BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MỸ NGỌC
ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN
BÙI HIỂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ VĂN HỌC
CHUN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số:60 22 34
NGƯỜNG HƯỚNG DẪN:
PGS.TS. PHÙNG Q NHÂM
Lê Thị Mỹ Ngọc
MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Văn học Việt Nam bước vào thế kỉ XX đã có những sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng
hiện đại hóa, đặc biệt là từ những năm 1930 -1945, nhờ có những điều kiện văn hóa lòch sử mới,
nhòp độ phát triển của nó càng khẩn trương hơn. Ở giai đoạn này, văn học Việt Nam không chỉ
phát triển về đội ngũ nhà văn, nhà thơ mà còn đạt được nhiều thành tựu văn học xuất sắc. Có
thể nói quá trình hiện đại hóa nền văn học đã đẩy văn học Việt Nam phát triển thêm một bước
với nhiều cuộc cách tân văn học sâu sắc ở các thể loại. Văn xuôi nghệ thuật giai đoạn này đã có
bước phát triển vượt bậc so với văn học trung đại. Bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn giai đoạn
này, đã có những thành tựu phong phú và vững chắc với hàng loạt phong cách độc đáo, nối tiếp
nhau đưa thể văn này đạt đến trình độ nghệ thuật cao. Một số truyện ngắn văn học thời kỳ này
có thể so sánh với những thành tựu truyện ngắn xuất sắc trên thế giới. “Truyện ngắn Việt Nam
1930 – 1945 thực sự đa dạng về phong cách và bút pháp. Có thể nói trong lòch sử truyện ngắn
hiện đại thế kỉ XX, chưa bao giờ có sự nở rộ phong cách, giọng điệu như mười lăm năm đáng
ghi nhớ của văn học – đó là sự ghi tạc của thế hệ sau tên tuổi của các nhà văn danh tiếng:
Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân …”[78,
tr.182]. Thế nhưng không phải nhà văn nào mà sự nghiệp sáng tác của họ c
ũng được độc giả
biết đến một cách đầy đủ, có hệ thống. Đó là trường hợp của nhà văn Bùi Hiển. Mọi người biết
đến tên tuổi của ông với tập truyện ngắn Nằm vạ (1941), còn những tập truyện ngắn sau này thì
ít người biết đến hoặc có chăng là một số nhà nghiên cứu, phê bình văn học bàn chung về các
truyện ngắn mà họ cho là tâm đắc.
Bùi Hiển là nhà văn vốn được đặt trong nhóm các nhà văn viết truyện phong tục sinh hoạt
trước Cách mạng tháng Tám ( Tô Hoài, Kim Lân, Bùi Hiển ). Tuy nhiên sáng tác của Bùi
Hiển không được giới nghiên cứu văn học đặc biệt quan tâm, nhưng phần lớn truyện của ông
vẫn hiện diện trong lòng người đọc. Vốn có cách viết nhẹ nhàng, dí dỏm, pha chút trữ tình, Bùi
Hiển đã đem đến cho người đọc những trang văn hiện thực về hiện trạng cuộc sống quê hương
mình làm sống “lại những phong tục của người dân quê với con mắt quan sát sắc sảo, hóm
nhận thấy ông là một cây bút truyện ngắn có nhiều kinh nghiệm. Nói về số lượng tác phẩm, kể
cả các tập truyện ngắn dành cho thiếu nhi nhà văn Bùi Hiển đã để lại khoảng 16 tập truyện
ngắn. Có được thành tựu đó, chúng ta có thể khẳng đònh Bùi Hiển không chỉ “nhờ tư tưởng thái
độ sống và có phần nhờ nghệ thuật viết của anh”. Riêng Hoàng Minh Châu khẳng đònh: “Anh là
một trong những bậc thầy viết truyện”[5, tr.13].
Lòng say mê công việc và ý thức trách nhiệm của người cầm bút đã giúp Bùi Hiển ngày
càng thành công hơn trong sự nghiệp sáng tác văn học. Dù được đánh giá, phê bình như thế nào
Bùi Hiển trước sau vẫn là một nhà văn khiêm tốn, luôn học hỏi để tích lũy kinh nghiệm cho
nghề. Mỗi truyện cho xuất bản in thành sách đều đã được đăng báo và được đánh giá cao,
nhưng đối với nhà văn thì chúng chỉ ở trên “mức trung bình”. Thật đúng như lời nhận đònh của
Chu Nga: “…Bùi Hiển là một nhà văn viết truyện ngắn có nhiều kinh nghiệm. Anh thận trọng và
có tinh thần trách nhiệm. Ít khi anh viết nhanh, viết vội, lấy tay nghề thay cho chất sống…”. Và
Bùi Hiển từng nói: “Tôi không dám hạ bút viết một cái gì, nếu tôi chưa biết và hiểu kó lưỡng”[61,
tr.390 -391].
Khi đánh giá sự đóng góp về mặt văn học của nhà văn Bùi Hiển cho nền văn xuôi Việt
Nam, Quang Tuấn đã viết bằng những lời văn thán phục, trân trọng: “Hơn 60 năm cầm bút với
khoảng 40 đầu sách và đều có thành công nhất đònh ở các thể loại bút ký, truyện thiếu nhi, sách
dòch, tiểu luận văn học, song nói cho đến cùng truyện ngắn mới là cái “nghiệp” thật sự của
ông”[61, tr.14]
Kết thúc cuộc họp trao đổi về truyện ngắn chống Mỹ, nhà văn Vũ Tú Nam đã phát biểu:
“Nhà văn Bùi Hiển là một trong những nhà văn viết truyện ngắn tốt nhất của chúng ta hiện nay.
Nhưng đối với Bùi Hiển nói riêng và những người viết văn chúng ta nói chung, bạn đọc còn
muốn đòi hỏi cao hơn nữa …”[83, tr.14].
2.Phạm vi nghiên cứu
Bùi Hiển viết rất sớm và những tác phẩm của ông đã được in trước Cách mạng tháng
Tám trên các báo chí Hà Nội như: Ngày nay, Hà Nội tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Trung Bắc
Chủ nhật, Thanh Nghò, Bạn đường. Ông viết được nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện dòch,
truyện thiếu nhi, ký, hồi ký, tiểu luận văn học, kòch, phê bình văn học… nhưng thành công nhất
của ông vẫn là truyện ngắn. Ở thể loại truyện ngắn, ông đã có những tập truyện viết trước và
sau Cách mạng tháng Tám.
gia Bùi Hiển. Cụ thể là chương trình văn học 6 (cũ) có đưa vào giảng dạy truyện ngắn Ngày
công đầu tiên của cu Tý và chương trình văn học 11 có bài đọc thêm là truyện ngắn Chiều
sương. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu ít quan tâm đến tác phẩm của Bùi Hiển, chỉ có một số ít
bàn về truyện ngắn Bùi Hiển. Trong số đó cũng có một số bài viết đã đánh giá, nhận xét tinh tế,
sâu sắc về tác phẩm của Bùi Hiển.
Bùi Hiển là một cây bút truyện ngắn miệt mài, bền bó và công phu. Đã gần sáu mươi năm
Bùi Hiển sống với nghề viết văn. Từ chỗ một người đến với văn như là việc “viết để chơi”,
không hẳn thành cái mộng “sự nghiệp văn chương”, thế mà dần dà Bùi Hiển đã bộc lộ rõ thiên
hướng muốn đi vào con đường sáng tác chuyên nghiệp.
Khi nhờ Hồ Mậu Đường là “bạn văn chương bước đầu và mãi mãi” - lời Bùi Hiển ghi trong
sổ lưu niệm của Hồ Mậu Đường, đọc hộ một số truyện ngắn khi tác phẩm Nằm vạ còn ở dạng
bản thảo viết tay và (13/4/1940) Bùi Hiển đã nhận được một thư tay với những lời nhận xét khá
tinh tế “…Tôi chỉ biết là khá, khá lắm…, tôi không còn biết chê anh vào đâu được. Văn anh viết
có một vẻ đặc biệt (original), đó là đặc tính tôi thích nhất trong văn chương … Câu chuyện tôi
thích nhất - và có lẽ nhiều người khác - là truyện Ma đậu. Với truyện này, tôi không tìm thấy
một nhà văn nào ở ta từa tựa để ghép anh vào. Có thể tạm so sánh anh với Guy de Maupassant
vì cái lối tả chân tỉ mỉ và thật thà, vì có nhiều cái hơi hóm hỉnh và tinh nghòch và nhất là cách
dùng toàn “thổ âm” (thổ ngữ – BT) trong lúc nói chuyện. Cả mấy chuyện kia cũng thế, chuyện
nào cũng có vẻ riêng cả và lối tả chân vẫn giống nhau…”[80, tr.14]. Chính nhờ s
ự động viên
khuyến khích đó, sau bốn tháng, Bùi Hiển quyết đònh gửi một truyện ngắn tới báo Ngày nay –
đó lại là truyện Nằm vạ. Khoảng ba, bốn tuần truyện Nằm vạ được đăng với lời giới thiệu của
Thạch Lam. Và từ đó tác giả tập hợp lại các truyện đã viết gửi ra Hà Nội (12/1940 ). Đến tháng
2/1941 nhà xuất bản Đời nay đã ấn hành tập truyện Nằm vạ của Bùi Hiển.
Nổi bật lên là sự cảm nhận chân thành, thắm thiết của của nhà văn Thạch Lam trên báo
Ngày nay (9/1940). Điều này mang đến cho tác giả một niềm động viên, khuyến khích trong
sáng tác văn học, đặc biệt là thể loại trên ngắn. Dần dà sự nghiệp sáng tác của Bùi Hiển
càng phát triển. Và truyện của ông càng thu hút được nhiều độc giả. Năm 1961, khi nhận xét về
tập truy
ện nh mắt qua bài viết “Đọc nh mắt”, Vũ Tú Nam cho rằng: “Tập truyện là một bó
thiệu đầy đủ, trọn vẹn về tập truyện ngắn đầu tay Nằm vạ của nhà văn Bùi Hiển. Sau đó (1983),
Nguyễn Văn Long đã viết lời tóm tắt về cuộc đời, sự nghiệp về nhà văn Bùi Hiển trong sách
“Từ điển văn học”. Năm 1992, một lần nữa các nhà nghiên cứu lại khẳng đònh phong cách
truyện ngắn của Bùi Hiển trong sách “Tác giả văn học Việt Nam ”. Và một nhóm nghiên cứu đã
viết về sự nghiệp của nhà văn Bùi Hiển trong “Nhà văn Việt nam TK XX” tập V. Năm 2000,
sách “Tổng tập Văn học Việt Nam”, tập 32 cũng có những lời giới thiệu về nhà văn Bùi Hiển.
Đến năm 2001, nhà văn Hà Minh Đức lại có bài viết về nhà văn Bùi Hiển trong sách “Văn học
Việt Nam TK XX”.
Năm 2003, Nguyễn Đăng Mạnh cùng nhóm đồng chủ biên cho ra đời “Từ điển tác giả tác
phẩm văn học Việt Nam” và nhà văn Bùi Hiển được xem như là một tác giả có sự nghiệp sáng
tác truyện ngắn thành công ngay từ những truyện ngắn đầu tay.
Đến với “Tuyển tập Bùi Hiển I” (1987), người đọc được tiếp cận cụ thể hơn với sự nghiệp
sáng tác của Bùi Hiển qua lời giới thiệu của Phan Cự Đệ. Vũ Ngọc Phan (1989) với bài viết về
Bùi Hiển trong sách “Nhà văn Việt Nam hiện đại . Phan Hồng Giang (1996), cho xuất bản sách
“Ghi chép về tác giả và tác phẩm” .
Lần nữa “Tuyển tập Bùi Hiển tập I “(1997) với lời bạt “Với Bùi Hiển” của Hoàng Trung
Thông càng giúp cho người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về sự nghiệp của nhà văn Bùi Hiển.
Năm 2003, NXB Hội nhà văn đã hoàn thành quyển sách “Bùi Hiển tác phẩm và dư luận”.
Trong phạm vi giới hạn của đề tài luận văn, chúng tôi sẽ trình bày các ý kiến nổi bật trong
các bài nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
3.1. Những ý kiến, nhận xét về nội dung truyện ngắn Bùi Hiển.
Theo nhà thơ Ngô văn Phú, những năm trước 1945, “ ông từng là công chức tuy không dư
giả gì, nhưng cũng là một bậc trí thức, lại là một nhà văn sớm nổi tiếng ở một thành phố lớn nhất
của đất Thanh, Nghệ, Tónh”[64, tr.19]. Với tập truyện ngắn đầu tay: Nằm vạ (1941), Bùi Hiển đã
được nhi
ều bạn đọc quan tâm. Khi truyện ngắn Nằm vạ – Bùi Hiển được gửi đăng trên báo
Ngày nay (9/1940), Thạch Lam đã viết lời giới thiệu “Ông Bùi Hiển tác giả truyện ngắn đăng
dưới đây (Nằm vạ) đã phác họa rất đúng một vài nhân vật ở thôn quê… Đó là một bức tranh có
giá trò về cảnh sinh hoạt trong làng xóm…”.
Hà Minh Đức đã nhận xét: “Nằm vạ là tập truyện đầu tay cũng là sáng tác gây ấn tượng và
những truyện về phong tục dân quê vùng Nghệ Tónh là những truyện hay”[63, tr.807]. Cụ thể là
“Trong tập Nằm vạ (Đời nay - Hà Nội, 1941) ngoài những truyện ngắn về thanh niên, hầu hết
đều bình thường, ông có viết ba truyện ngắn về dân quê vùng Nghệ Tónh rất đặc sắc. Ba truyện
ấy là Nằm vạ (trang 9), Thằng Xin (trang 87) và Ma đậu (trang 147)”[63, tr.806]. Còn nhà văn
Phan Cự Đệ thì có nhận xét như sau: “Ngay từ tập truyện ngắn đầu tiên (Nằm vạ) in năm 1941,
Bùi Hiển đã bắt sâu được cái mạch quần chúng ở vùng biển quê anh. Anh phát hiện ra ở người
dân người dân chài những nét khỏa khoắn, đôn hậu, yêu đời, lạc quan và cái nguồn suối tinh
thần trong mát đó sẽ còn tỏa lan trên các trang sách của anh mấy chục năm dài về sau”[54,
tr.12]. Nhìn chung, “chủ nghóa hiện thực trong Nằm vạ dường như bắt nguồn từ một cảm hứng
nhân đạo chủ nghóa, từ một sự gần gũi, cảm thương cuộc đời những con người bình thường, những
dân chài lam lũ ở vùng biển và những người nghèo khổ, những viên chức nhỏ sống quẩn quanh bế
tắc ở thành thò”[54, tr.13].
Các nhà nghiên cứu rất đề cao tấm lòng nhân đạo của nhà văn Bùi Hiển trong việc đã
phản ánh trung thực cuộc sống của con người trong các truyện ngắn: “Chất hiện thực trong Nằm
vạ được bắt nguồn từ một cảm hứng nhân đạo chủ nghóa, từ sự gần gũi, thương cảm những con
người bình thường, những dân chài, lam lũ vùng biển và những viên chức nghèo thành thò”[1, tr.
679]
Những trang viết trong tập Nằm vạ phần lớn: “Bùi Hiển tập trung miêu tả cuộc chiến đấu
giữa con người với thiên nhiên, con người với bão tố ngoài biển khơi và làm nổi bật lên hình ảnh
đẹp đẽ của con người, con người mưu trí, gan dạ, với tất cả kinh nghiệm từng trải của cuộc đời
trên sóng nước”[54, tr.12].
Bùi Hiển một tấm gương lớn về sự học hỏi, tìm tòi, tích lũy bền bó, lâu dài. Với những năm
tháng đi thực tế, ông đã quan sát, thâu nhận, ghi chép từ nhiều người, nhiều cảnh, nhiều việc,
nhiều vấn đề để “tìm ra một khía cạnh mới trong những cái bình thường, thông thuộc nhất”[55,
tr.21].
Bùi Hiển là nhà văn tận tụy, có trách nhiệm với nghề. Ông có cái nhìn nhạy bén, một trái
tim nhân hậu, luôn san sẻ, yêu thương con người. Biết bao cảnh, bao người đã hiện lên rất thật,
gần gũi, đáng yêu một cách lạ thường. Hoàng Minh Châu cho rằng dù là viết về ai, vấn đề gì,
có ý nghóa nội dung gì thì “chỉ bằng tình tiết ngôn ngữ của nhân vật thoảng qua cũng gợi nhớ tới
nhân vật chính là tác giả, một người muốn nuôi sống hoà hợp với tự nhiên, với “ đạo trời như anh
cuộc kháng chiến chống Mỹ nhà văn Bùi Hiển phải “… sống ở nơi mũi nhọn của chiến tranh: khu
Bốn. Chính nhờ thế mà anh thấy được những điển hình đẹp nhất của tinh thần chiến đấu dũng
cảm cũng như đã chứng kiến những tội ác ghê tởm nhất của kẻ thù. Vì thế những tác phẩm của
anh viết vào thời kỳ này có sức nặng và cảm động được người đọc”[72, tr.9]. Phải kể trước hết
đó là truyện Kỷ niệm về đứa con đi xa. Theo nhà văn Vũ Tú Nam: “Truyện ngắn Kỷ niệm về đứa
con đi xa của ông mới thật chín và đằm thắm. Ở đó, người ta mới thấy những vẻ đẹp thật chín và
những con người Việt Nam, ở nhiều thế hệ cùng ra trận, người nào việc ấy, hết sức tự nguyện và
đầy ý thức. Ở đó, người ta mới thấy tình cha con, tình quân dân, đã hình thành từ nỗi đồng cảm,
sự tin yêu …”[64, tr.19].
Hà Minh Đức đã từng đưa ra nhận xét về các vấn đề mà nhà văn Bùi Hiển đặt ra trong
truyện ngắn: “Những vấn đề anh đặt ra gần gũi với đời sống thực tế” [61, tr.411].
Phan Cự Đệ đã từng nhận xét về khả năng viết truyện ngắn và đánh giá sự đóng góp to lớn
của nhà văn Bùi Hiển trong sự nghiệp văn học: “Khối lượng truyện ngắn thật là phong phú, đa
dạng, đã góp phần phản ánh trung thực những chặng đường của Cách mạng Việt Nam, khắc họa
được những khuôn mặt đẹp, những điển hình của con người Việt Nam mới trong cuộc đời và sản
xuất cũng như trong sinh hoạt thường ngày”[54,48].
Nhà văn Hà Minh Đức đã có lời đánh giá về sự nghiệp văn học của Bùi Hiển như sau:
“Mỗi truyện ngắn của Bùi Hiển đều gắn liền với những vấn đề cơ bản của đời sống cách mạng…
Nhưng quan trọng hơn là đi sâu vào miêu tả những tính cách, những mối quan hệ giữa con người
với nhau để từ đó nói lên những vấn đề sâu sắc của hiện thực”(1970 ) và “Bùi Hiển vẫn được xem
là một tác giả viết truyện ngắn đều tay”[61, tr.413].
Như vậy, điểm qua sự nghiệp sáng tác của Bùi Hiển, ta thấy nhà văn sáng tác xuyên suốt,
qua mọi thời điểm lòch sử quan trọng của dân tộc Việt Nam và đã thể hiện được những vấn đề
có ý nghóa nhất. Có thể lấy lời nhận xét khái quát của nhà văn Vũ Tú Nam để đánh giá thái độ
công dân và phong cách riêng của nhà văn Bùi Hiển qua các giai đoạn sáng tác văn học là: “Từ
hồn nhiên cảm thông trước Cách mạng, qua nhập cuộc dấn thân vào hai cuộc kháng chiến rồi
đến trăn trở nghó suy trước thời đại mới”[5,13].
3.2. Những ý kiến, nhận xét về nghệ thuật truyện ngắn Bùi Hiển.
Khi trả lời nhà văn Hà Minh Đức về nghệ thuật truyện ngắn, Bùi Hiển đã nhấn mạnh:“Tôi
nghó rằng truyện ngắn phải gọn, linh hoạt. Tôi không thích kể lể nhiều. Phong cách truyện của tôi
những mặt tích cực, những phẩm chất và đạo đức mới tốt đẹp. Đọc những trang truyện của Bùi
Hiển, ta cứ thấy hiện lên cái “Ánh mắt” tin yêu và trân trọng của nhà văn khi nhìn vào lớp nhân
vật trẻ; sau tiếng cười trong trẻo đầy sức sống, câu hát lạc quan, lời đùa nghòch có vẻ tếu nhộn …,
một tâm hồn trong sáng, tin tưởng của những chiến sỹ thanh niên xung phong ở ngay nơi chiến
trường ác liệt ”[61, tr.419-420].
Đúng như lời một nhà văn nhận xét về truyện ngắn của Bùi Hiển: “…Vẫn cái nhìn trân
trọng, yêu thương và tin cậy, vẫn một nhiệt tình đằm thắm, với một quan điểm đúng về lớp trẻ,
trong Hoa và thép nhà văn lớn tuổi Bùi Hiển lại xây dựng nhiều nhân vật thanh niên trong những
truyện ngắn của anh”[61, tr.419].
Phan Cự Đệ có ý kiến rất mới về sự thay đổi trong hình thức viết truyện ngắn của nhà văn
Bùi Hiển từ trước cách mạng tháng Tám đến nay: “Trong nghệ thuật viết truyện ngắn, Bùi Hiển
chuyển dần từ “hướng ngoại” đến “hướng nội” nhưng bao giờ cũng có ý thức tìm một sự kết hợp
hài hoà giữa hai khuynh hướng đó”[54, tr.46].
Nhà văn Vũ Tú Nam đánh giá rất cao truyện ngắn của Bùi Hiển giai đoạn sau Cách mạng
tháng Tám. Ông cho rằng “…sức viết, tầm suy nghó của Bùi Hiển đã chuyển đoạn, khác hẳn hồi
trước năm 1945”[ 64, tr.19].
Riêng nhà văn Hà Minh Đức đã nhận xét chung về cách vi
ết truyện ngắn của Bùi Hiển“Bùi
Hiển cũng có một lối kể chuyện trang trọng”[61, tr.413].
Còn Nguyễn Văn Long thì lại đưa ra ý kiến nhận xét về ngòi bút truyện ngắn Bùi Hiển
như sau: “Bùi Hiển viết truyện kỹ lưỡng và chặt chẽ, ngôn ngữ được chọn lọc và có bản sắc. Năng
lực quan sát tinh tường pha chút hóm hónh, sự am hiểu tâm lý con người cùng khả năng miêu tả
tinh tế làm cho truyện của ông có sức hấp dẫn”[53, tr.87 ].
Bùi Việt Thắng đã từng nhận xét về đặc điểm truyện ngắn Bùi Hiển: “Bùi Hiển có lối cấu
tạo vấn đề và kiểu nhân vật của Bùi Hiển”.
Và Vũ Tuấn Anh và Bích Thu còn cho rằng, Bùi Hiển: “… Bùi Hiển thể hiện một nghệ thuật
viết truyện ngắn già dặn, chững chạc. Tác phẩm có lối viết chân thật, giản dò với những đường
nét chắc khỏe, những cảm nhận tinh tế, ý vò, hóm hỉnh. Kết cấu truyện chặt chẽ, gọn gàng, cách
dẫn truyện linh hoạt, ngôn ngữ giàu sắc thái đòa phương”[1, tr.679]. Nhà văn Vũ Tú Nam nhận
xét về giọng văn của Bùi Hiển: “Văn anh có cái duyên tươi tươi, nghòch nghòch…”. Và ông còn
3.3. Nhận xét chung:
Truyện ngắn Bùi Hiển được các nhà nghiên cứu, phê bình tìm hiểu đánh giá từ hơn nửa thế
kỷ qua. Phần lớn truyện ngắn của ông được nghiên cứu, đánh giá khái quát ở nhiều góc độ: thời
đại, nội dung tư tưởng, phong cách nghệ thuật. Trong đó, chúng ta phải nhắc đến các nhà nghiên
cứu, các nhà văn tên tuổi như: Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức v.v … đã có
những đóng góp đáng kể trong việc khẳng đònh tên tuổi và sự nghiệp truyện ngắn củaBùi Hiển.
Nhìn chung, các tác giả đều đánh giá cao truyện ngắn Bùi Hiển và thống nhất ở một số
điểm như sau:
- Truyện ngắn của Bùi Hiển đã khám phá vùng biển Quỳnh Lưu - Nghệ An. Mảnh đất
miền Trung này có sức hấp dẫn đặc biệt đối với ông.
- Truyện ngắn Bùi Hiển quan tâm đến các đề tài: cuộc vật lộn gay go, quyết liệt của người
dân chài với biển cả; cuộc sống tẻ nhạt, tù túng, mòn mỏi của người viên chức và dân nghèo
thành thò; Phong trào xây dựng hợp tác xã trên quê hương Nghệ Anh; Ý thức, trách nhiệm, nhân
cách của con người trong thời đại mới …
- Ngôn ngữ trong truyện ngắn Bùi Hiển là ngôn ngữ đời sống sinh họat đời thường mang
đậm chất giọng Trung Bộ.
- Bùi Hiển thành công trong việc miêu tả tâm trạng nhân vật trong truyện ngắn.
- Truyện Bùi Hiển có cốt truyện đơn giản; kết cấu độc đáo, hấp dẫn.
- Lời văn nghệ thuật trong truyện ngắn của Bùi Hiển được tổ chức theo: phương thức trần
thuật chủ quan và khách quan.
- Văn Bùi Hiển nhẹ nhàng, đằm thắm, giàu chất trữ tình xen lẫn chất giọng hài hước, dí
dỏm.
- Từ trước tới nay, việc khảo sát truyện ngắn Bùi Hiển chưa nhiều, chưa có hệ thống. Tính
đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu hòan chỉnh về đặc điểm truyện ngắn Bùi Hiển.
Do đó, vấn đề này cần sự tìm tòi, khám phá kỹ hơn. Chúng tôi nghó rằng, những nhận đònh, đánh
giá của các nhà nghiên cứu, phê bình về truyện ngắn Bùi Hiển là cơ sở để chúng tôi vận dụng
khảo sát có hệ thống về truyện ngắn Bùi Hiển. Mục đích của việc tìm hiểu, khảo sát này là làm
nổi bật Đặc điểm truyện ngắn Bùi Hiển.
4.Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã dựa trên quan điểm lập trường Mác xít trong
luận văn sẽ đem đến cho người đọc thấy những yếu tố làm nên đặc điểm phong cách của Bùi
Hiển, cũng như sự thống nhất cao độ giữa bút pháp nghệ thuật và nội dung tư tưởng thể hiện
trong tác phẩm của nhà văn.
Thực hiện luận văn này, chúng tôi mong đóng góp một kết quả nhất đònh trong việc nghiên
cứu cây bút truyện ngắn hiện thực Bùi Hiển trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Chúng tôi
sẽ có một cái nhìn tương đối chính xác, toàn diện hơn về tác phẩm Bùi Hiển nhằm bổ sung thêm
một số ý kiến, nhận đònh bên cạnh những ý kiến, nhận đònh của l
ớp người nghiên cứu trước đây.
Đặc biệt, xét từ góc độ thi pháp, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ hơn đặc điểm truyện ngắn Bùi
Hiển. Với luận văn này, chúng tôi sẽ góp một tiếng nói khẳng đònh những đóng góp của Bùi
Hiển về thể loại truyện ngắn trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam nói riêng và trong nền văn
học Việt Nam nói chung.
6.Cấu trúc luận văn
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn gồm hai chương như sau :
Chương I : Đặc điểm về nội dung của truyện ngắn Bùi Hiển.
Chương II : Đặc điểm về nghệ thuật của truyện ngắn Bùi Hiển.
Chương 1: ĐẶC ĐIỂM VỀ NỘI DUNG
thảo và bảy tháng sau thì cuốn Nằm vạ ra đời (Nhà xuất bản Đời nay)[61, tr.216].
Nhưng có lẽ những truyện ngắn thuộc mảng đề tài đời sống người dân chài thì nhà văn Bùi
Hiển mới có những nét khám phá mới, lạ. Bởi lần đầu tiên người đọc mới hiểu rõ về mảnh đất
Nghệ An, về đặc điểm của người nông dân và ngư dân xứ Nghệ. Và nhà văn đã tâm sự với nhà
văn Hà Minh Đức như sau: “Đối với tôi, Nghệ An là quê hương thân thiết và tôi đã sống hơn nửa
đời người ở đó… Tôi ở miền biển, nhưng cũng sống và hiểu hết về nhiều miền quê khác ở Nghệ An
… Người nông dân xứ Nghệ rất tốt… Chất người cũng bộc trực và bộc tà bộc tuệch … Đất Nghệ
An nghèo, người nông dân trước đây làm ăn không giỏi, ít sáng kiến trong công việc”[14, tr.140-
41]. Ông đã từng được sống trong cái không khí sôi động tấp nập của người làng chài. Nhưng
cũng có khi cũng tại đây Bùi Hiển lại phải chứng kiến những cảnh tượng thương tâm gây ám
ảnh khôn nguôi nơi tâm trí. Và rồi những cảnh tang thương lại cứ lởn vởn trong tâm hồn, chúng
hiện rõ mồn một không thể nào xóa nhòa được. Cứ như thế Bùi Hiển quan sát, ghi chép, rồi
buồn lo cho số phận cuộc đời của họ. Suốt cuộc đời này nhất là kể từ khi ý thức được trách
nhiệm của người cầm bút, Bùi Hiển luôn tâm niệm: “Dù sống hay chết tôi cũng không thoát khỏi
sự cảm thông chan hòa ấy. Hình như nó chính là điều mà tôi đã tiếp nhận được Maupassannt,
Daudet, Nguyễn Công Hoan… từ chủ đề thân phận con người nhỏ bé. Những trang viết của tôi
bao giờ cũng gắng giữ lại cái tình người ấm áp ấy. Nó lá cái gì còn lớn hơn cả tình bạn và tình
yêu cộng lại. Nó đã nâng tôi sống và gắn bó những người dân vùng biển với nhau” [14, tr.224].
Chỉ có tình yêu thương vô hạn với con người như thế, Bùi Hiển mới tạo được dư vò đằm
thắm, lạc quan trong những trang truyện ngắn. Thiên nhiên dưới mắt con người thật hào phóng
nhưng cũng có khi tàn nhẫn và khốc liệt. Biết bao ngư dân đã vùi thây dưới dưới lòng biển. Thế
nhưng cuộc sống vốn vẫn tuần hoàn, người dân biển vì mưu sinh, nên sau mỗi cơn bão chết
người, hại của lại “bình thản ôm rương xuống biển, giong buồm rẽ sóng ra khơi, thầm kỳ mong ở
một ân huệ mới của biển trời, có tính chất đền bù an ủi” (vì theo kinh nghiệm lâu đời, trước và
sau bão thường đánh được nhiều cá)[14, tr.148-149].
Truyện ngắn của Bùi Hiển viết trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu hướng về phản ánh
những sinh hoạt hàng ngày của những người dân nơi quê hương ông. Quê hương của Bùi Hiển –
một vùng biển miền Trung với những điều kiện sinh sống, phong tục tập quán riêng không trộn
lẫn v
ới các vùng quê khác. Chính vì thế nên khi viết đời sống người dân quê hương nhưng
tâm hồn của họ. Đứng ở vò trí nhà văn, Bùi Hiển không hề có ý phê phán, lên án mà ông chỉ
nhìn ở góc độ cảm thông là trên hết. Chính vì thế, truyện ngắn của Bùi Hiển là những trang viết
chân thật về tâm hồn của người dân quê ông “Tôi chỉ đơn thuần muốn phản ánh con người quê
tôi đúng như họ có”[11, tr.227]. Đặc biệt khi nói về những tật xấu của người ngư dân, Bùi Hiển
không hề có ý đònh bôi nhọ họ mà chỉ bộc lộ một niềm cảm thông vô hạn. Ôâng đã nói rất chân
thành về những điều mà mình đã thể hiện trong tác phẩm: “ Người lao động có mặt tốt, mặt
xấu; và cái xấu trở thành thói quen và cũng có nhiều cái tốt trở thành nếp sống … Và khi miêu tả
những người lao động nghèo khổ tôi chú ý đến mặt bản năng của họ. Cuộc sống càng phóng
khoáng thì phần bản năng cũng có nhiều nét khoẻ khoắn”[11, tr.143].
Một trong những phong tục mà người dân quê miền Trung thường nói đến đó là tục nằm
vạ. Vợ giận chồng, con dâu hờn dỗi mẹ chồng cũng sinh ra nằm vạ. Nó khác việc nằm vạ của
người dân miền Bắc. Người dân miền Bắc nằm vạ khi muốn đòi một thỏa thuận vật chất nào đó.
Tô Hoài cũng có một số truyện ngắn viết về việc hờn dỗi sinh ra nằm vạ giữa vợ chồng
(Truyện Ông dỗi ), giữa mẹ với con trai, giữa mẹ chồng với con dâu (Truyện Chớp bể mưa
nguồn) chỉ có điều sự việc xảy ra và kết thúc trong một thời gian ngắn, và sự việc không tỏ ra
nghiêm trọng phải nhờ làng phân xử như truyện Nằm vạ của Bùi Hiển.
Ở truyện Nằm vạ, chò Đỏ hờn dỗi chồng rồi lăn ra nằm vạ. Việc này hoàn toàn khác với
việc nằm vạ của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo - Nam Cao. Chí phèo đã từng
chửi nhau với Lý Cường, rạch mặt nằm vạ tại nhà Bá Kiến chỉ vì muốn xin tiền uống rượu. Khi
Bá Kiến cho tiền rồi Chí liền thôi trò nằm vạ. Còn chò Đỏ chỉ vì một chút hờn giận nhỏ với
chồng đã nằm vạ bảy tám ngày liền. Sự việc càng trở nên nghiêm trọng hơn, khi người nhà chò
Đỏ phải mời làng phân xử. Nhưng cuối cùng chò Đỏ đã bật cười khi thấy vẻ lóng ngóng của
chồng trong lúc rót nước mời thầy lý. Buổi xử kiện đã kết thúc một cách bất ngờ và trò nằm vạ
của chò Đỏ đã chấm dứt.
Như vậy, những mâu thuẫn trong gia đình là đề tài chung của các nhà văn. Chỉ có điều mỗi
nhân vật được nhà văn xây dựng có điều kiện, hoàn cảnh khác nhau. Từ đó mỗi nhân vật sẽ có
cách ứng xử riêng. Nhân vật của Bùi Hiển là những người dân chài ở Nghệ An, còn nhân vật
của Tô Hoài lại là những người dân sống ở làng Nghóa Đô. Hai nhà văn đã chọn cho nhân vật
của mình một cách bộc lộ tính cách. Chính những nét cá tính đó giúp chúng ta hiểu hơn phong
tục, tập quán của từng vùng miền. Cuộc hờn dỗi của chò Đỏ với chồng được nhà văn Bùi Hiển
xanh lè cả nước biển, mình hết hồn. Nhìn lưỡi câu, con mực vẫn còn nguyên.
… Có người họ kể, đêm ở ngoài khơi, trời êm biển lặng, mọi người đang neo ngủ thấy các
chú bơi lù lù rồi trèo lên ngồi dăng dăng hai bên mạn thuyền. Họ nói : “ Thôi mà, anh em mình,
trêu nhau làm gì? ”, thế là cả bọn nhảy sùm xuống bơi đi.
Mồ ma ông cụ Bỉnh khi xưa, dạn khiếp. Nửa đêm ông ta đi lưới về, qua dưới cây đa trước
miếu, một bầy hắn bíu lấy tay. Không thấy người đâu nhưng nghe tiếng hắn léo nhéo xin cá. Ông
ta đáp: “Chào xin với xỏ, được mấy con cá về cho vợ con đây!”. Thấy nhẹ trong rổ, sờ vô thì cá
đã biến mất. Ông ta nạt “Đồ quỷ, cứ nghòch thôi!”. Thế là tiếng cười bật lên ríu rít, lát sau lại
thấy nặng rổ”[54, tr.62].
Rồi nhân đà kể chuyện vừa là đáp lời chàng trai vừa hỏi, lão Nhiệm Bình lại say sưa kể về
những con thuyền ma khác:
“…_ Thuyền ma à ? À … có một lần, đã lâu lắm, chính mắt tôi thấy. Hồi ấy tôi còn trẻ lắm,
tôi còn đi trai dưới thuyền mồ ma ông Phó Nhụy …
… Nhưng trên mặt biển, ùn ùn từ đâu đến _ dân chài bảo từ Thủy phủ đùn lên _ một đám
sương mù dày đặc, mang vò mặn và hơi lạnh thấm thía …
… Đột nhiên không ai bảo ai, tất cả im lặng: họ vừa ngửi thấy một mùi kỳ dò, một mùi nhạt
và ẩm ướt, tanh lợm như mùi rong rêu. Rồi một bóng đen dài hiện trong sương, phía trước mặt …
Quả nhiên trong sương bóng đen rõ dần thành một chiếc thuyền, trên đó lố nhố những bóng
người chèo. Họ chèo lặng lẽ dò thường, tưởng như thuyền lướt trên biển dầu …
… Cái bóng cả thuyền lẫn buồm, đen nhờ nhờ, chỉ còn để lại một khoảng trống không trắng
toát, khoảng trắng ấy nhòa dần vào màu sương phơn phớt xám”[54, tr.69-70-71-72].
Có trường hợp, có người còn được nhìn thấy, được nói chuyện với người đã mất mà theo
nhà văn Bùi Hiển gọi đó là “một sự xuất phàm” hay “một cảnh tượng kỳ lạ”. Bởi lúc ấy duy nhất
hai con người ở cõi âm và cõi dương được gặp nhau, trò chuyện lần cuối cùng. Và nhà văn đã
đưa ra những giả đònh là “mọi người hoa mắt”, “loạn thò giác”. Chỉ biết rằng đối với người dân
chài nơi đây, họ tin đó là chuyện có thật “…những người trong cuộc đều đoán chắc đã thấy rõ
ràng và kể lại được tách bạch từng tiểu tiết.
… Người ta nhận ra được những hình thuyền. Buồm không thấy căng lên: không nghe chèo
khuấy nước. nhưng ba chiếc thuyền tiến vào rất nhanh. Ba ngọn đèn vuông toả ánh xanh mờ bí
mật, không soi rõ những bóng người lố nhố trên thuyền. Thuyền đi rất êm, như cách lướt trong