Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ thể loại - Pdf 25

0


1 1
MỤC LỤC
1. Lí do chọn đề tài : 1
2. Lịch sử vấn đề : 4
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 7
4. Phương pháp nghiên cứu: 7
5. Cấu trúc luận văn: 8
Chương 1:Nghệ thuật xây dựng kết cấu và tạo tình huống trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy: 9
1.1 Nghệ thuật xây dựng kết cấu trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy : 9
1.1.1 Kết cấu đơn tuyến : 11
1.1.2 Kết cấu tâm lí : 16
1.1.3 Kết cấu truyện trong truyện : 21
1.2 Nghệ thuật tạo tình huống trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy : 27
1.2.1 Tình huống trở về : 29
1.2.2 Tình huống lối sống mới : 34
1.2.3 Tình huống yêu đương trắc trở : 37
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy: 42
2.1 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy: 43
2.1.1 Con người bi kịch: 43
2.1.2 Con người mới : 51
2.2 Nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy : 56
2.2.1 Nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật thông qua hồi ức : 57
2.2.2 Nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật thông qua ngoại cảnh : 58
2.2.3 Nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật thông qua các chi tiết nghệ thuật : 62
Chương 3 : Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy : 66
3.1 Ngôn ngữ trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy : 66
3.1.1 Ngôn ngữ giàu hình ảnh và tính biểu cảm : 67

hình vạn trạng của đời sống. Ở Việt Nam, kể từ giai đoạn xuất hiện đầu tiên vào những thập
niên đầu thế kỉ XX đến nay, loại hình nghệ thuật ngôn từ súc tích và cơ động này đã không
ngừng vận động, biến đổi để theo sát những bước thăng trầm của lịch sử, để bắt kịp với sự
phát triển của xã hội. Và đặc biệt từ sau năm 1986, sự cởi mở nhiều chiều của đời sống xã
hội đã tạo tiền đề để truyện ngắn Việt Nam có những chuyển biến mạnh mẽ. Tư duy nghệ
thuật của các nhà văn bắt đầu thay đổi; đề tài càng lúc càng nới rộng biên độ theo hướng
tiếp cận gần gũi hơn với hiện thực đời sống vật chất và tinh thần. Truyện ngắn vì thế cũng
phản ánh hiện thực ở nhiều góc độ khác nhau với những cách nhìn khác các giai đoạn văn
học trước. Nhà văn Nguyên Ngọc khi nhận xét về truyện ngắn Việt Nam trong thời kì đổi
mới này đã nói: “ Đây có thể coi là một thời kì có nhiều truyện ngắn hay trong văn học Việt
Nam, tiếp theo “vụ được mùa truyện ngắn” những năm 1960 và một vụ mùa khác, trong
chiến tranh. Tuy nhiên truyện ngắn lần này có những khác biệt rõ rệt. Những năm 1960 từng

3
để lại nhiều truyện ngắn đẹp như thơ, trong veo, trữ tình. Truyện ngắn thời kì chiến tranh thì
vạm vỡ, chắc chắn. Đặc điểm nổi bật lần này là cầm cái truyện ngắn trong tay có thể cảm
thấy cái dung lượng của nó nặng trĩu. Có những truyện ngắn, chỉ mươi mười trang thôi, mà
sức nặng có vẻ còn hơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên” [Văn học Việt Nam sau 1975
– Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy; 174]. Bởi vậy, việc tìm hiểu những đặc trưng của
nghệ thuật truyện ngắn Việt Nam đương đại sẽ cho người đọc một cái nhìn khái quát về
những chuyển đổi mạnh mẽ cả về nội dung phản ánh lẫn hình thức thể hiện của thể loại này,
cũng như thấy được những đóng góp của các tác giả trong quá trình vận động đó.
Bên cạnh những đổi mới về quan điểm thẩm mĩ, tư duy nghệ thuật… văn học Việt Nam
hiện đại còn ghi nhận những chuyển biến tích cực trong đội ngũ sáng tác. Sự xuất hiện ngày
càng đông đảo của các cây bút nữ là một trong những biến chuyển đó. Những tác giả như Lê
Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Y Ban, Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh đến
những gương mặt mới như Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, DiLi… đã trở nên quen
thuộc với độc giả. Họ đem lại một luồng sinh khí mới cho văn xuôi giai đoạn này, đặc biệt
là ở mảng truyện ngắn. Mỗi người một phong cách, một hướng tiếp cận hiện thực song các
cây bút nữ đều có điểm chung là nhìn nhận và khám phá cuộc sống bằng chính sự nhạy cảm,

chính cách chị tiếp cận và phản ánh hiện thực ở một mảng đề tài không xa lạ: dân tộc – miền
núi.
Như vậy sự vận động của truyện ngắn Việt Nam đương đại với sự cởi mở về nội dung
và đặc biệt là cách tân về thi pháp cùng sự tỏa sáng của một cây bút nữ được đặt niềm tin
vào sự phát triển trong tương lai, được coi là một trong những người kế cận của đội ngũ tác
giả văn xuôi Việt Nam hiện đại – Đỗ Bích Thúy – là những lí do để chúng tôi thực hiện đề
tài Truyện ngắn Đỗ Bích Thúy nhìn từ góc độ thể loại. Qua đề tài này, chúng tôi hi vọng
đóng góp một cách nhìn nhận về một gương mặt văn học và từ đó thấy được diện mạo đa
sắc màu của văn chương đương đại.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ :
Sự xuất hiện của Đỗ Bích Thúy không gây ra cú sốc lớn trên văn đàn. Nhưng những
trang viết thấm đẫm hương vị núi rừng Tây Bắc của chị đủ tạo nên dư ba trong lòng những
ai đã từng đọc nó. Bởi vậy, truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy ngày càng cuốn hút độc giả - một
sự lôi cuốn nhẹ nhàng, dai dẳng và thấm thía. Nhiều bài báo viết về Đỗ Bích Thúy và tác
phẩm của chị. Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu văn học cũng bày tỏ cảm xúc của mình trước
những gì chị đã viết. Tất cả họ đều thể hiện sự đồng cảm với những suy nghĩ, trăn trở của
Đỗ Bích Thúy. Và quan trọng hơn là đều muốn tìm ra nguyên nhân của sự cuốn hút kia.
Nếu như ở truyện ngắn đầu tay đăng trên mục Tác phẩm tuổi xanh của báo Tiền Phong,
người ta chưa biết đến Đỗ Bích Thúy là ai thì sau khi đạt giải nhất cuộc thi sáng tác truyện
ngắn của Văn Nghệ Quân đội trong một hoàn cảnh hi hữu, tài năng của chị bắt đầu được

5
chú ý. Trên báo Văn nghệ Trẻ số 10 ( năm 2001) xuất hiện bài viết Gặp hai nữ thủ khoa
truyện ngắn trẻ của tác giả Điệp Anh. Trong bài viết này, Điệp Anh đã nhận ra nguyên nhân
khiến truyện ngắn Đỗ Bích Thúy tạo được ấn tượng trong lòng độc giả. Đó chính là nét văn
hóa rất riêng của núi rừng Tây Bắc tràn ngập trong từng trang viết: “ Thế mạnh của Đỗ Bích
Thúy là đời sống người dân Tây Bắc với những không gian vừa quen vừa lạ, những phong
tục tập quán đặc thù khiến người đọc luôn cảm thấy tò mò và bị cuốn hút”[1]. Và chính
không gian văn hóa ấy cũng đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà phê bình văn học, nhà văn
trong đó có cả những cây bút đã và đang viết về đề tài miền núi. Họ không chỉ cảm thấy thú

bài viết và một vài công trình nghiên cứu khoa học cũng đề cập tới nhiều nét đặc sắc nghệ
thuật khác trong sáng tác, đặc biệt là truyện ngắn của chị. Ví dụ khi nói về cảm hứng sáng
tác của Đỗ Bích Thúy, nhà văn Chu Lai đã khái quát thành “cảm hứng trở về” với “môtip
xuyên suốt là môtip người mẹ và gia đình” [15]. Cụ thể hơn, tác giả Lê Hương Thủy chỉ ra
dược cảm hứng ấy xuất phát từ “ nỗi nhớ nhà, nhớ quê da diết ” (Đường đến với văn chương
của một người viết trẻ). Còn đối với tác giả Phạm Thùy Dương, cảm hứng đó chính là tình
thương, sự cảm thông với số phận của những con người nơi núi cao đặc biệt là người phụ nữ
[ 5 ]. Trong khi đó nhà văn Khuất Quang Thụy trong bài viết Đôi điều tâm đắc về cuộc thi
truyện ngắn VNQĐ 1998 – 1999 lại chỉ ra một vấn đề khác trở đi trở lại trong sáng tác của
Đỗ Bích Thúy: đó là sự tác động của thời đại mới lên số phận của con người kể cả những
người sống ở thâm sơn cùng cốc.
Bên cạnh những vấn đề về giá trị văn hóa, cảm hứng sáng tác thì độc giả và giới nghiên
cứu cũng đánh giá cao về hình tượng nhân vật hay ngôn ngữ, giọng điệu trong truyện ngắn
Đỗ Bích Thúy. Tác giả Nguyễn Phương Liên đã viết: “ Những trang viết của Đỗ Bích Thúy
luôn mang đậm hơi thở cuộc sống vùng cao từ khung cảnh thiên nhiên, đời sống sinh hoạt
đến tâm hồn, nếp nghĩ suy của con người qua giọng văn bình dị đầy sức lôi cuốn, đặc biệt ở
cách sử dụng ngôn ngữ ví von, so sánh giàu biểu tượng – một đặc trưng trong tư duy người
dân tộc thiểu số” [16]. Còn Phạm Thùy Dương lại nhìn nhận giọng điệu chủ đạo trong văn
phong Đỗ Bích Thúy là sự cảm thương [5]. Trong khi đó, tác giả Lê Hương Thủy lại tỏ ra
tâm đắc với hình tượng xuyên suốt trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy. Đó là hình ảnh những
người phụ nữ rẻo cao: “ Thân phận của những người phụ nữ miền sơn cước đã được Đỗ
Bích Thúy khắc họa với những tình huống đời thường muôn mặt cũng như trạng thái tâm lí
rất đặc trưng cua người phụ nữ vùng cao” (Đường đến với văn chương của một người viết
trẻ ). Những vấn đề này cũng ít nhiều được đề cập đến trong luận văn thạc sĩ Tìm hiểu một
số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kì 1986 – 2006 (
Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy ) của tác giả Nguyễn Thanh Hồng.
Có thể nói, qua việc khảo sát những bài viết, công trình nghiên cứu hiện có về tác phẩm
của Đỗ Bích Thúy, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã chú ý tới nhiều khía cạnh khác nhau

7

triển khai đề tài. Bên cạnh đó , chúng tôi cũng vận dụng các phương pháp nghiên cứu khác
nhằm mục đích hỗ trợ trong quá trình làm sáng tỏ vấn đề nêu ra như : phương pháp thống

8
kê, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp hệ
thống …
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN :
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận , luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Nghệ thuật xây dựng kết cấu và tạo tình huống trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy


đồng chủ biên ), kết cấu được hiểu là “ toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác
phẩm”. Vai trò tổ chức tác phẩm của kết cấu được các tác giả trong cuốn sách này nhấn
mạnh ở chỗ “ không chỉ giới hạn ở sự tiếp nối bề mặt, ở những tương quan bên ngoài giữa
các bộ phận, chương đoạn mà còn bao hàm sự liên kết bên trong, nghệ thuật kiến trúc nội
dung cụ thể của tác phẩm”. Với quan niệm này, khái niệm kết cấu hoàn toàn không đồng
nhất với khái niệm bố cục. Nếu bố cục được hiểu là “ sự sắp xếp, phân bố các chương đoạn,
các bộ phận của tác phẩm theo một trình tự nhất định” thì việc tổ chức tác phẩm của kết cấu
một mặt đảm bảo sự mạch lạc giữa các phân đoạn, các lớp cảnh, mặt khác còn đảm nhiệm
việc “ tổ chức hệ thống tính cách, tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật của tác phẩm;
nghệ thuật tổ chức những liên kết cụ thể của các thành phần cốt truyện, nghệ thuật trình bày,

10
bố trí các yếu tố ngoài cốt truyện v.v…” [Từ điển thuật ngữ văn học;132]. Vậy nên, bố cục
chỉ là một phương diện của kết cấu. Và theo như cách nói của chuyên gia nghiên cứu về
truyện ngắn Bùi Việt Thắng thì “kết cấu là chiến lược, là định hướng, còn bố cục… có tích
chất sách lược và cục bộ…” [25;100]. Từ điển Tu từ - Phong cách thi pháp học của Nguyễn
Thái Hòa khi định nghĩa về kết cấu nghệ thuật cũng đã có sự phân biệt khá rõ hai khái niệm
này. Tuy nhiên, khi định nghĩa cụ thể về kết cấu truyện kể, tác giả này mới chỉ khẳng định
vai trò bề nổi của kết cấu là “ đóng vai trò tổ chức sắp xếp các sự kiện theo trật tự logic, trật
tự thời gian hay trật tự hồi ức … không hoàn toàn tương ứng với những sự kiện được kể
lại”. [Từ điển Tu từ - Phong cách thi pháp học;108]. Theo chúng tôi, cách nhìn nhận của Từ
điển thuật ngữ văn học là chi tiết và cụ thể hơn cả khi chỉ ra được bản chất hình thức, cụ thể
là bản chất kết cấu của một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ. Việc đánh giá đúng nội hàm của
kết cấu trong tác phẩm nghệ thuật đặc biệt là trong truyện kể sẽ giúp ích rất nhiều cho người
nghiên cứu trong việc đối chiếu và ứng dụng lí thuyết thể loại vào đối tượng cụ thể.
Bằng việc đảm nhiệm các chức năng đa dạng trong việc thực hiện nhiệm vụ đối với các
yếu tố của nội dung, kết cấu thực sự là thử thách lớn mà các nhà văn phải vượt qua. Đối với
truyện ngắn, một thể tài “ thường chỉ phản ánh một khoảnh khắc, một mẩu nhỏ nào đó của
cuộc sống”
( 1)

của Đỗ Bích Thúy được chọn làm đối tượng khảo sát chính của đề tài này, chúng tôi nhận
thấy có 11 truyện có kiểu cốt truyện đơn tuyến ( chiếm 38 % ).
Như trên đã nói, trong mối quan hệ với cốt truyện, một yếu tố thuộc về nội dung tác
phẩm, kết cấu có vai trò “tổ chức bố cục… thành các phần, chương, đoạn, sắp xếp các chi
tiết, các sự kiện thành những bộ phận hữu cơ của một quá trình phát triển” [24;103]. Bởi
vậy , với kiểu cốt truyện đơn tuyến, nhà văn thường tổ chức tác phẩm đi theo một mạch phát
triển chính với một xung đột trung tâm. Kiểu tổ chức tác phẩm như vậy chúng tôi tạm gọi
bằng tên gọi tương ứng với cốt truyện: kết cấu đơn tuyến. Đây cũng là kiểu kết cấu phổ biến
trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy. Ví dụ như trong truyện Đá cuội đỏ, cốt truyện có thể tóm
lược ngắn gọn như sau: Trong một lần “đi ong” ở Phạ Lấu, Sính gặp một đứa bé gái đi lấy
nước sớm vì đêm qua mẹ nó báo mộng dặn phải lấy nước ở đầu nguồn Phạ Lấu. Sính chợt
nhận ra nó là con gái của Mây – người con gái mà anh đã hứa chỉ thổi sáo cho mình cô
nghe. Và Sính nhớ lại những chuyện trước đây. Mười năm trước, khi còn là đứa trẻ, Sính đã
xui Lử - anh trai Mây – đút con ong bò vẽ vào mồm. Lử bị ong đốt và đã ngọng càng ngọng
thêm. Chỉ vì trò đùa dại này mà về sau, Sính và Mây yêu thương nhau nhưng không thể đến
được với nhau. Ngày Mây đi lấy chồng ở Sán Khâu, Sính đã ném cây sáo vào lửa và bảy
mùa xuân trôi qua, anh không có cây sáo nào khác… Phần tóm tắt này đã cho thấy Đá cuội
đỏ không có hệ thống sự kiện phức tạp, không có nhiều tuyến nhân vật. Và nhân vật chính
chỉ có một là Sính đồng thời là người kể chuyện xưng “ tôi”. Với cốt truyện như vậy, Đỗ
Bích Thúy đã xử lí một cách nghệ thuật mối quan hệ giữa Sính – Mây theo mạch tâm trạng
của Sính phát sinh trong vài ngày “đi ong” ở đầu nguồn Phạ Lấu , khi gặp đứa bé con gái
của Mây. Và tình huống bất ngờ đó đã khơi dậy trong Sính những kí ức đau buồn. Như vậy,

12
chỉ bằng một người xưng “tôi” đứng ra kể lại câu chuyện tình của mình với những sự kiện
“đơn giản vế số lượng” và phát triển theo trật tự của dòng hồi tưởng, Đỗ Bích Thúy đã giúp
người đọc có được cảm nhận khá sâu sắc về tâm trạng đau đáu nhớ thương và ân hận của
Sính. Cũng với kiểu kết cấu đơn tuyến, Ngải đắng ở trên núi lại khiến độc giả đồng cảm với
những suy nghĩ và tâm trạng của Din khi cô trở về nơi cô sinh ra, “ nơi mặt trời lên muộn
nhất và đi ngủ sớm nhất” [28;225]. Câu chuyện được kể lại theo trình tự thời gian trước –

sống “trong tâm trạng bất ổn”. Nhưng sau tất cả, cô nhận ra tình cảm của con người nơi đây
dành cho cô “ vừa lo lắng, vừa hoảng sợ, vừa thương, vừa da diết…” như tiếng gọi nơi sườn
núi ngày đầu mới đến. Đến lúc phải rời xa Sủng Thài, cô biết điều gì đã giữ tâm hồn cô ở
lại: “ Giờ đứng đây, nhìn xuống Sủng Thài nằm tít dưới sâu kia, lại nhớ đến lúc lăn lông lốc
như một quả bí từ trên này xuống, lại nhớ tiếng gọi thao thiết đến thắt ruột thắt gan”. [28;
407]
Bằng việc tạo dựng người kể chuyện trải nghiệm, kể lại câu chuyện của chính mình, Đỗ
Bích Thúy đã giúp người đọc tiếp cận trực tiếp với mạch cảm xúc của nhân vật chính. Đêm
cá nổi là một ví dụ. Ngay ở phần mở đầu, Páo – nhân vật “ tôi” trong truyện đã tâm sự: “
Tôi sinh ra ở núi rừng. Tôi ăn học ở thành phố. Núi rừng là tuổi thơ tôi. Thành phố là tuổi
thanh xuân của tôi. Núi rừng ở sau lưng. Thành phố ở trước mặt. Tôi đang đi từ phía trước
mặt về phía sau lưng. Đi về dòng Lô, dòng sông quê tôi …” [28; 123]. Những lời tự bạch đó
đã tạo điều kiện cho người đọc nhanh chóng nhận ra nỗi bồi hồi của đứa con “núi rừng” khi
trở về nơi bắt đầu của tuổi thơ mình. Từ tâm trạng đó, chàng trai để cho xúc cảm của mình
trôi đi trong đêm cá nổi với những “tiếng lóc tóc lách tách tiếng quẫy đạp ùm ùm” của bầy
cá chép “lúc nhúc chen nhau vào đám rễ cây”, với “tiếng hát “phươn” trong vắt mà thanh,
nhẹ như sợi chỉ căng ra giữa cái rét cắt da cắt thịt” [28;131 – 132]. Chính những hình ảnh
thân thuộc của quê hương này khiến nhân vật “tôi” trở nên ngập ngừng, phân vân và day dứt
giữa “Núi rừng ở sau lưng” và “Thành phố đang ở trước mặt” [28;123]. Hình ảnh khép lại
truyện ngắn này: “Tôi định chạy trở lại phía sông nhưng mặt trời đã lên mà vầng trăng vẫn
còn thấp thoáng phía chân trời…” khiến người đọc cũng xao xác với tâm trạng của nhân vật
chính.
Cũng là dạng thức người kể chuyện trực tiếp lộ diện ở ngôi thứ nhất, bên cạnh cái “ tôi
“ trải nghiệm, trong truyện ngắn đơn tuyến của Đỗ Bích Thúy còn sử dụng một kiểu chủ thể
tự sự khác: đó là cái “ tôi ” người chứng. Không giống như cái “tôi” trải nghiệm, cái “ tôi ”
người chứng chỉ giữ vai trò như một người quan sát, một chứng nhân trong câu chuyện và
kể lại những gì mình biết, mình chứng kiến. Dạng thức này, theo khảo sát ban đầu của
chúng tôi chỉ xuất hiện trong một truyện ngắn có tên Cạnh bếp có cái muôi gỗ của Đỗ Bích
Thúy.Truyện kể về nỗi bất hạnh trong cuộc đời Mai. Từ nhỏ, Mai luôn ao ước có được một
chiếc muôi gỗ - thứ đồ dùng thường ngày đơn sơ nhưng chỉ người đàn ông mới làm được.

chuyến thăm nhà đó, anh đã chứng kiến nỗi cô đơn, niềm khao khát yêu thương đang dằn
vặt trong tâm can người chị dâu sớm góa bụa và đang ở độ tuổi đẹp nhất của cuộc đời. Anh
thấu hiểu điều đó khi nhận ra sự đổi thay trên gương mặt, trong từng cử chỉ của người chị
dâu khi “tiếng khèn lá vẫn réo rắt từng đêm, từng đêm”. Dường như chị đang tìm mọi cách

15
để ngọn lửa trong lòng mình không bùng cháy. Sự “cuống quýt” rồi “thẫn thờ” với “cặp mắt
như mắt người say rượu” của người chị dâu đã gieo vào lòng người em chồng sự xót xa đến
quặn thắt. Và lúc này, nhân vật “tôi” không còn đứng ngoài làm người quan sát nữa. Anh ta
đã tham dự vào câu chuyện bằng hành động đầy kịch tính “vùng dậy, lao như một con thú ra
cửa, giằng tay chị ra khỏi mớ dây lanh bùng nhùng” và đuổi đi “thằng con trai còn rất trẻ”
hằng đêm vẫn thổi khèn lá gọi chị. Hành động này tất yếu phải xảy ra bởi từ khi trở về,
chứng kiến vẻ đẹp căng tràn sức sống và thấu hiểu nỗi cô đơn, sự khao khát hạnh phúc ẩn
sau dáng vẻ cam chịu của người chị dâu, trong lòng “tôi” đã nhen nhóm một thứ tình cảm
đặc biệt. Và tình cảm ấy càng ngày càng rõ nét khiến anh ta có những hành động quyết liệt
với mong muốn giữ chân người chị dâu mãi trong nhà mình. Song cả anh ta và chị dâu đều
không thể vượt qua định kiến để thay đổi cuộc đời mình. Và việc ra đi vào cuối mùa trăng
có thể coi là sự bế tắc của “tôi”. Bởi anh không đủ sức mạnh bước qua lề thói đã tồn tại
hàng ngàn năm nay. Bởi anh ra đi sẽ mang theo một nỗi niềm day dứt mới. Và bởi người chị
dâu góa bụa sẽ vẫn lặng lẽ, nhẫn nhục chịu đựng nỗi cô đơn. Như vậy đã rõ, càng gần đến
cuối truyện, nhân vật “tôi” không chỉ là chủ thể của diễn ngôn mà trở thành chủ thể của
hành động. Những gì anh ta đã thấy, đã trực tiếp trải qua không chỉ giúp anh cảm thông với
những bức bối trong lòng người đàn bà góa bụa trẻ mà còn tự nhận ra lòng mình “bỏng rát”
như viên sỏi mà chị dâu trao trước lúc đi. Có thể nói, sự phối hợp hai vai trò của người kể
chuyện trong tác phẩm này không chỉ đảm bảo cho cốt truyện đi theo một tuyến sự kiện
nhân – quả mà còn cho người đọc cảm giác như đang tiếp xúc trực tiếp với những góc khuất
trong tâm hồn của những người bằng xương bằng thịt thật chứ không phải là nhân vật trên
trang giấy.
Trên đây, chúng tôi đã đề cập đến kết cấu đơn tuyến trong một số truyện ngắn của Đỗ
Bích Thúy. Chúng tôi nhận thấy thông thường những truyện ngắn chỉ phát triển theo một

cố gắng đi sâu vào những địa tầng sâu kín nhất trong thế giới nội tâm của những người chị
đã từng gặp, từng biết xung quanh mình đặc biệt là những người phụ nữ miền cao.
Đọc truyện ngắn Đỗ Bích Thúy, ta sẽ thấy việc miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật
được chị dùng như một phương tiện thiết yếu để khám phá tâm hồn họ. Và trong nhiều tác
phẩm của chị, sự kiện chỉ là cái cớ để khơi dậy dòng chảy nội tâm của nhân vật. Nói cách
khác, nó giống như “cú hích” làm nảy sinh những cảm xúc, những suy tưởng…Đó là trường
hợp của nhân vật Vi trong truyện ngắn Giống như cái cối nước. Vi đi lấy chồng xa không có
điều kiện về thăm nhà thường xuyên. Khi con gái được bảy tháng tuổi, cô mới cùng con trở
về. Nhưng về đến nơi, tất cả đã đổi khác. “Cây sổ cổ thụ”, con suối và “con đường rải đá
tảng” vẫn còn đây nhưng căn nhà của cha mẹ cô không còn nữa “mà thay vào đó là một
vườn vải mới trồng, cao ngang ngực”. Ngôi nhà sàn nơi có những người thân yêu của Vi đã
di chuyển ra “tận mép rừng, chỉ gọn trong một khoảng rất nhỏ trước đây Vi vẫn trồng rau

17
cải…”. Sự thay đổi này đã đưa Vi trôi theo dòng cảm xúc của chính mình từ háo hức, mong
ngóng trở về đến bàng hoàng, sửng sốt và khi hiểu ra mọi chuyện lại day dứt, xót xa.
Còn với Kía trong Gió không ngừng thổi suốt cuộc đời sống trong những trạng thái
buồn, thương, đau khổ, tủi nhục, lo lắng, sợ hãi, dằn vặt và rồi cuối cùng thanh thản ra đi lại
do những nguyên cớ khác. Khởi nguồn của những buồn, lo, tủi nhục và sợ hãi ám ánh Kía từ
khi về làm dâu đến khi nhắm mắt chính là việc Kía không sinh được đứa con trai nối dõi cho
nhà chồng. Nhưng vào một buổi chiều muộn trên nương – buổi chiều làm thay đổi cả cuộc
đời cô – Kía bị Vàng Chỉn Tờ làm nhục. Thào Mí Chá là đứa con trai ra đời từ buổi chiều
oan nghiệt đó. Và sự hư hỏng, lêu lổng của đứa con trai này càng làm Kía không lúc nào
nguôi nỗi tủi hổ và cả đời phải sống trong “ nỗi sợ hãi sâu thẳm ”. Những sự kiện này đã ẩn
chứa trong mình tính chất gay cấn của một cốt truyện đầy kịch tính với chuỗi sự kiện tiếp
nối: Kía không sinh được đứa con trai nối dõi; Kía bị Vàng Chỉn Tờ làm nhục và có thai; lo
sợ chồng biết chuyện, Kía muốn phá bỏ cái thai những không thành; nhiều lần Kía muốn nói
chuyện thằng Thào Mí Chá nhưng thấy chồng thương chiều nó quá nên không nói và nuôi hi
vọng chồng chưa biết chuyện; chồng Kía đã biết Thào Mí Chá không phải là con mình từ
lâu nhưng vẫn im lặng cho đến khi vợ sắp chết mới nói ra sự thật… Nhưng tất cả những sự

Bằng việc xâu chuỗi các mảng miếng tâm trạng của nhân vật Pao, Đỗ Bích Thúy không chỉ
cho ta thấy suy nghĩ, thái độ của những người dân miền núi trước sự đổi thay nhanh chóng
của bản làng trước cơn gió thực dụng của nền kinh tế thị trường mà còn thể hiện được sự
trăn trở, suy tư của chính mình trước những được – mất, hay – dở do lối sống mới đem lại.
Có thể nhận thấy, trong nhiều truyện ngắn tâm lí của Đỗ Bích Thúy, nhân vật, đặc biệt
là nhân vật chính thường cùng một lúc sống trong hai thế giới: Một là cuộc sống đời thực
với các quan hệ xã hội xác định với thời gian, không gian cụ thể. Hai là thế giới nội tâm với
những trạng thái tâm lí, những cung bậc tình cảm khác nhau. Chính sự đan cài giữa thế giới
hiện thực và nội tâm của nhân vật đã định hình cho cốt truyện của những tác phẩm này.
Truyện ngắn Giống như cái cối nước mà chúng tôi đã đề cập ở trên là một ví dụ. Trong
truyện ngắn, nhân vật Vi tồn tại ở cả hai không gian: không gian thực ( trở về nhà với đứa
con bảy tháng; nhận ra ngôi nhà không còn nữa thay vào đó là một vườn vải với người chủ
xa lạ; tìm đến ngôi nhà mới của bố mẹ sát mép rừng; thấy mẹ đang ngồi bóc đậu tương; đi ra
suối thấy cái cối nước không còn ở chỗ cũ và “bạch yến mọc hai bờ suối vẫn nở hoa bừng
bừng …” ); không gian tâm tưởng với những hồi ức, nhưng cảm xúc cô đơn, đau đớn và xót
xa. Cả hai không gian này song song tồn tại và đan xen nhau. Không gian thực gọi về trong
Vi những chuyện cũ để cô sống lại với những trạng thái yêu đương tha thiết, tuyệt vọng
trong nỗi đau không thể nói và lại hồi sinh với hạnh phúc mới. Và cũng chính lời nói của
đứa em trai trong thực tại “ Chị không biết thật hay giả vờ? Bố mẹ bán đất đi để lấy hai trăm
đồng bạc trắng gả chồng cho chị chứ làm gì… Không có hai trăm đồng bạc ấy thì ai dám lấy

19
chị…” cùng những đứa em đến tuổi dựng vợ gả chồng vẫn chưa ra khỏi nhà một lần nữa
đẩy Vi chìm vào những nỗi áy náy, day dứt. Nhìn dọc hai bên bờ suối, hoa bạch yến nở đầy
mà cô không thấy mùi thơm, “chỉ thấy đắng ngăn ngắt trong cổ” bởi những đánh đổi và hi
sinh của bố mẹ, của các em dành cho cô quá lớn. Câu chuyện của Vi khép lại bằng cảm
nhận “đắng ngăn ngắt trong cổ”. Rồi đây Vi sẽ quay trở về với cuộc sống thường nhật của
một người vợ, người mẹ nhưng sâu thẳm trong tâm can, vị đắng đó sẽ trở thành nỗi dằn vặt
lớn nhất theo cô đi suốt cuộc đời. Có thể nói, trong truyện ngắn này, tâm trạng của Vi được
khắc họa trong một khoảng thời gian rất ngắn ( chưa đầy một ngày ) song nỗi xót xa, cảm

Song chính thời điểm đó, bà biết được một bí mật mà người chồng quá cố của mình đã dấu
kín và đem theo xuống mồ: Tráng A Khành không phải đứa con trai của ông Sình, nó mang
họ Vàng. Câu chuyện khép lại bằng hình ảnh hai mẹ con bà Vá cõng nhau trở về trong đêm
tối để kịp xông nhà. Đây chính là mạch kể của truyện. Tuy nhiên để nắm bắt được mạch kể
này cũng như “cảm” được những lo lắng, buồn khổ, để thấu hiểu tâm trạng của người vợ
phải chấp nhận cho chồng đi tìm một đứa con hay tâm trạng một người mẹ sợ mất con của
bà Vá không dễ dàng bởi sự chồng chéo giữa quá khứ và hiện tại. Ở đây nếu sắp xếp lại các
sự kiện của truyện theo trình tự thời gian tuyến tính ta có thể có một mạch kể như sau:
 Sự kiện 1: Mười mấy năm chung sống, vợ chồng bà Vá vẫn không có con. Sau một lần đi
đám cưới ở Há Súng, ông Sình được một người bạn mách nước cho có con với giá chỉ
bằng một con bò.
 Sự kiện 2a: Bà Vá chọn cho ông một con bò đẹp nhất đàn để ông thực hiện kế hoạch của
mình.
 Sự kiện 2b: Trước khi ông Sính đi, bà đã bảo ông “sang bên ấy muốn ở lại cũng được”,
song ông không đồng ý.
 Sự kiện 3: Sau một năm, ông “ mang về trả bà một thằng con trai ”.
 Sự kiện 4a: Vừa leo dốc, bà Vá vừa nghĩ đến những ngày nuôi nấng, chăm sóc thằng
Khánh như đứa con mình rứt ruột đẻ ra.
 Sự kiện 4b: Bốn tuổi, thằng Khánh bị ngã xuống vực. Phải bảy, tám người đàn ông mất
một ngày mới tìm được nó . Từ đó, “ lúc nào nó cũng nằm trên lưng bà”.
 Sự kiện 4c : Sau đó, ông Sình bị bục dạ dày chế . Từ đó bà chỉ có thằng Khành và thằng
Khành cũng chỉ có bà. Và nó hoàn toàn không biết việc nó được đổi về bằng một con bò.
 Sự kiện 5: Vào ngày cuối năm, một người đàn ông đến nhà và đề nghị bà cho thằng
Khành về thăm người mẹ sắp chết của nó. Sau một hồi suy nghĩ, bà đồng ý cho nó đi.
 Sự kiện 6: Bà quyết định đi theo Khành với ý nghĩ không để mất nó.
 Sự kiện 7a : Bà Vá gặp mẹ đẻ của Khành trước khi cô ta chết .
 Sự kiện 7b: Người đàn bà sắp chết ấy đã cho bà biết thằng Khành không phải là người
nối dõi của họ Tráng bởi nó mang họ Vàng .

21

một thế giới sống động với những dòng chảy của những suy tư, cảm xúc có khi âm ỉ, dẳng
dai, có lúc lại bùng lên dữ dội, mãnh liệt. Tất cả đã đi vào trang viết của chị tự nhiên, dung

22
dị và chân thành như chính cuộc đời thực. Sự chân thật đó không chỉ được tạo nên bởi sự
tinh tế, nhạy cảm, bởi trái tim “muốn hướng tới sự nhân bản” mà còn là sự thông minh trong
cách xử lí, sắp xếp chi tiết, sự kiện của nhà văn. Trong vấn đề này, Đỗ Bích Thúy tỏ ra nhạy
bén khi bắt kịp lối trần thuật của tự sự hiện đại. Chị đã khiến số phận và nội tâm của nhân
vật được hiện lên đầy đủ, đầy đặn cho dù chỉ miêu tả, khắc họa họ trong những khoảng thời
gian ngắn ngủi bằng những cách thức tổ chức trần thuật khác nhau. Việc tạo ra nhiều mạch
truyện đan xen, liên kết với nhau trong một đơn vị tác phẩm ( truyện trong truyện ) là một
trong những kiểu kết cấu đem lại hiệu quả thẩm mĩ cao cho truyện ngắn Đỗ Bích Thúy.
Dễ dàng nhận ra Cái ngưỡng cửa cao, Gió không ngừng thổi, Tiếng đàn môi sau bờ rào
đá, Cột đá treo người, Sải cánh trên cao, Như một con chim nhỏ, Hẻm núi, Đi qua ngày
sang đêm… là những truyện ngắn có kết cấu truyện trong truyện. Như trên đã nói đây là
kiểu kết cấu tạo ra nhiều mạch truyện cho một câu chuyện được kể lại. Tuy nhiên, những
mạch truyện này không tách rời mà luôn có sự đan cài vào nhau một cách linh hoạt đem lại
ấn tượng chân thực về chuyện được kể đồng thời kéo người đọc lại gần hơn với thế giới
nghệ thuật trong tác phẩm. Cái ngưỡng cửa cao, một truyện ngắn khá hay về tình yêu của
Đỗ Bích Thúy là một ví dụ. Cốt truyện của tác phẩm này có thể được tóm gọn như sau :
Sương là một cô giáo trẻ người Kinh. Vì muốn quên đi những hình ảnh buồn với căn phòng
có “ cánh cửa bị gió giật ra, toang hoang chăn gối, toang hoang gương mặt khiếp hãi tái
ngắt, mắt mở to trừng trừng của mẹ, bên cạnh là người đàn ông đang ngủ vùi …”; vì muốn
trốn chạy tình yêu với Luân, Sương đã từ bỏ thành phố để lên đỉnh cao Thượng Phùng dạy
học. Ở đây cô đã gặp Sính – “người đàn ông cuối cùng của một dòng họ nghèo, không có
một đồng bạc trắng chôn dưới cột nhà”. Cảm động trước tình cảm và những việc làm chân
thành của Sính, Sương “ đồng ý cho Sính lấp cả chỗ trống trong lòng mình”. Cô chấp nhận
làm vợ anh song vẫn không quên được Luân. Tình yêu của Sính không giữ được chân
Sương ở lại. Cô quyết định ra đi bỏ lại Sính với nỗi đau không gì khỏa lấp… Trong câu
chuyện này cả Sương và Sính đều là nạn nhân của bi kịch tình yêu do chính họ tạo dựng.

– đứa con gái của Nhi cùng nỗi đau mất con của cô. Đây là mạch truyện thứ nhất. Mạch
truyện thứ hai là câu chuyện tình giữa thầy giáo ( người xưng “tôi”) với cô học trò tên Nhi
mười một năm trước và hé lộ sự thực về người cha của Mí. Với cốt truyện hai mạch này, tác
phẩm cũng được kết cấu theo cách câu chuyện này gọi dẫn câu chuyện kia. Tuy là hai mạch
truyện nhưng tác phẩm không hề rời rạc mà trở thành một chỉnh thể thống nhất. Sự liên kết
này được tạo ra nhờ cách xử lí khéo léo của nhà văn trong quá trình trần thuật. Mặc dù trong
cả hai câu chuyện đều có liên qua tới nhân vật “tôi” – thầy giáo với tư cách vừa là người
chứng kiến vừa là người trực tiếp tham dự cùng Nhi và bé Mí nhưng trong quá trình diễn
tiến của truyện chúng vẫn chỉ là hai đường thẳng song song. Đến phần cuối cùng, khi thời
gian cho truyện ngắn này vận hành sắp hết, một sự kiện bất ngờ xảy ra: qua lời nói ám chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status