Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ văn hóa - Pdf 25



1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ HẢI HÀ TRUYỆN NGẮN ĐỖ BÍCH THÚY
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Đức
Hà Nội – 2013
3
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy
cô giáo Khoa Văn Học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học
Quốc gia Hà Nội, các thầy cô công tác tại Viện Văn học Việt Nam, gia đình, bạn bè
và đồng nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến PGS.TS
Hà Văn Đức – người đã hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để em hoàn thành tốt
luận văn này.
Do còn hạn chế về mặt trình độ nên luận văn chắc chắn sẽ còn nhiều thiếu sót,
em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý từ phía thầy cô, đồng nghiệp và các bạn.

Hà Nội, tháng 11 năm 2013
Tác giả luận văn

2.2.1 Con người với con người 49
2.2.2 Con người với vật chất 59
2.2.3 Con người với quá khứ 64
5
CHƢƠNG 3: CÁC BIỂU TƢỢNG VĂN HÓA VÀ NGÔN NGỮ VĂN CHƢƠNG
ĐỖ BÍCH THÚY 70
3.1 Các biểu tượng văn hóa 70
3.1.1 Khái niệm về biểu tượng văn hóa 70
3.1.2 Biểu tượng lửa/bếp lửa 73
3.1.3 Tiếng sáo, tiếng khèn, tiếng đàn môi 79
3.1.4 Cái ngưỡng cửa cao 83
3.2 Ngôn ngữ trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy 86
3.2.1 Ngôn ngữ phản ánh tư duy của người miền núi 87
3.2.2 Ngôn ngữ giàu hình ảnh và mang tính biểu cảm 95
3.2.3 Ngôn ngữ mang tính đa thanh 100
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ năm 1975 đến nay, đất nước bước sang một giai đoạn mới. Văn học cũng
chuyển mình để khám phá những phương thức thể hiện mới cùng những đề tài mới
phản ánh đời sống xã hội đa dạng trước yêu cầu mới của thời đại. Văn xuôi đã có

của chị về đề tài miền núi thậm chí đã được chuyển thể thành phim và đoạt nhiều
giải thưởng.
“Người đàn bà viết văn bước ra từ dòng Nho Quế” không chỉ thành công với
thể loại truyện ngắn mà còn tham gia sáng tác nhiều thể loại khác nữa như truyện
vừa Người đàn bà miền núi (2007), tản văn Trên căn gác áp mái (2011), tiểu thuyết
Bóng của cây sồi (2005)… Ngoài ra, chị còn viết kịch bản cho sân khấu kịch nói
như: Cô gái xinh đẹp, Quá khứ đòi nợ, Diễm 500 đô… Gần đây nhất, nhà văn đã
cho ra mắt bạn đọc tập truyện ngắn Đàn bà đẹp và tập tản văn Đến độ hoa vàng
(tháng 6/2013). Cùng với đó, Đỗ Bích Thúy đã mang đến cho độc giả những trải
nghiệm mới lạ với tiểu thuyết lịch sử Cánh chim kiêu hãnh (tháng 10/2013).
Tuy sáng tác của Đỗ Bích Thúy khá phong phú về mặt thể loại nhưng tạo được
ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả lại chính là ở thể loại truyện ngắn. Truyện ngắn
của Đỗ Bích Thúy viết nhiều về đề tài miền núi cùng với văn hóa của đồng bào dân
tộc. Trong đó, phần lớn các tác phẩm đều tồn tại một địa danh quen thuộc, mảnh đất
Hà Giang, nơi chị sinh ra và lớn lên với những kỷ niệm vui, buồn của một chặng
đường đời đã đi qua. Vì thế, Đỗ Bích Thúy viết bằng những cảm xúc chân thật nhất,
mỗi trang văn như một phần máu thịt cùng những miền ký ức xa thẳm, dung dị,
mộc mạc mà không thiếu phần gợi cảm. Thông qua ngòi bút miêu tả tinh tế của nhà
văn, thiên nhiên, con người, văn hóa miền núi phía Bắc hiện lên sinh động, phong
phú và gần gũi. Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy đã, đang và sẽ giúp người đọc hiểu
được nhiều hơn về những nét văn hóa đặc sắc của những người con nơi núi rừng
nhiều hơn nữa. Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài Truyện
ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ văn hóa. Qua đề tài này, chúng tôi hi vọng đóng
góp một cách nhìn nhận về phương diện văn hóa của truyện ngắn Đỗ Bích Thúy và
từ đó thấy được diện mạo đa sắc màu của văn chương hiện đại. 3
2. Lịch sử vấn đề
Đỗ Bích Thúy đến với văn chương từ rất sớm, chị từng sáng tác và gửi bài cho

quán còn giữ nguyên vẻ hoang sơ, thuần phác, của ánh trăng “cứ rọi vào nhà cả
đêm, trăng đi một vòng của trước ra cửa sau”, của những trái tim con gái vật vã,
cháy bùng tiếng khèn gọi tình dưới thung xa, của bếp lửa nhà sàn và tiếng mõ trâu
gõ vào khuya khoắt, của những kiếp sống nhọc nhằn và con bìm bịp say thuốc, say
rượu ngủ khì khì bên chân chủ.” [16;104]
Trong bài viết Cảm hứng cảm thương trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và
Nguyễn Ngọc Tư đăng trên tạp chí Văn nghệ quân đội (661) tháng 1/2007, tác giả
Phạm Thùy Dương cho rằng truyện ngắn Đỗ Bích Thúy luôn có cái nhìn nhân ái về
con người. Tác giả thấy rõ trong truyện ngắn của chị “đằng sau cuộc sống, khí chất
của con người mỗi vùng đất là tình cảm cảm thương sâu sắc của nhà văn tới những
con người bất hạnh.” [7;102]
Nhà văn Trung Trung Đỉnh trong bài viết Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy in
trên báo Văn nghệ số 5, ra ngày 3/2/2007 cảm nhận khá sâu sắc về văn phong Đỗ
Bích Thúy: “Đỗ Bích Thúy có khả năng viết truyện về cảnh sinh hoạt truyền thống
của con người miền cao một cách tài tình. Không truyện nào là không kể về cách
sống, lối sinh hoạt, nết ăn ở và cả quang cảnh sinh hoạt lễ hội, phong tục tập quán.
Truyện nào cũng hay cũng mới, cũng lạ mặc dù các tác giả không hề cố ý đưa vào
chi tiết lạ. Thế mà đọc đến đâu ta cũng sững sờ và bị chinh phục bởi những chi tiết
rất đặc sắc chỉ người miền cao mới có.” [10; 58]
Trong bài báo Từ truyện ngắn của một người viết trẻ đăng trên báo Văn nghệ
trẻ (số 3/2005), nhà văn Lê Thành Nghị đánh giá về văn phong của Đỗ Bích Thúy
một cách khái quát. Bằng niềm ưu ái với “đứa con của núi”, nhà nghiên cứu Lê
Thành Nghị với cảm nhận tinh tế của mình đã thâu tóm được thần thái truyện ngắn
Đỗ Bích Thúy: “Chúng ta sẽ bước vào một không gian lạ, không gian có núi cao,
trời rộng của vùng núi phía Bắc, nơi từ đó nhìn xuống, dòng sông Nho Quế chỉ còn
bé như sợi chỉ dưới chân núi Mã Pí Lèng”. Một không gian đầy hoa lá rừng, có
tiếng gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên
cuội đỏ, có những chàng trai thổi sáo theo sau các cô gái khoác quẩy tấu xuống chợ;
những nồi thắng cố nghi ngút khói trong phiên chợ vùng cao đầy màu sắc; những


thuật, thế giới nhân vật, ngôn ngữ… Qua luận văn này, chúng tôi mong muốn khảo 6
sát truyện ngắn – mảng đặc sắc và đem lại nhiều thành công nhất cho nhà văn –
nhìn từ góc độ văn hóa để từ đó thấy được “bản sắc” riêng biệt của Đỗ Bích Thúy
trong dòng chảy của văn xuôi Việt Nam đương đại.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ văn hóa, người viết đi
sâu khảo sát truyện ngắn của tác giả từ góc độ văn hóa thể hiện trên hai phương
diện nội dung và nghệ thuật.
Sự nghiệp sáng tác của Đỗ Bích Thúy tính đến thời điểm này nổi bật nhất là
các sáng tác truyện ngắn. Nhà văn đã xuất bản bảy tập truyện ngắn:
1/ Sau những mùa trăng, NXB Văn nghệ Quân đội, 2001.
2/ Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, NXB Hội nhà văn, 2003.
3/ Ký ức đôi guốc đỏ, NXB Phụ nữ, năm 2004.
4/ Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, NXB Công an Nhân dân, 2006.
5/ Người đàn bà miền núi, NXB Phụ nữ, 2008.
6/ Mèo Đen, NXB Thời đại, 2011.
7/ Đàn bà đẹp, NXB Văn Học & Liên Việt, 2013.
Song theo khảo sát của chúng tôi, những tập truyện đó có một số truyện trùng
nhau. Bởi vậy, ngoại trừ những truyện ngắn không viết về đề tài miền núi (theo
khảo sát của chúng tôi có hai truyện: Ở phố, trong đám đông có một ánh mắt) và
những truyện được in lại nhiều lần, chúng tôi tập trung nghiên cứu qua 26 truyện
ngắn tiêu biểu bao gồm: 21 truyện được in trong tập Tiếng đàn môi sau bờ rào đá –
tập truyện được coi là tập hợp những sáng tác thành công nhất của Đỗ Bích Thúy;
05 truyện ngắn khác được tuyển chọn in trong các tập sách khác nhau hoặc đăng
trên các báo hay tạp chí là: Tráng A Khành, Gió lùa qua cửa, Như con chim nhỏ,
Mèo đen và Trời đâu đã sáng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu


1.1 Tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Nội hàm của khái niệm “văn hóa” theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp đều là
những đặc trưng của văn hóa tộc người. Hiểu theo nghĩa rộng, văn hóa là tổng thể
những thành tựu, những giá trị vật chất và tinh thần do các cộng đồng dân tộc sáng
tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo tự nhiên và phát triển xã hội, nhằm
đảm bảo nhu cầu cuộc sống của con người.
Dân tộc học chia văn hóa thành ba loại: văn hóa vật chất (bao gồm công cụ
sản xuất, phương tiện đi lại, làng mạc, nhà cửa, quần áo, giày dép, đồ trang sức, các
thức ăn, thức uống…); văn hóa xã hội (bao gồm các thiết chế xã hội, gia đình, dòng
họ, làng bản và mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng); văn hóa tinh
thần (bao gồm các tri thức khoa học, phong tục tập quán, tôn giáo, xã hội, văn học,
nghệ thuật dân gian…). Nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã thống kê được gần 400 định
nghĩa khác nhau về văn hóa.
Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng,
theo không gian hoặc theo thời gian Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là
những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật ). Giới hạn
theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn
hóa giao tiếp, văn hóa kinh doanh ). Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng
để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hóa Tây Nguyên, văn hóa Nam
Bộ ). Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng
giai đoạn (văn hóa Hoà Bình, văn hóa Đông Sơn )
Theo nghĩa rộng, văn hóa thường được xem là bao gồm tất cả những gì do con
người sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo

(
1
) Hồ Chí Minh: Toàn tập. - NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 3, tr. 431. 10
Theo định nghĩa của UNESCO được thông qua trong bản tuyên bố về những
chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì từ ngày 26/7/1982 đến
ngày 06/08/1982 tại Mexico: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét
riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã
hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn
chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các
giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả
năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sự vật
đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính
nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một
phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi
không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội
lên bản thân.” [50]
1.1.2 Tiếp cận văn học từ hệ thống văn hóa
Xét trong mối quan hệ giữa văn học và văn hoá, có thể thấy văn học là một bộ
phận của văn hoá. Đây là mối quan hệ biện chứng, phản ánh đặc điểm có tính quy
luật của quan hệ riêng chung có tầm cấp triết học - “… cái riêng chỉ tồn tại trong
mức độ nó liên hệ với cái chung. Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái
riên…” [17; 384].
Nghiên cứu văn học không thể tách rời văn học với những mối liên hệ với
nhiều bộ phận (cái riêng) khác, và nhất là không thể không đặt nó trong mối quan
hệ với văn hoá (cái chung) với tư cách là toàn bộ sáng tạo vật chất và tinh thần của
nhân loại, như M. Bakhtin xác định: “Văn học là một bộ phận không thể tách rời

vẹn của toàn bộ văn hóa một thời đại trong đó nó tồn tại.” [23; 361]. Phương pháp
tiếp cận văn học từ quan điểm văn hóa học ưu tiên cho việc phục nguyên không
gian văn hóa trong đó tác phẩm văn học đã ra đời, xác lập sự chi phối của các quan
niệm triết học, tôn giáo, đạo đức, chính trị, luật pháp, thẩm mỹ, quan niệm về con
người… từng tồn tại trong một không gian văn hóa xác định đối với tác phẩm về
các mặt xây dựng nhân vật, kết cấu, mô-típ, hình tượng, ngôn ngữ… Tóm lại,
phương pháp này thiên về giải mã các hình tượng nghệ thuật, tìm ra nét thời đại của
tác phẩm. 12
Phương pháp tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa gần với thi pháp học vì nó
vận dụng những tri thức về văn hóa để nhận diện và giải mã các yếu tố thi pháp của
tác phẩm. Tuy nhiên, điểm khác biệt là ở chỗ, tiếp cận văn hóa học không chủ
trương miêu tả thế giới nghệ thuật của tác phẩm như một vũ trụ khép kín mà đặt ra
nhiệm vụ đối chiếu, so sánh, truy nguyên các quan niệm văn hóa của thời đại nơi tác
phẩm được sản sinh để tìm nguồn gốc của các dạng thức quan niệm về con người,
về không – thời gian trong tác phẩm. Do ý thức rằng không có một nền văn hóa
chung chung trừu tượng nằm ngoài không gian và thời gian, phương pháp tiếp cận
văn học theo góc độ văn hóa luôn chú ý đến tính lịch sử cụ thể của một quan niệm
giá trị văn hóa, đến đặc trưng cấu trúc hệ thống văn hóa. Đến lượt mình, các quan
niệm này lại là sản phẩm của những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể.
Nếu coi văn hóa là các thiết chế đời sống vật chất và đời sống tinh thần của
con người, là các giá trị hình thành trong các mối quan hệ ứng xử căn bản: ứng xử
xã hội, ứng xử thiên nhiên và ứng xử với bản thân thì phương pháp tiếp cận văn hóa
học cũng có những tiêu chí tương ứng khi nghiên cứu, xem xét, đánh giá một hiện
tượng văn học. Trước hết, chúng ta phải chú ý đến quan niệm về xã hội và các kiểu
hình tượng xã hôi trong văn học. Đó là các kiểu không gian tồn tại của con người:
không gian lao động sản xuất, không gian đấu tranh, không gian sinh hoạt văn hóa,
không gian xã hội mang màu sắc chính trị và cả không gian xã hội được khúc xạ

về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp. Mỗi nhà văn lý giải
cuộc sống từ một góc nhìn riêng với những phương pháp nghệ thuật của riêng mình.
Từ thời kỳ đổi mới trở đi được coi là giai đoạn cực thịnh của thể loại truyện
ngắn trong nền văn học nước ta. Nhà nghiên cứu Phạm Tuấn Anh cho rằng: “Những
phẩm chất thẩm mỹ mới chỉ có thể được nảy nở, phô sắc và kết đọng trong một môi
trường văn hóa – xã hội mới. Không ai còn có thể hoàn nghi gì nữa về vai trò của
bối cảnh văn hóa – xã hội Việt Nam kể từ thời kỳ đổi mới đối với sự nghiệp phát
triển dồi dào của văn xuôi trong đó có truyện ngắn…” [2]. Bối cảnh mới thúc đẩy
quá trình đổi thay bởi vì trong lòng nó một hệ giá trị khác trước đã hình thành. Hệ
giá trị chuyển từ cao cả, đơn trị sang đời thường, đa trị. Những năm sau đổi mới đến
nay, cùng với sự thay đổi lớn lao của đời sống văn học, thể loại truyện ngắn gắn liền
với các tên tuổi như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, 14
Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Võ Thị Hảo, Cao Duy Sơn,
Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Thị Thu
Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư… không chỉ tăng nhanh
về số lượng mà còn đổi mới từ nội dung phản ánh đến hình thức thể hiện.
Ngoài một số truyện “đường rừng” ra đời trước 1945, đề tài dân tộc và miền
núi trong văn xuôi Việt Nam hiện đại được hình thành, phát triển chủ yếu từ sau
Cách mạng tháng Tám. Đây là một đề tài văn học lớn, từng đem lại những tác phẩm
đứng ở vị trí hàng đầu trong nền văn học cách mạng. Đây cũng là một khu vực văn
học đặc biệt bởi có sự tham gia của cả người Kinh và người dân tộc thiểu số trong
đội ngũ sáng tác.
Đáng chú ý là, trong khi văn học miền xuôi và đô thị đang phát triển khá
phong phú cùng xu hướng đô thị hoá của không ít cây bút trẻ, nhiều tác phẩm văn
xuôi giành được giải thưởng văn học cao trong nước và quốc tế những năm gần đây
lại là các tác phẩm viết về miền núi (
2

tác phẩm hướng về công cuộc xây dựng đời sống, phát triển kinh tế ở miền núi như
các tiểu thuyết Mũi tên ám khói (1991), Gió hoang (1992) của Ma Trường Nguyên,
tập bút kí Cao nguyên trắng (1992) của Mã A Lềnh và các tập truyện ngắn Vùng đồi
gió quẩn (1995), Chuyện ở chân núi Hồng Ngài (2005) của Sa Phong Ba. Ngoài hai
mảng đề tài quen thuộc này, nhờ sự dân chủ hoá của văn học đổi mới, các phạm vi
hiện thực được mở ra rộng rãi hơn. Những mặt trái, những mảng tối văn học trước
đây từng né tránh được phơi bày. Dồn dập trong nửa đầu thập kỉ 90, các tiểu thuyết
Người trong ống (1990), Gã ngược đời (1990), Vào hang (1990), Chồng thật vợ giả
(1994)… của Vi Hồng được dư luận quan tâm bởi những vấn đề có tính thời sự.
Các tác phẩm này đề cập tới sai lầm của mô hình hợp tác xã nông nghiệp, sự ấu trĩ
của việc ngăn cấm làm giàu cá nhân và gióng hồi chuông cảnh báo về sự hoành
hành ghê gớm của cái ác. Tái hiện chân thực một thời bao cấp, tiểu thuyết Xứ mưa
(2000) của Hoàng Thế Sinh phơi bày thảm trạng đói nghèo, nhem nhuốc, túng quẫn
của công chức Nhà nước, thân phận bọt bèo vô nghĩa của giáo viên cùng sự hoang
mang, đổ vỡ niềm tin của giới trí thức trước sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Bi kịch từ cái nghèo, cái ác làm bùng phát khát vọng làm giàu và đổi đời trong cuộc
kiếm tìm đá đỏ và vàng ở miền núi cũng là đề tài cho nhiều tác phẩm của nhà văn
này. Mạnh mẽ, táo bạo và bi phẫn, tiểu thuyết Đàn trời (2006) của Cao Duy Sơn
công khai hé mở thực trạng về sự nghèo đói truyền kiếp của người dân vùng cao,
vạch trần thói mị dân, sự sa đoạ cùng hành vi đen tối của quan tham cao cấp thời đại
mới. Cùng sự hiện hữu của cái nghèo, cái ác, tác động tiêu cực của kinh tế thị
trường đối với vùng cao là vấn đề được nhiều tác phẩm quan tâm. Sự xâm thực của 16
thương trường phá vỡ trật tự rừng xanh, lối sống thực dụng làm nứt rạn nếp nghĩ
truyền thống, cái xấu xa phi pháp khuấy đảo sự thanh bình của làng bản đó là
những dấu hiệu băn khoăn lo ngại trước sự biến chuyển của miền núi đương đại, thể
hiện trong một số truyện ngắn như Làng Mô của Thu Loan, Giữa cơn mưa trắng
xoá của Niê Thanh Mai, Lửa cháy trong rừng hoang của Sương Nguyệt Minh,

là “có những dấu hiệu mới” (Nguyên Ngọc), "thể hiện rõ dấu hiệu của một tiểu
thuyết hiện đại" (Lâm Tiến). Qua việc xây dựng những nhân vật luôn có sự chuyển
hoá giữa các cực đối lập, tuy còn khiên cưỡng, tiểu thuyết Dặm ngàn rong ruổi
(2000) của Triều Ân đã thể hiện nét tích cực ở cái nhìn con người trong quan điểm
phát triển, như một sự phủ nhận cái nhìn tĩnh tại, một chiều thường thấy trong văn
xuôi miền núi. Tiểu thuyết Dòng đời (2007) của Hữu Tiến có hướng đi khác mọi tác
phẩm văn xuôi miền núi xưa nay viết về số phận con người trước và sau Cách
mạng; kết thúc truyện, Cách mạng thành công nhưng các nhân vật không có sự đổi
đời mà đi vào bế tắc, ngõ cụt và cái chết bởi sự xô đẩy của định kiến và cái xấu cái
ác muôn đời. Với những nhân vật không có quá trình cách mạng hoá này, Dòng đời
mang đậm cái nhìn đời tư - thế sự, hoàn toàn xa lạ với cách nhìn hiện thực và con
người theo quan niệm sử thi trước đây. Trong tiểu thuyết này và tập truyện ngắn Cô
gái nhặt bông gạo (2004) của Hữu Tiến, tính cách nhân vật khá rõ nét và bước đầu
có xu hướng đa diện, phức tạp.
3. Nét mới thứ ba của văn xuôi miền núi thời kì đổi mới là sự phát triển về đội
ngũ tác giả. Những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI, sau nhiều năm thiếu vắng
người viết, ở một số vùng miền đã xuất hiện những cây bút mới. Ở Tây Nguyên
trước kia chỉ có Y Điêng, nay có Hlinh Niê (tức Linh Nga Niê Kđăm, người Êđê)
với tập truyện Con rắn màu xanh da trời (1997) và tập kí Trăng Xí Thoại (1999),
Kim Nhất (người Bahnar) với các tập truyện Động rừng (1999), Hồn ma núi (2002)
và Niê Thanh Mai (người Êđê) với tập truyện Về bên kia núi (2007). Kí của Hlinh
Niê sắc sảo, tâm huyết, đào sâu vào các mặt đời sống của các dân tộc Tây Nguyên
làm rạng lên những nét riêng độc đáo trong lễ hội, nhà cửa, folklore, thổ cẩm đậm
bản sắc; chỉ ra cái xấu chưa lụi tàn, cái tốt đang khởi sắc và cả cái đẹp đang mai
một. Nhiều bài kí của nữ nhà văn - nhạc sĩ này là những thông điệp SOS trước hiện
tượng mất mát từng ngày của văn hoá truyền thống ở Tây Nguyên. Kim Nhất lại là 18
nhà văn đi tiên phong trong việc chỉ ra thực trạng về sự mông muội, mê tín dị đoan

19
Ở các vùng Việt Bắc và Tây Bắc là sự tiếp nối thế hệ. Sang thời kì đổi mới,
ngoài Triều Ân, Vi Hồng, Mã A Lềnh, Sa Phong Ba còn sung sức trong sáng tạo,
các cây bút văn xuôi còn lại của lớp nhà văn dân tộc thiểu số thời kì đầu (xuất hiện
từ đầu thập kỉ 60 thế kỉ trước) đều viết ít hoặc ngừng viết. Kế tục lớp nhà văn này,
có sự xuất hiện của nhiều gương mặt văn xuôi mới. Đó là các cây bút người Mường
như Hà Trung Nghĩa với Hoàng hôn (tập truyện, 1995) và Lửa trong rừng sa mu
(tiểu thuyết, 1996); Bùi Minh Chức với Sự tích một câu nói (tập truyện, 2001) và
Hà Lý (hiện sống ở Hà Nội) với Ngọt đắng vị Mường (tập truyện, 2002). Truyện
ngắn của Bùi Minh Chức thường ở dạng những cổ tích, truyền thuyết giải thích về
nguồn gốc các vùng đất mường ở Hoà Bình. Tác phẩm của Hà Trung Nghĩa và Hà
Lý đi vào các khía cạnh của hiện thực đương đại theo hướng khai thác đời tư nhân
vật, trong đó Lửa trong rừng sa mu phản ánh khá cụ thể cuộc sống của giáo viên,
cán bộ quân y và bà con dân tộc ở vùng cao. Trong lực lượng viết, tác giả người
Tày luôn chiếm số đông. Ngoài các nhà văn đã nêu như Ma Trường Nguyên, Hà
Lâm Kỳ, Bùi Thị Như Lan, Hữu Tiến, còn có Đoàn Lư với Kỉ niệm về một dòng
sông (tập truyện, 1997) và Ngựa hoang lột xác (tập truyện, 1998); Hoàng Hữu Sang
với Người đánh gấu trên núi Suối Mây (tập truyện, 1997) và Cửa rừng (tiểu thuyết,
2000). Truyện ngắn Đoàn Lư dành ngôi vị trung tâm cho những nhân vật hảo hán,
những nông dân miền rừng khoẻ mạnh có võ nghệ cao cường, với đề tài ưa chuộng
là sự đối đầu giữa người và dã thú. Cốt truyện của Đoàn Lư thường đơn giản, có khi
như những mảnh cắt ngẫu nhiên từ đời sống, nhưng khá chi tiết khi dựng cảnh lao
động, sinh hoạt của con người giữa môi trường tự nhiên hoang sơ ở miền núi. Ngoài
ra có thể kể đến các cây bút Tày khác như Hoàng Luận, Nguyễn Minh Sơn, Hoàng
Tương Lai, Đoàn Ngọc Minh, Vi Thị Thu Đạm, A Sáng Đóng góp cho văn xuôi
còn có các cây bút người Nùng như Hoàng Quảng Uyên với Vọng tiếng non ngàn
(kí, 2001), Địch Ngọc Lân với Ngôi đình bản Chang (tiểu thuyết, 1999) và Hoa mí
rừng (tiểu thuyết, 2001). Như vậy, cho đến nay Việt Bắc và Tây Bắc vẫn là hai
miền đất vàng của văn chương miền núi, nơi ngưng tụ nguồn mạch chính của văn
học các dân tộc thiểu số Việt Nam. Tuy chưa có được những tài năng xuất sắc,

bộ cách mạng. Ngoài Nguyên Ngọc, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp và các cây
bút đã nêu như Đoàn Hữu Nam, Hà Đức Toàn, Hoàng Thế Sinh, đội ngũ tác giả

Trích đoạn Cái ngưỡng cửa cao Ngôn ngữ trong truyện ngắn Đỗ BíchThúy Ngôn ngữ phản ánh tư duy của người miền núi Ngôn ngữ giàu hình ảnh và mang tính biểu cảm Ngôn ngữ mang tính đa thanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status