khứ, sự ồn ào rực rỡ của tiếng kèn, cờ
hoa thắng trận bớt dần đi. Sau một quãng lùi lịch sử một khoảng cách về thời
rối. Là ứng xử của bản thân họ với cuộc đời khi họ bước ra từ vị trí người anh
hùng vĩ đại trong chiến trận để trở thành người công dân bình thường, sự chuyển
đổi mang tính tất yếu rất đỗi khắc nghiệt này đem đến những cách ứng xử khác
nhau, và vấn đề đặt ra là họ đối diện với chúng trong tâm thế như thế nào? ….Tất
cả đều được đề cập trong truyện ngắn sau năm 1986 với những câu hỏi: Cái gì
còn? Cái gì mất? Cái gì đã cho? Cái gì sẽ nhận? Điều gì sẽ xảy đến trong tâm hồn
họ? Bởi lẽ, sau chiến tranh, cuộc sống đã hoàn toàn thay đổi, và những nhân vật
trong truyện ngắn đều hiện diện với những số phận cụ thể, con người cụ thể, họ
tự mình phải đương đầu với thử thách khắc nghiệt của hoàn cảnh thời hậu chiến,
với nghèo đói, thiếu thốn bên cạnh những tàn dư của vết thương chưa lành trong
tâm hồn, trên thân thể, những vết thương là minh chứng một thời đã qua.
Nếu như trong chiến tranh, nhu cầu cao nhất của toàn dân tộc là độc lập,
tự do, thì trong thời bình, khát vọng vức thiết nhất lại là quyền dân chủ. Trong
chuyên luận Văn học Việt Nam hiện đại – Nhận thức và thẩm định, tác giả Vũ
Tuấn Anh viết: “Nếu như cách nhìn sử thi là thích hợp cho việc thể hiện tầm
rộng lớn của những vấn đề lịch sử xã hội và cộng đồng thì cách nhìn tiểu thuyết
là cách nhìn tập trung, xoáy sâu vào những vấn đề của con người cá nhân cũng
như mối quan hệ cá nhân – xã hội trên hành trình tìm kiếm và khẳng định giá trị
nhân văn”[3;54]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình cũng cùng chung nhận định:
“Văn xuôi sau 1975 phát triển trong bối cảnh đất nước chuyển đổi kinh tế, giao
11
lưu văn hóa nhiều chiều. ý thức cá nhân được sự cổ vũ của cơ chế thị trường trỗi
dậy mạnh mẽ. Nhu cầu thức tỉnh gắn liền với cảm hứng khám phá, nghiền ngẫm
hiện thực, nhu cầu công bố tư tưởng riêng trong thái độ nhập cuộc của nhà
văn”.
Trong bài viết Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới tại cuộc hội
thảo quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc
tế, nhà lí luận Lê Ngọc Trà nêu ra ba đặc điểm của văn học sau 1986. Đặc điểm
nổi bật theo ông là tính chất phê phán . Đặc điểm thứ hai là tinh thần phân tích
trường chưa lâu, một cuộc sống mới mở ra nhưng dư âm của quá khứ bi tráng
đan xen hiện thực nghiệt ngã, ám ảnh lẫn nhau. Hiện thực phong phú phơi bày ra
trước mắt, cộng với vốn sống đầy ắp được truyền tải và dung chứa trong các tiểu
thuyết như: Trong cơn gió lốc (Khuất quang Thụy), Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến
không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc
Trường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)…. Điều dễ nhận thấy trong các tiểu
thuyết thời kỳ này là chất bút kí báo chí vẫn còn tương đối “đậm đặc”, các sự
kiện, nhân vật là có thật trong đời sống hàng ngày chưa được “gọt rũa” để nghệ
thuật hóa một cách triệt để. Những hiện thực phản ánh trong các cuốn tiểu thuyết
đã được độc giả và người đời biết đến khá rõ ràng, chính vì vậy, lúc này xuất
hiện nhu cầu tìm hiểu những cái chưa biết trong lòng độc giả. Đây cũng là lúc
truyện ngắn được quan tâm đến nhiều hơn, và vì vậy, nhiều truyện ngắn hay cùng
các tác giả mới xuất hiện. Có thể nhận thấy rằng, giai đoạn phát triển từ bút ký
sang tiểu thuyết là một quá trình dài chuẩn bị cho truyện ngắn xuất hiện nở rộ, và
ngay từ khi mới xuất hiện đã có những tác phẩm gây tiếng vang như: Con thuyền
ngoài xa, Bức tranh, phiên chợ Giát, Khách ở quê ra (Nguyễn Minh Châu); Có
một đêm như thế (Nguyễn Thị Minh Thư); Anh Sức (Khuất Quang Thụy)…và
sau đó là một loạt các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp…
Từ thời kỳ đổi mới trở đi được coi là giai đoạn cực thịnh của thể loại
truyện ngắn trong nền văn học nước ta. Bối cảnh xã hội mới đã thúc đẩy quá
trình đổi thay vì những hệ giá trị mới đã hình thành và thay thế cho những hệ giá
trị trước đó, chính là hệ giá trị đời thường, đa trị đã thay thế cho hệ giá trị cao cả,
đơn trị. Đây chính là gốc rễ, là nguyên nhân của sự thay đổi cái nhìn, thay đổi
quan niệm về thế giới và cũng là nguyên nhân dẫn đến những chuyển biến cơ bản
trong sáng tác truyện ngắn thời kỳ này. Những năm sau đổi mới đến nay, Với đội
ngũ tác giả hùng hậu như: Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu, Nguyễn Khải, Ma Văn
Kháng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, bảo Ninh,
Nguyễn Khắc Trường, kế tiếp là lớp nhà văn trẻ như Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc
Tư, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái, Y
Ban, Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy,…đã làm nên sự thay đổi lớn lao của đời sống
nhưng ý thức thời đại của họ khác hẳn các thế hệ trước đây. Điều đó có nghĩa là
có nghĩa là họ nhập cuộc tỉnh táo hơn, họ dùng cái tôi như một thứ lăng kính và
quan niệm văn chương luôn phải có độ lùi.Điều đặc biệt, các nhà văn trẻ hiện
nay ít hứng thú với các đề tài chiến tranh, nông thôn,đời sống đô thị, công nghiệp
, công nghệ thông tin….Họ hứng thú với các mảng đề tài khai thác cái “ẩn ức”
của tuổi trẻ, quan tâm đến “cái tôi” của mình, hay chuyện tình yêu tây ba, tay tư
nhiều hơn là những đề tài lớn, mang giá trị nhân văn…Sự xuất hiện của hàng loạt
các tác phẩm như: Song song của của Vũ Đình Giang, Không lạc loài của
14
Thành Trung, Bóng của Nguyễn Văn Dũng, Nháp của Nguyễn Đình Tú, Đi tìm
hình cuộc sống của Hà Thanh Phúc, Phải lấy người như anh, Nhật ký tình
yêu của Trần Thu Trang, Khi nào anh thuộc về em của Cấn Vân Khánh….đã
chứng tỏ cho nhận định này.
1.1.2. Sự đổi mới, phong phú về nghệ thuật biểu hiện
“Truyện ngắn có nhiều khả năng trong việc thể hiện quan niệm về con
người. Do dung lượng nhỏ, nắm bắt những nét bản chất nhất của cuộc sống nên
truyện ngắn có khả năng chuyển tải những vấn đề của thời đại, con người một
cách chính xác, nhạy bén. Cũng chính điều này khiến truyện ngắn trở thành thể
loại cho phép nhà văn thử nghiệm và triển khai những khía cạnh mới mẻ, linh
hoạt trong quan niệm nghệ thuật về con người…” [9]
Đọc các truyện ngắn hiện đại, chúng ta thấy khả năng mới trong việc thể
hiện con người. Điều này thể hiện trong việc truyện ngắn ngày càng ít trực tiếp
miêu tả những sự kiện, vấn đề lớn liên quan đến sự nghiệp chiến đấu và công
cuộc sản xuất của dân tộc mà lại thiên về miêu tả những chuyện đời thường, xoay
quanh số phận của những con người cụ thể. Điều đó đã thể hiện quan niệm nghệ
thuật mới của những người cầm bút trong việc khai thác nhân vật của mình, nhìn
nhận con người bằng quan niệm biện chứng trong sự tổng hòa các mối quan hệ
xã hội, ở đó mọi diễn biến tâm lý, tình cảm đều được bộc lộ trong từng hoàn cảnh
điển hình. Văn xuôi luôn có lợi thế trong việc phát hiện ra bản chất con người
ngữ thường ngày dễ hiểu, đó có thể là khẩu ngữ trong những truyện ngắn của
Phan Thị Vàng Anh, là ngôn ngữ vỉa hè trong các tác phẩm của Phạm Thị Hoài,
là lời trần thuật dân dã trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh( đi năm lần bảy
lượt, mời mẻ bát gãy đũa), Nguyễn Khải (cười thắt ruột, ăn nói quá quân trộm
cướp), Bão Vũ (nằm co tiểu sành khi hết phim,…), là những tiếng lóng, những
câu chửi thề, những từ ngữ tục, là ngôn ngữ trần trụi,không gọt dũa của thứ ngôn
ngữ “chợ búa” ở Người hùng trường làng (Tạ Nguyên Thọ), Không có vua
(Nguyễn Huy Thiệp),…. Việc vận dụng thích hợp mảng ngôn từ ít có giá trị thẩm
mỹ tự thân này một cách thích hợp cũng đem lại hiệu quả nhất định cho việc trần
thuật. nếu như trước đây, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn chau chuốt, kĩ
lưỡng và không tồn tại những cách nói khiến độc giả khó hình dung trật tự trên
dướii trong giao tiếp, thì trong truyện ngắn đương đại , kiểu nói “xấc xược, thiếu
văn hóa” của lớp trẻ không còn xa lạ nữa. Việc không ngại đưa những ngôn ngữ
này vào văn học của nhiều cây bút với dụng ý phản ánh mảng xã hội bộn bề, mọi
chuẩn mực đạo đức bị đảo lộn đã trở nên quen thuộc với độc giả. Ví như cách sử
dụng ngôn ngữ trần thuật kiểu: Bà mõm. Thối rồi. Về ngay! (Bà ốm. mất rồi. Về
ngay!) trong truyện ngắn Làng xi măng của Lê Minh Khuê. Hay cách nói năng
xấc xược với đấng sinh thành : “Bao giờ ổn định con sẽ “cẩu” mẹ ra khỏi cái “
làng Vũ Đại” trong Gió đồng se sắt của Đỗ Tiến Thụy
16
Thời hiện đại, công nghệ thông tin bùng nổ đã tác động đến ngôn ngữ đời
sống và để lại dấu ấn rõ rệt trong ngôn ngữ trần thuật. Từ ngữ chuyên môn trở
nên phổ biến ( các thuật ngữ y học, tên các loại bệnh mới: HIV-AIDS, viêm não
Nhật Bản, Cúm gia cầm,…; Các khái niệm kinh tế tiền tệ: Thị trường chứng
khoán, cổ phiếu, bất động sản, các ngôn từ đặc trưng thời kỹ thuật số: chát, thư
điện tử,…). Ngoài ra, những từ ngữ vốn mới xuất hiện gần đây cũng ùa vào trong
các tác phẩm: Cave (gái làm tiền), ô-sin (người giúp việc), gay (người đồng tính)
….những ngôn ngữ mới này được sử dụng như những phương tiện biểu đạt mới.
Chịu tác động mạnh mẽ của ngôn ngữ đời sống, kéo theo ngôn ngữ trần
cách tổ chức đồng thời nhiều tiếng nói khác nhau, người trần thuật có vai trò
quan trọng trong việc cấu trúc tác phẩm , dẫn dắt mạch truyện. Khảo sát phát
ngôn trong văn bản truyện kể, độc giả có thể phần nào hình dung được diện mạo
của người trần thuật. Hơn thế, thông qua ngôn ngữ trần thuật người đọc còn có
thể nhận diện những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ truyện ngắn hôm nay.
Về kỹ thuật sáng tác, hầu hết các truyện ngắn đều sử dụng kỹ thuật hiện
đại như lối kết thúc bỏ ngỏ, nghệ thuật đồng hiện, độc thoại nội tâm, dòng ý thức,
lắp ghép, sử dụng huyền thoại, nghệ thuật giao cách hay đa giọng điệu, tính đa
thanh trong ngôn ngữ trần thuật.
Những năm cuối thế kỷ XX xuất hiện cả loại “truyện ngắn mini” hàm súc,
cô đọng cả về nội dung lẫn ngôn ngữ… Về hình thức, truyện ngắn khá đa dạng
với cốt truyện dan xen nhiều mạch truyện, giàu chi tiết sự kiện.
1.2. Đỗ Bích Thúy trong dòng văn học trẻ
1.2.1. Hành trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy
Đỗ Bích Thúy sinh năm 1975, bước vào làng văn từ khi 19 tuổi với truyện
ngắn đầu tay Chuỗi hạt cườm màu xám đăng trên Báo Tiền phong và để lại ấn
tượng không nhỏ trong lòng người đọc.
Bước ngoặt lớn nhất để tên tuổi chị có chỗ đứng trong làng văn hiện đại là
giải nhất cuộc thi sáng tác truyện ngắn kéo dài hai năm (1998-1999) do Tạp chí
Văn nghệ quân đội tổ chức với tác phẩm: Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi,
Ngải đắng trên núi . Tuy nhiên, để có được tiếng vang thực sự thì phải kể đến
khi truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá được đạo diễn Ngô Quang Hải
chuyển thể thành phim Chuyện của Pao và đoạt giải Cánh diều vàng của hội
điện ảnh Việt Nam năm 2005.Sự thành công của bộ phim này trước hết bắt đầu
từ câu chuyện hết sức độc đáo và cảm động mà truyện ngắn đem lại.
Quan niệm sáng tác của Đỗ Bích Thúy hết sức đơn giản, chị vẫn thường
nói viết chính là nhu cầu nội tâm. Đặc biệt viết văn đối với chị như là sự trả ơn,
nên trong cuộc đời viết văn của mình, chị đã định hình một cách viết không quá
ồn ào, hoa mĩ, không gây ra những cú sốc mạnh như những người bạn viết cùng
trang lứa. Đầu sách của chị nằm khiêm tốn trong hiệu sách và cũng chỉ những ai
đối với số phận nhân vật của mình. Vì vậy, dù là viết về đề tài miền núi quen
thuộc nhưng độc giả luôn cảm thấy say mê, cuốn hút trong sáng tác của chị.
Chính giọng văn tự sự, trữ tình đã làm sống dậy bao cảm xúc, đi vào lòng độc giả
một cách tự nhiên nhất, mộc mạc nhất. Đặc biệt truyện ngắn của chị đã góp phần
không nhỏ trong việc đưa văn hóa vùng miền đến với đông đảo độc giả. Chính
vậy, chị là một nhà văn trẻ đầy triển vọng và đóng góp to lớn cho nền văn học
19
những truyện ngắn về mảng đề tài dân tộc miền núi. Tiếp bước các nhà văn có
tên tuổi chuyên viết về đề tài miền núi như Tô Hoài, Nguyễn Huy Thiệp,…
Sau những thành công nhất định ở những sáng tác đầu tay, chị giành được
sự quan tâm rất lớn từ báo chí, đặc biệt là, giới văn nghệ sỹ nhắc đến những tác
phẩm của chị như một hiện tượng văn học. Hàng loạt bài viết trên báo mạng cũng
như báo viết đã viết về chị: Trên báo văn nghệ trẻ, số ra ngày 11/03/2001, Điệp
Anh có bài Gặp hai nữ thủ khoa truyện ngắn trẻ . nhà nghiên cứu Chu Lai có
bài :Cái duyên và sức gợi của hai giọng văn trẻ. Đỗ Bích Thúy và những sáng
tác của chị cũng được đề cập đến trong bài viết của tác giả Phạm Thùy Dương
đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội (661) tháng 1 năm 2007 với tựa đề Cảm
hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Nguyễn Ngọc Tư
Chính sự cập nhật liên tục các vấn đề nóng bỏng của xã hội hiện tại khiến
truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy luôn gần gũi với độc giả và chiếm vị trí nhất định
trong lòng những độc giả đã từng đọc truyện ngắn của chị.
Đỗ Bích Thúy đã có đóng góp lớn trong việc đưa văn hóa vùng cao về với
độc giả, hơn thế, tác phẩm của chị còn thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với từng số
phận nhân vật. Là tiếng thở dài khe khẽ với những bất hạnh, hẩm hiu của những
con người dưới bóng núi rừng. Với văn phong nhẹ nhàng, sâu lắng, chị đã từng
bước để dấu ấn trong lòng độc giả. Có thể nói, đặc trưng nhất là chị đem văn hóa
vùng miền đặc trưng đến với người đọc. Để khi nhắc đến chị, độc giả nhớ ngay
đến những tác phẩm về miền núi cực bắc tổ quốc với thiên nhiên hoang sơ,
huyền bí nhưng cũng thơ mộng, và những con người tốt bụng, hiền hòa, bao
trong tác phẩm nghệ thuật.
Mỗi nhà văn có cách khai thác không gian riêng trên cơ sở đề tài lựa chọn
của mình. Đỗ Bích Thúy là một nhà văn như vậy. Nhắc đến chị, nhắc đến tác
phẩm của chị người đọc hiểu rằng mình đang đến với vùng đất nào. Một không
gian “đặc sệt” miền núi. Không gian ấy cũng chính là một trong những yếu tố
đặc sắc nhất khi đến với mỗi trang viết của nhà văn trẻ này. Không gian đặc
trưng ấy được xây dựng trên những trang viết của chị một cách cá biệt và là sự
tổng hòa của nhiều yếu tố như: thiên nhiên, cuộc sống- văn hóa miền núi và con
người miền núi.
Đến với đại ngàn Tây Bắc, các tác giả chuyên viết về mảng đề tài này như
Nguyễn Huy Thiệp, Tô Hoài, Cao Duy Sơn, đều như hòa mình vào không
gian bất tận của xứ sở thơ mộng dể cùng tạo nên những áng văn thơ như những
bức họa màu, những bản nhạc rừng tràn ngập sức sống, say đắm lòng người.
Trong tác phẩm của Đỗ Bích Thúy cũng vậy. Khi bước vào thế giới nghệ thuật
của Đỗ Bích Thúy, người đọc được sống trong môi trường đậm chất miền núi,
bởi bao quanh là thế giới sinh động những tên đất, tên bản, tên núi, tên
sông…làm “chất nền” cho những câu chuyện kể của Đỗ Bích Thúy… Đó là
không gian với bạt ngàn những địa danh, những cái tên dân tộc để gợi đến một
21
vùng đất hoang sơ, vừa xa xôi , vừa bí ẩn: Xà Tùng Chứ, Chín Chải, Tây Côn
Lĩnh, Cao Bành, Thượng Sơn, Lũng Pục, Cao Mã Pờ, Pải Lủng, Vần Chải, Lao
Chải, Sán Chải, Xán Díu,… Thiên nhiên trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy không
chỉ có tác dụng làm “chất nền” cho hành động nữa mà trở thành một sinh thể độc
lập với những nét đẹp tự nhiên với những đường nét, hình khối cụ thể, rõ
ràng…Thiên nhiên vừa hiện thực, sinh động, thơ mộng, êm đềm nhưng cũng rất
hoang sơ, huyền bí. Không gian được tác giả miêu tả từ ngày sang đêm, Đông
sang Hạ, từ cái nhìn khách quan bên ngoài đến cảm nhận bên trong của nhà văn,
từ những khoảnh khắc đáng nhớ của thiên nhiên ấy cộng với ngòi bút tài hoa của
nhà văn Đỗ Bích Thúy đã tạo nên những bức tranh thiên nhiên đặc sắc và những