TRUYỆN NGẮN TRẦN đức TIÉN NHÌN từ THI PHÁP THẺ LOẠI (QUA KHẢO sát tập và TUỘT - Pdf 33

BỌ GIÁO DỤC VÀ DÀO TẠO
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG DẠI HỌC VINH
TRƯỜNG Ì)AI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ TRUNG DƯƠNG
NGUYỄN THỊ TRUNG DƯƠNG

TRUYỆN NGẮN TRẢN ĐỨC TIÉN
NHÌN TỪ THI PHÁP THẺ LOẠI
TRUYỆN
NGẮN
TRẦN
TIÉN
(QUA KHẢO
SÁT
TẬP ĐỨC
VÀ TUỘT)
NHÌN TỪ THI PHÁP THẺ LOẠI
(QUA KHẢO SÁT TẬP VÀ TUỘT)
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VĂN
HỌC
Mã số: 60.22.32

LUẬN VĂN THẠC sĩ NGỮ VĂN
LUẬN VĂN THẠC sĩ NGỮ VĂN

Ngưòi hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. BIỆN MINH ĐIỀN

NGHỆ AN - 2013

1.2. Truyện ngắn Trần Đức Tiến và những bước tiến trong thi pháp thể

loại
của nhà văn............................................................................................27
Văn nghiệp Trần Đức...............................Tiến

1.2.1.

27
1.2.2............................................................................................................... Hà

nh trình truyện ngắn Trần Đức Tiến................................................29
1.2.3.

Lỏng và tuột - Thành tựu nổi trội về truyện ngắn của Trần

Đức Tiến 33
Chương 2. NGHỆ THUẬT DỤNG TRUYỆN VÀ XẢY DỤNG NHÂN
VẬT

CỦA

TRẦN ĐỨC TIẾN Ở LỎNG VÀ TUỘT.....................................................36
2.1. Nghệ thuật đựng truyện của Trần Đức Tiến ở Lỏng và tuột...........36
2.1.1............................................................................................................... M

ột số vấn đề về cốt truyện và nghệ thuật dựng truyện.....................36


3.1. Một số vấn đề giọng điệu và ngôn ngữ truyện ngắn hiện đại.........70

biến thái của đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người. Nó đã
vươn
tói cái nhìn toàn diện hơn về cuộc sống, bởi vì nó rất năng động có khả
năng
to lớn trong việc đáp ímg những đòi hỏi yêu cầu ngày càng cao của cuộc
sống.
Nó được ví là thể loại có nội khí “một lời mà thiên cổ, một gợi mà trăm
suy”.
Ngày nay, khi xã hội với sự phát triến như vũ bão của các nghành khoa học

công nghệ, cùng với xu thế toàn cầu hóa đã tạo ra một xã hội hiện đại đầy
biến động. Sự biến động ấy của xã hội đã tác động đến đời sống con người.

vậy, truyện ngắn mói là thể tài chiếm ưu thế trong việc phát hiện ra mọi vấn
đề, đáp ứng được nhu cầu của thời đại kinh tế thị trường. Tuy nhiên, thực
tiễn


2
xem như một “cơ duyên”, cái “nghiệp” gắn vào ông. Cũng bởi vì, văn
chương là thứ trời cho, không phải ai cũng có được “cơ duyên” như vậy.
Trong hai năm 1990 và 1992 ông trình làng hai cuốn tiểu thuyết đầu tay
Linh hồn bị đánh cắp và Bụi trần. Tiểu thuyết vốn được ví là “ngành công
nghiệp nặng” trong văn học. Vì vậy, một người mới chân ướt chân ráo vào
nghề như ông đã vấp phải một “hòn đá tảng” trên con đường văn chương
đầy chông chênh và thử thách. Khi thể loại tiểu thuyết còn chưa tạo nên tên
tuổi cho ông thì dường như truyện ngắn lại là thể loại mang đến cho ông
nhiều thành công nhất với vô số các giải thưởng lớn nhỏ, đặc biệt là giải
thưởng của hội Nhà văn Việt Nam năm 2011 vói tập truyện ngắn Lỏng và
tuột. Truyện ngắn của ông thường mang đến cho người đọc một cảm giác

một phần nhỏ cho việc nhìn nhận và đánh giá tập truyện Lỏng và tuột nói
riêng, truyện ngắn của Trần Đức Tiến nói chung trong đổi mới thi pháp
truyện ngắn của văn xuôi đương đại.
2. Đối tượng nghiên cứu và giói hạn của đề tài

2.1. Đổi tượng nghiên cứu

Truyện ngắn Trần Đức Tiến nhìn từ thi pháp thể loại (qua khảo sát
tập Lỏng và tuột)
2.2. Giới hạn của đề tài

Đe tài bao quát tất cả các truyện ngắn của Trần Đức Tiến, đặc biệt
tập trung vào mười lăm truyện ngắn trong tập Lỏng và tuột của tác giả.
Văn bản chính dùng để khảo sát, luận văn dựa vào cuốn Lỏng và tuột
(Trần Đức Tiến), Nxb Hội Nhà văn, 2010.
3. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3.1. Truyện ngắn với tư cách là một thể loại độc lập, truyện ngắn

(short story) xuất hiện tương đối muộn, vào khoảng thế kỷ XIX. Truyện
ngắn là “Tác phâm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn bao
trùm hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng
cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn được viết ra đê tiếp thu liền một
mạch, đọc một hơi không nghỉ”[27;370]. Như vậy, ấn tượng mà truyện


4
thấy khá nhiều cách tân và thể nghiệm táo bạo, vượt ra ngoài những giới
hạn, phá vỡ hoàn toàn cấu trúc năm màn truyền thống, thậm chí truyện
mà không có chuyện. Bên cạnh đó trong hình thức nén gọn của mình,


Hiongdiep.net;


5
“Nhà văn Trần Đức Tiến - Người chưng cất truyện ngắn nguyên
chất” của Lục Hạ, “Thong thả nhâm nhi Trần Đức Tiến” của Tạ Duy Anh,
“Lỏng và tuột” của Khánh Phương, “Lỏng và tuột: giọng điệu mới của Trần
Đức Tiến” của Nhật Tuấn, “Soi vào cõi người ta thấy mình” của Bùi Việt
Thắng được đăng tải trên trang Web: w.w.w. Nhavantphcm.com.
Trước hết tác giả Lục Hạ trong bài viết “Nhà văn Trần Đức Tiến Người chưng cất truyện ngắn nguyên chất” cho rằng: “Truyện ngắn của
Trần Đức Tiến là thứ truyện nguyên chất sát gần với cuộc sống, vừa lột tả
sâu xa con người. Nhiều tác phẩm văn xuôi có những trang đẹp như thơ,
những thân phận gai góc... có thể chuyển thể, truyện ngắn của Trần Đức
Tiến khó chuyến thê được như vậy. Nhưng không phải vì thế mà người đọc
không nhớ lâu”. Tác giả chủ yếu viết về con người trong tập truyện Lỏng
và tuột - con người khuất lấp bên trong con người thực tại. Cuối cùng tác
giả kết luận: “Lỏng và tuột cũng như nhiều tác phẩm văn học đã và đang
hoàn thành, có lẽ Trần Đức Tiến muốn đưa ra một quan niệm khác về văn
học. Có thê không mới trong quan niệm văn chương của nhiều người đã và
đang cầm bút nhưng hình như ngày hôm nay nó bị lãng quên, bỏ sót”[28].
Tạ Duy Anh trong bài viết “Thong thả nhâm nhi Trần Đức Tiến” mổ
xẻ lí do truyện ngắn Trần Đức Tiến trong bối cảnh còn xa lạ với dư luận
mặc dù đã được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành và được giải thưởng
của Hội Nhà văn. Bên cạnh đó tác giả còn nhấn mạnh sự ổn định của thể
loại trong truyện ngắn Trần Đức Tiến: “Có thể nói, kể từ những tác phẩm
nối danh cách đây mấy chục năm như Chuyện về những con cá cờ, Soạn và
u, rồi hàng loạt tác phẩm sau đó in trong tập Tuyệt đoi yên tĩnh, Trần Đức
Tiến vẫn giữ được hai điều quan trọng với một nhà văn: Tính độc đáo của
lối kế và sự nghiêm túc”. Trong bài viết này tác giả nghiên cứu truyện ngắn

và tuột vừa ra mắt bạn đọc cho thấy anh đang nỗ lực tìm tòi cho mình một
giọng điệu mói” [69].
Trong bài viết “Soi vào cõi ta thấy lòng mình (về tập truyện
Lỏng và tuột của Trần Đức Tiến)” tác giả Bùi Việt Thắng nhận xét:
“Đọc truyện ngắn Trần Đức Tiến, tôi chú ý và thích thú cái mà các


7
nhà lí luận gọi là “nhịp điệu văn xuôi”. Người ta hay nói đến giọng
điệu như là cái cốt lõi của phong cách một nhà văn, nhưng lại ít chú
ý đến nhịp điệu, trong khi nhịp điệu tạo nên phần hồn của câu
văn. Tôi cũng nghĩ rằng thời hiện đại nhà văn không mấy ai ngồi
“mài” từng chữ khi viết vì chính họ cũng như đồng loại đang sống
trong thời buổi đời sống vận hành với tốc độ “một ngày bằng hai
mươi năm” [54].
Nhìn chung với truyện ngắn của Trần Đức Tiến nói chung và tập
truyện Lỏng và tuột nói riêng, những đánh giá của các tác giả có vị trí
trong giới nghiên cứu - phê bình còn khiêm tốn. Và việc nghiên cứu đó
chỉ mới dừng lại ở những nhận định, chưa có một công trình quy mô nào
nghiên cứu về truyện ngắn của ông đặc biệt là tập truyện Lỏng và tuột.
Tuy nhiên, với chúng tôi - những người thực hiện đề tài này thấy rằng,
những bài viết trên dù chỉ mới dìmg lại ở việc đánh giá tác giả và tác
phâm, nhimg cũng sẽ là nguồn tài liệu quý giá mang tính định hướng cho
chúng tôi trong việc nghiên cứu, học tập này. Chúng tôi hy vọng với đề
tài này sẽ đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu về thi pháp thể loại truyện ngắn
Trần Đức Tiến nhằm khẳng định những đóng góp của ông trong văn xuôi
đương đại nước nhà.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cún

4.1. Mục đích nghiên cứu

và hệ thống.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thẻ làm tài liệu tham khảo cho
việc tìm hiểu, nghiên cứu truyện ngắn Trần Đức Tiến nói riêng và truyện
ngắn Việt Nam đương đại nói chung.
6.2. Cẩu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Ket luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm ba chương.
Chương 1: Truyện ngắn Trần Đức Tiến trong bối cảnh truyện ngắn
Việt Nam đương đại
Chương 2\ Nghệ thuật dựng truyện và xây dựng nhân vật của Trần
Đức Tiến qua tập Lỏng và tuột
Chương 3: Nghệ thuật tổ chức giọng điệu và ngôn ngữ truyện ngắn
của Trần Đức Tiến qua tập Lỏng và tuột


9
Chương 1
TRUYỆN NGẮN TRẦN ĐỨC TIÉN
TRONG BÓI CẢNH TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
1.1. Truyện ngắn đương đại và một số vấn đề thi pháp the loại
1.1.1. Một cái nhìn chung về truyện ngan Việt Nam đương đại

(sau 1975)
1.1.1.1. Tiền đề xã hội - thâm mỹ cỉỉa sự đoi mới truyện ngan từ sau

1975
Văn học bắt nguồn từ đời sống, phản ánh đời sống một cách chân
thực, đó là nguyên lí chung của văn học. Thục tế, thì các sáng văn chương
cũng đã chứng minh cho điều đó. Bản thân văn học và đời sống vốn là hai

này đê lại một kho tàng văn xuôi đồ sộ với một đội ngũ nhà văn đông
đảo. Trong ba mươi năm, truyện ngắn đã gặt hái được nhiều thành tựu
với hàng trăm truyện ngắn, tập truyện ngắn có giá trị: Làng (Kim Lân),
Mùa Lạc (Nguyễn Khải), Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài), Rừng xà nu
(Nguyễn Trung Thành), Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng)... Có
thể nói, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ là hai cuộc
chiến tranh thần thánh kết tinh của sức mạnh và văn hóa dân tộc mấy
nghìn năm, trở thành “trạng thái sử thi” điển hình, là biểu tượng của
nhân loại yêu chuộng hòa bình. Vì vậy, văn học giai đoạn này tập trung
tái hiện bức tranh rộng lớn của cuộc chiến tranh nhân dân lúc bấy giờ
được xem như là một lẽ tất yếu, phù hợp với yêu cầu cách mạng và mục
đích, nhiệm vụ, quy luật phát triên văn học của dân tộc nói chung.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước ta hoàn toàn giải phóng,
tổ quốc thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, một thời kì mới, viễn
cảnh mới mở ra cho nền văn học nước nhà phát triển trong điều kiện hòa
bình. Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở vùng mới giải phóng, những
bước đi lên của cuộc sống dựng xây, hay chiến công của sự nghiệp bảo vệ
tổ quốc, những khó khăn của buổi trương thành, hậu quả nặng nề của chiến
tranh cũng như những kí ức còn nguyên vẹn về cuộc kháng chiến anh hùng


11
và hy sinh vô bờ bến của nhân dân đã gợi ra biết bao đề tài và chủ đề mói
cho văn học.
Giai đoạn 1975 - 1985 (mười năm kế tiếp) được xem là giai đoạn
chuyển mình tìm kiếm con đường đổi mới phù hợp với yêu cầu của một
thời kì hậu chiến còn quá nhiều phức tạp. Văn học thời kì này vẫn chưa
thoát khỏi trường sử thi, do quán tính vận động của một kiểu tư duy nghệ
thuật đã tồn tại khá lâu trong tiến trình ba mươi năm trước đó. Kiểu tư duy
ấy đã ăn sâu vào cảm thức sáng tác của văn nghệ sĩ. Muốn thay đổi họ cần

thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật”, tạo điều kiện cho sự chỉ hướng đối
mới của văn học, và bảo tồn những giá trị tinh hoa truyền thống văn hóa.
Trạng thái tinh thần mới giúp cho các nhà văn tìm tòi sáng tạo và không
ngừng trăn trở trước những vấn đề phức tạp của đời sống đế đáp ứng nhu
cầu xã hội mới sau chiến tranh cũng như khắng định mình trong xu thế hội
nhập với văn học toàn cầu. Văn học đương đại đang đi trên con đường đối
mới, hội nhập, hoàn thiện và hiện đại.
Từ giữa những năm 90 của thế kỉ XX đến nay, trong xu thế ổn định
của xã hội, văn học về cơ bản không xa rời đường lối đổi mới của Đảng tại
Đại hội VI. Văn học hiện nay quan tâm nhiều hơn đến yêu cầu đổi mới
trong sự vận động nội tại của nó. Bởi trước đó văn học đối mới là do nhu
cầu mói của xã hội và khát vọng dân chủ. Và trên hết, “văn học vẫn đang
gắng gỏi trên con đường gập gềnh để tìm đến những giá trị nhân văn vốn
luôn luôn là sự kết tinh cuối cùng của một nền văn học chân chính” [14].
1.1.1.2. Bức tranh truyện ngan Việt Nam sau 1975

M.Bakhatin chỉ rõ: Mỗi thể loại thể hiện một thái độ thẩm mỹ đối
với hiện thực, một cách cảm thụ nhìn nhận, giải minh thế giới và con người.
Truyện ngắn cũng là một thế loại như thế, đặc biệt trong xã hội hiện đại. Vì
thế nó thu hút được sự quan tâm của người sáng tác, người nghiên cứu,
người đọc [4;67].
Truyện ngắn là một thê loại văn học rất nhạy cảm với những biến
động của xã hội. Khi đất nước có chiến tranh, truyện ngắn là một thê loại
xung kích trên mặt trận văn học. Với chức năng đặc thù của mình, truyện


13
ngắn đã kịp thời phản ánh bức tranh muôn mặt của cuộc sống. Sau khi
chiến tranh kết thúc, nhất là trong thời kì đối mới dường như lúc nào
truyện ngắn cũng đáp ứng được tâm lí, thị hiếu của độc giả, không chỉ

chúng ta thấy nhà văn đã có một tâm thế mới, một vị thế mới, tự do hon và
chủ động hon trong sáng tạo nghệ thuật.
Nằm trong mạch vận động chung của văn xuôi Việt Nam sau 1975,
truyện ngắn viron lên trở thành thể loại trụ cột của văn học, là sự chuyển
biến từ một nền văn học chịu sự tác động của quy luật chiến tranh sang nền
văn học chịu sự chi phối của quy luật đời thường. Các phạm trù thấm mỹ
cũng được mở rộng: từ cái cao cả anh hùng đến cái bi, cái hài, cái xấu, cái
kệch cỡm. Hiện thực của văn học sau 1975 là hiện thực đa chiều. Nó có sự
đan cài hòa quyện những mặt đối lập: có trắng - đen, có thiện - ác, tích cực
- tiêu cực trong mỗi con người. Hơn lúc nào hết truyện ngắn luôn thê hiện
vai trò của mình trong việc tiếp cận và phản ánh hiện thực sinh động đa
dạng của bức tranh cuộc sống văn học môn màu sau 1975. Truyện ngắn với
ưu thế nhỏ gọn của hình thức, sự chuyển hóa nhanh những vấn đề bức xúc
của đời sống xã hội đang có nhiều màu sắc. Bàn về văn xuôi sau 1975,
Nguyên Ngọc nhận định: “Đen đây bổng thấy một quy luật rất thú vị về
phát triển của thể loại văn học. Truyện ngắn bổng nổi bật hàng đầu. Những
năm trước truyện ngắn gần như lịm đi, bị đè bẹp dưới sức nặng của tiểu
thuyết ngổn ngang kia, nó ngoi lên và bùng nổ. Tôi có cảm giác chúng ta
đang đứng trước một vụ được mùa truyện ngắn. Truyện ngắn đông nhiều
và thật sự có một số truyện ngắn hay” [40]. Với một khối lượng đồ sộ
truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu như: Bức tranh, cỏ lau, Bến quê,
Phiên chợ Giát., Chiếc thuyền ngoài xa, cho đến Thiên sứ (Phạm Thị Hoài)
rồi Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), và các tác phâm như Bước qua lời
nguyền (Tạ Duy Anh), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Mủa hoa cải
bên sông (Nguyễn Quang Thiều)... đã mang đến cho văn học một luồng
sinh khí mới sau thời kì đổi mới. Tốc độ phát triển của truyện ngắn còn
được thống kê qua các phong trào thi viết truyện ngắn, theo Bùi Việt Thắng
“Cuộc thi truyện ngắn 2001 - 2002 do tạp chí văn nghệ quân đội tổ





16
biệt từ sau 1975 sự xuất hiện của các nhà văn nữ đã đem lại một luồng
không khí mới trong văn học. Bằng sự mẫn cảm của nữ giới, họ đã góp
phần thể hiện đậm nét bề sâu của cuộc sống và cả bề sâu hiện thực của con
người. Phạm Thị Hoài là cây bút nữ đầu tiên với tác phẩm Mê lộ và nở rộ
những cây bút trẻ như: Nguyễn Thị Thu Huệ, Dạ Ngân, Y Ban, đặc biệt là
Phan Thị Vàng Anh, về sau có Nguyễn Ngọc Tư là cây bút thực sự gây ấn
tượng với ngòi bút đậm chất Nam Bộ. Có thể nói, chỉ với một lát cắt đồng
đại truyện ngắn từ sau 1975 đến nay đã quy tụ nhiều cá tính sáng tạo, một
Nguyễn Khải triết lí sâu sắc, một Nguyễn Quang Sáng thì bổ bã chân chất
thuần phác, Bảo Ninh lại dữ dội bạo liệt, Nguyễn Huy Thiệp thì sắc lạnh,
Phạm Thị Hoài phá cách khinh bạt, còn Nguyễn Ngọc Tư lại nhân hậu văn
phong đậm chất Nam Bộ. Và có thể kể ra hàng loạt các tên tuổi khác đã tạo
nên diện mạo cho văn học đương đại như: Nguyễn Quang Lập, Hồ Anh
Thái, Tạ Duy Anh, Phạm Hoa, Nguyễn Ngọc Thuần, Y Ban... Bằng sự trăn
trở, thể nghiêm, đội ngũ những người viết truyện ngắn nhiều thế hệ đã góp
phần không nhỏ trong việc kế thừa và cách tân thể loại, mang đến cho
truyện ngắn đương đại một không khí mới mẻ và vô cùng phong phú.
Truyện ngắn thời kì đối mới đi sâu vào mọi vấn đề của cuộc sống
thường nhật. Đó là nỗi đau của chiến tranh để lại, là sự mất mát của người
lính bước ra khỏi cuộc chiến, là nỗi hận thù của dòng họ gia tộc, là bi kịch
gia đình và cái khắc nghiệt của đói khát và cô đơn. Có cả những vấn đề của
cõi tâm linh, tiềm thức và vô thức. Có cả sự xen lẫn giữa niềm hân hoan,
hạnh phúc và nỗi xót xa cay đang. Dường như, mọi cảm xúc cung bậc của
đời sống hiện thực đều hiện lên trong từng câu văn giản dị, mộc mạc ấy.
Bao nhiêu phức tạp ồn ào, bao nhiêu dư vị đắng chát của cuộc sống thời đối
mới đều được truyện ngắn phản ánh chân thực. Truyện ngắn giờ đây không
còn là “mũi khoan thăm dò nhỏ nhẹ,,(Nguyên Ngọc), mà đã và đang mang

viết, đa dạng trong cảm hứng. Truyện ngắn lúc này đã linh hoạt hơn trong
bút pháp sáng tạo. Bút pháp “tả thực” được vận dụng trong các sáng tác
truyện ngắn thời kì này đã có nhiều đổi mới so với trước đây. Nếu như
trước đây “tả thực” chỉ đóng vai trò thư kí của thời đại thì bây giờ nó không


18
dừng lại ở đó, mà soi chiếu hiện thực từ nhiều phương diện, góc độ khác
nhau để đảm bảo tính chân thực và toàn diện. Khi văn học được “cởi trói”
để hướng tới sự đa dạng thì bút pháp này có điều kiện phát huy. Bút pháp
phúng dụ huyền thoại được nhiều nhà văn sử dụng không chỉ có trong
truyện ngắn mà còn có trong cả tiểu thuyết. Nhiều nhà văn đã thành công
với bút pháp này như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị
Hoài, Tạ Duy Anh... Sự có mặt của bút pháp này bên cạnh bút pháp tả
thực cho phép nhà văn có cái nhìn sâu sắc hơn vào cuộc sống hiện thực,
đồng thời tạo ra sự lạ hóa để thu hút người đọc. Khi tiếp xúc với những
tác phâm có sử dụng bút pháp phúng dụ huyền thoại người đọc có nhiều
cảm xúc mới mẻ về một hiện thực bề bộn, ngổn ngang, nghiệt ngã và
phức tạp qua những huyền thoại giàu chất tưởng tượng. Bên cạnh đó, bút
pháp trào lộng giễu nhại cũng được sử dụng hầu hết trong các thể loại văn
xuôi tự sự. Trào lộng giễu nhại không đơn thuần nhằm mục đích gây cười,
giải thiêng mà quan trọng hơn đó là hình thức tiếp cận các giá trị đời sống
một cách dân chủ, nhiều chiều, phi quy phạm. Cùng với bút pháp trào
lộng, giễu nhại, bút pháp tượng trưng cũng được các nhà văn sử dụng,
nhằm gia tăng chất lượng ý nghĩa của văn chương và tăng thêm sức mê
hoặc của tác phẩm. Chính sự đa dạng trong bút pháp sáng tạo đã tạo nên
sự đa dạng trong hình thức truyện ngắn. Đó là truyện giả cổ tích kiểu Tim
vỡ của Võ Thị Hảo, Những ngọn gió Hua tát của Nguyễn Huy Thiệp;
truyện ki ảo kiểu Bến trần gian của Lưu Sơn Minh; truyện dòng ý thức
kiểu Tiệm may Sài Gòn của Phạm Thị Hoài; truyện ngắn kiêu Kịch câm

góp
đáng kể của các cây bút truyện ngắn Việt Nam hải ngoại, qua cuốn Hai
mươi năm truyện ngắn Việt Nam hải ngoại 1975 - 1995, Nxb Đại Nam
USA, 1995 (do nhà thơ Đặng Tiến từ Caliíbrnia gửi về) qua những tập
truyện ngắn của Kiệt Tấn (Pháp), Nguyễn Thị Ngọc Lan, Hoài Mỹ, Trần
Thị Kim Lan, Lê Thị Huệ... Họ là những nhà văn có đóng góp đáng kẻ cho
bộ mặt truyện ngắn hải ngoại sau 1975, góp phần đấy nhanh truyện ngắn
Việt Nam trên quá trình hiện đại hóa và hội nhập với truyện ngắn thế giới.


20
trình phát triển lịch sử của văn học, thể hiện sự giống nhau về cách thức tổ
chức tác phẩm, về đặc điểm của loại hiện tượng đời sống được miêu tả và
về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện tượng đời sống
ấy” [27;299]. Vì vậy, có thể hiểu “thi pháp thể loại” là hệ thống các phương
thức, phương tiện nghệ thuật biêu hiện đời sống đã trở thành một hệ thống
đặc trưng của một thể loại văn học nhất định. Tuy nhiên thê loại văn học
luôn có sự vận động. Theo M.Bakhtin, nhà lí luận văn học người Nga, thì
sự vận động của văn học thực chất là sự vận động của các thế loại. Do vậy,
thể loại văn học vừa cũ vừa mới, vừa ổn định vừa biến đổi. Cũng do vậy,
nếu nói tới thi pháp thê loại là xét thế loại đó trong một giai đoạn, một thời
điếm mà nó đạt được một sự ổn định nhất định. Vì mặc dù cũng là tiểu
thuyết, nhưng thi pháp tiểu thuyết chương hồi không thể giống với thi pháp
tiểu thuyết hiện đại dù nó vẫn mang những nét chung của loại hình tự sự. Ở
đây nói tới thi pháp truyện ngắn là xét truyện ngắn văn học hiện đại.
1.1.2.1. Thi pháp thế loại truyện ngan

Truyện ngắn là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một
cách nắm bắt đời sống rất riêng theo kiểu thể loại. Cho nên truyện ngắn
đích thực xuất hiện tương đối muộn màng trong lịch sử văn học. Truyện

chiều sâu và tính hình tượng. Nhờ có nhân vật với những lời nói, hành
động, tương tác mà cốt truyện được hình thành. Nó được xem như là
chìa khóa để nhà văn bước vào thế giới hiện thực, tiếp cận những đề tài,
chủ đề mới mẻ, miêu tả và khái quát các loại tính cách xã hội. Do đó,
nhân vật văn học còn có khả năng giúp nhà văn thể hiện quan niệm
nghệ thuật về thế giới, về con người. Vì vậy, việc tìm hiểu nhân vật
không phải là liệt kê hàng loạt những chi tiết về nhân vật đó. Điều quan
trọng là phân tích được, chỉ ra được dụng ý của tác giả, quan niệm tư
tưởng của tác giả về cuộc sống, con người.
Không - thời gian nghệ thuật tức là không - thời gian được xây dựng
trong tác phâm nghệ thuật. Trong truyện ngắn, đó là bối cảnh đê nhân vật
sinh sống hoạt động. Tuy nhiên, nó không chỉ đơn thuần là bối cảnh sống


22
của nhân vật mà nó còn thể hiện dụng ý nghệ thuật của nhà văn. Không thời gian trong tác phẩm văn học chịu sự chi phối của quy luật tâm lí và ý
đồ sáng tác của tác giả. Tìm hiểu thi pháp không - thời gian nghệ thuật là
tìm hiểu ý đồ nghệ thuật, quan niệm của nhà văn về cuộc sống.
Ngôn ngữ là chất liệu của tác phâm văn học. Bởi văn học chính là
nghệ thuật ngôn từ. Có ngôn ngữ mới có cốt truyện, có nhân vật, có không
- thòi gian nghệ thuật... Cũng từ ngôn ngữ đó mà hình thành giọng điệu
của nhà văn. Viết như thế nào cho sâu sắc cho hấp dẫn vói nhà văn luôn là
một thử thách. Với việc tiếp nhận, thì ngôn ngữ, giọng điệu là một trong
những yếu tố góp phần tạo nên vẻ đẹp, sức hấp dẫn riêng cho tác phâm.
1.1.2.2. Những đoi mới về thi pháp thế loại truyện ngắn sau 1975

Truyện ngắn sau 1975 có sự biến hóa đa dạng, phong phú và có sự
đổi mới đáng kế về mặt thi pháp, trước hết là ở sự thay đổi trong quan
niệm nghệ thuật về con người. Trong quá trình vận động phát triển của
thê loại truyện ngắn đã có sự đối mới trong quan niệm về con người. Mô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status