MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Truyện ngắn là thể loại có lịch sử lâu dài, trên thế giới và Việt Nam đã có
nhiều nhà văn thành danh với truyện ngắn. Cùng với thời gian đội ngũ những người
viết truyện ngắn ngày càng đông đảo, nhất là trong giai đoạn hiện nay với một số
lượng ấn phẩm phong phú trong đó nhiều cây bút đã tạo được dấu ấn phong cách.
Truyện ngắn là thể loại có nhiều thành tựu và đóng góp cho đời sống văn học.
1.2. Truyện ngắn là thể loại luôn vận động và biến đổi. Ở Việt Nam, cùng với
quá trình hiện đại hóa văn học, thể loại truyện ngắn đã có những chuyển biến rõ rệt,
đặc biệt từ thời kỳ đổi mới truyện ngắn đã chứng tỏ là thể loại năng động, có khả năng
nắm bắt sự vận động của cuộc sống một cách nhanh nhạy, kịp thời nhưng vẫn khái
quát được những vấn đề sâu sắc đặt ra trong đời sống. Xuất phát từ thực tiễn đời sống
thể loại, chúng tôi xét thấy cần có một công trình nghiên cứu hệ thống, cập nhật về
những đặc điểm và quy luật vận động của thể loại trong đời sống văn học từ sau 1986.
1.3. Truyện ngắn, từ góc độ thể loại và ranh giới thể loại cũng là vấn đề đáng
quan tâm của văn học đương đại. Hướng đi mà luận án lựa chọn góp phần lý giải đời
sống thể loại trong bước chuyển của đời sống văn học những thập kỷ cuối của thế kỷ
XX và những năm đầu của thế kỷ XXI. Tìm hiểu truyện ngắn đương đại trên cơ sở
tham chiếu lý thuyết thể loại sẽ thấy được những thay đổi trong tư duy nghệ thuật, tư
duy thể loại trong bối cảnh mới.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là tìm hiểu sự vận động của thể loại truyện ngắn Việt Nam
từ 1986 đến nay, lý giải quy luật vận động, chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến sự thay
đổi tư duy thể loại. Luận án trước hết tìm hiểu sự đổi mới tư duy thể loại, đồng thời sẽ
nhận diện và lý giải một số phương thức trần thuật, bút pháp nghệ thuật được các cây
bút truyện ngắn sử dụng trong quá trình tạo lập văn bản truyện ngắn.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là truyện ngắn từ 1986 đến nay trên các
phương diện quan niệm và tư duy thể loại, nghệ thuật xây dựng nhân vật và kết cấu
truyện ngắn, ngôn ngữ và điểm nhìn trần thuật.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Khái lược về những nghiên cứu lý thuyết truyện ngắn
Truyện ngắn là thể loại phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước trên
thế giới. Đã có nhiều ý kiến bàn về truyện ngắn, về khái niệm và đặc trưng của thể loại
này.
Trước hết là vấn đề định nghĩa thể loại. Có thể thấy, số lượng truyện ngắn trên
thế giới và ở Việt Nam vô cùng phong phú nhưng lại không dễ đưa ra một định nghĩa
thống nhất, cho phép khái quát hết đặc điểm của các tác phẩm. Do khả năng biến động
và tính năng sản của thể loại nên đã có rất nhiều quan niệm truyện ngắn được xác lập,
theo đó cũng có nhiều cách hiểu về truyện ngắn. Nổi bật là hai xu hướng. Thứ nhất,
2
coi truyện ngắn tồn tại như một thể loại độc lập, có những đặc trưng riêng về thi pháp
thể loại. Xu hướng thứ hai là đặt truyện ngắn trong mối liên hệ với các thể loại tương
cận. Bên cạnh đó, lại cũng có nhà văn tuyên ngôn rằng khi sáng tác họ từ chối mọi quy
định lý thuyết và vì thế truyện ngắn ít bị ràng buộc bởi các quy phạm.
Những nghiên cứu liên quan đến từng trường hợp, tác giả, tác phẩm cụ thể
Dù chưa nhiều nhưng cũng có một số bài viết của các học giả nước ngoài lựa
chọn một trường hợp, một tác giả truyện ngắn Việt Nam đương đại làm đối tượng
khảo sát.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2.1. Về khái niệm và định nghĩa truyện ngắn
Đã có nhiều công trình nghiên cứu hoặc tập hợp những bài nghiên cứu về truyện
ngắn với tư cách là một thể loại tự sự trong đó có đề cập đến khái niệm thể loại.
Nhiều ý kiến của các nhà văn Việt Nam về truyện ngắn được giới thiệu trong
cuốn Sổ tay truyện ngắn, tiêu biểu là ý kiến của Nguyễn Công Hoan, Bùi Hiển,
Nguyễn Kiên, Nguyễn Thành Long, Đỗ Chu – những cây bút mà tên tuổi của họ gắn
liền với sự nghiệp truyện ngắn. Đa phần, tác giả các công trình bài viết đều thống nhất
ở đặc điểm cơ bản của truyện ngắn là tính chất “ngắn” của thể loại, dù rằng giới hạn về
số trang viết chưa phải là tiêu chí đầu tiên nói lên ranh giới thể loại. Một mặt truyện
1.2.2.2 Tiếp cận từ những hiện tượng
Truyện ngắn từ 1986 đến nay đã có một số hiện tượng tiêu biểu gây được sự chú
ý của dư luận và sự quan tâm nghiên cứu trong đó đáng chú ý là truyện ngắn Nguyễn
Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, hiện tượng truyện ngắn nữ, hiện
tượng Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, truyện
ngắn 8X.
1.2.2.3. Những nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm cụ thể
Cụm bài này rất nhiều được đăng tải trên các báo và tạp chí cũng như trong các
công trình nghiên cứu. Các bài nghiên cứu, phê bình thường tập trung vào một số tác
giả xuất hiện đều đặn và đã thành danh, tiêu biểu cho truyện ngắn một giai đoạn.
Những bài viết này thường xuất hiện cập nhật với tình hình sáng tác: từ những bài đọc
sách, giới thiệu tác phẩm mới đến những bài viết nhận diện sáng tác của từng cây bút,
từng chặng đường sáng tác khẳng định những tìm tòi, đóng góp của họ trên phương
diện thể loại.
1.2.2.4. Tiếp cận truyện ngắn từ góc độ vận dụng lý thuyết
Quan sát thực tiễn nghiên cứu truyện ngắn từ 1986 đến nay, chúng tôi nhận thấy
các lý thuyết chủ yếu được vận dụng là: thi pháp học, tự sự học; phân tâm học, lý
thuyết huyền thoại, lý thuyết hậu hiện đại, lý thuyết hiện sinh.
Qua việc khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đi đến một số nhận định
sau:
- Trong chặng đường hơn hai mươi năm đổi mới, thể loại truyện ngắn đã được
các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đương đại quan tâm khảo sát với tính chất là
những bài viết riêng rẽ hoặc những nhận định về thể loại trong hướng nghiên cứu về
những vấn đề của văn xuôi, văn học thời kỳ này. Chú ý tới tính cập nhật của đối
tượng, chúng tôi coi đó là cơ sở gợi dẫn để tìm hiểu nhận diện những đặc điểm và quy
luật vận động của thể loại trên tiến trình đổi mới văn học.
- Đời sống truyện ngắn nhìn từ góc độ thể loại là phương diện còn ít được các
nhà nghiên cứu, các công trình, bài viết đề cập đến. Luận án hướng tới việc nghiên cứu
4
đời sống thể loại trong sự phát triển nội tại và sự tương tác thể loại với hy vọng sẽ
Mỹ với các tên tuổi Xuân Thiều, Nguyễn Kiên, Ma Văn Kháng, Đỗ Chu, Nguyễn
Thành Long, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Phần lớn các cây bút truyện ngắn thời
kỳ này viết truyện ngắn theo hình thức văn bản tự sự có thể kể lại được, có nhân vật,
có cốt truyện, có sự kiện và hành động (ở giai đoạn trước 1945 với sự góp mặt của một
số cây bút như Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Ngọc Giao hình thức truyện ngắn trữ tình đã
5
tồn tại nhưng chưa trở thành một khuynh hướng hay một ý thức về hình thức nghệ
thuật như ở thời kỳ đổi mới). Theo đó, cốt truyện luôn là thành tố quan trọng và người
viết thường chú trọng đến những yếu tố gay cấn, khai thác xung đột và quá trình phát
triển tính cách của nhân vật. Người đọc dễ dàng kể lại được nội dung của câu chuyện,
nghĩa là mỗi nhà văn khi viết truyện ngắn đều hướng tới việc thiết lập sườn truyện với
hệ thống các sự kiện, tình huống, xung đột đóng vai trò là sợi dây liên kết sự diễn tiến
của câu chuyện được kể. Tính đầy đủ của các thành tố trong cốt truyện từ mở đầu, phát
triển, đỉnh điểm và kết thúc được tuân thủ nghiêm ngặt. Với sự chi phối của tư duy thể
loại như đã đề cập, truyện ngắn truyền thống vì thế thường nặng về kể, người viết
truyện ngắn thường chú ý đến diễn trình hành động - thời gian tuyến tính của chuyện
kể. Theo cách thức đó, tác giả thường chú trọng đến câu chuyện được kể hơn là cách
thức kể (bản kể).
2.2. Sự thay đổi quan niệm và tư duy thể loại truyện ngắn trong văn học hiện nay
2.2.1. Những tiền đề của sự đổi mới tư duy thể loại
2.2.1.1. Tác động của bối cảnh xã hội
Những năm sau chiến tranh, trở về với quỹ đạo của cuộc sống đời thường, nhà
văn có điều kiện phát huy tự do sáng tạo. Chủ trương, đường lối lãnh đạo về văn hóa
văn nghệ có xu hướng cởi mở hơn đã tạo chất xúc tác cho sự đổi mới tư duy sáng tạo,
đời sống văn học và đời sống thể loại đã có những thay đổi đáng kể.
Kinh tế thị trường với sự chi phối của quy luật cung cầu cũng đã tác động mạnh
mẽ đến văn học nghệ thuật từ người sáng tác, người đọc đến hoạt động xuất bản, phát
hành lưu thông sản phẩm.
Đổi mới văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng không phải là hiện tượng
riêng lẻ, cá biệt mà là xu thế chung của đời sống xã hội, văn hóa thời kỳ mở cửa.
hình truyền thống, người viết vận dụng nhiều bút pháp tự sự nhằm lạ hóa văn bản nghệ
thuật.
2.2.2.3. Nguyên lý trò chơi và khát vọng đi tìm những phương thức biểu hiện mới
Nhiều truyện ngắn hiện nay được viết như một cuộc “chơi" thể loại, một sự tìm
tòi thử nghiệm các hình thức độc đáo: có truyện ngắn thư (Bức thư gửi mẹ Âu Cơ – Y
Ban), truyện ngắn nhật ký (Mười ngày – Phan Thị Vàng Anh), (Mưa – Nguyễn Huy
Thiệp), truyện ngắn dòng ý thức (Biển trong mưa, Không khóc ở California – Lý Lan),
truyện ngắn chân dung (Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam – Nguyễn Huy Thiệp),… Với
nhiều truyện ngắn hiện nay, có thể thấy nhà văn đã làm đứt gãy những quy ước thể
loại tríc ®©y và khi đọc tác phẩm những thói quen và kinh nghiệm của người đọc cũng
bị phá vỡ bởi tác giả đã có ý thức và thực hành “chơi thể loại” bằng việc tạo nên một
tác phẩm lệch chuẩn.
Tính trò chơi trong truyện ngắn đương đại Việt Nam còn được biểu hiện trong
kết cấu tác phẩm, ở sự hỗn loạn, rời rạc, phân mảnh, đảo lộn trật tự các thành tố trong
kết cấu (truyện ngắn Phạm Thị Hoài, Nguyễn Vĩnh Nguyên). Đọc tác phẩm cũng có
nghĩa là quá trình người đọc phát hiện, đi tìm, lý giải những khoảng trống trong văn
bản, và khi người đọc đối diện với những khoảng trống thì những quy phạm, những
mã văn hóa quen thuộc rất có thể bị thách thức.
2.2.3. Sự tương tác thể loại trong truyện ngắn
Trong đời sống văn học hiện nay, quan niệm truyền thống về thể loại truyện
ngắn đã thay đổi với xu hướng xóa bỏ những ranh giới thể loại đã được mặc định
7
trước đó. Với nhiều trường hợp, sự pha trộn, tương tác được xem như “sự vi phạm quy
tắc có chủ ý” của người viết.
2.2.3.1. Truyện rất ngắn – “hình thức mới’’ của truyện ngắn hiện nay
Truyện ngắn trong quá trình hình thành và phát triển luôn biến đổi theo xu hướng
thay đổi đường biên của thể loại. Một trong những sự biến đổi đó là xu hướng viết
ngắn lại, nghĩa là người viết đặc biệt chú trọng đến tính chất ngắn của thể loại. Thời
điểm nở rộ của loại hình này là những năm chín mươi của thế kỷ trước. Điều này tạo
thành một hiện tượng và từng được coi là “hình thức mới’’ trong truyện ngắn hiện nay.
huống (Trong cơn mưa). Trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Cái nhìn khắc khoải,
Dòng nhớ, Chiều vắng, Hiu hiu gió bấc, ) có sự dung nạp yếu tố trữ tình vào truyện
ngắn bằng việc không hướng vào khai triển hệ thống sự kiện với cốt truyện mạch lạc,
mà chú ý khắc họa nhân vật trong nhiều trạng huống tâm trạng (gần với chủ thể - nhân
vật trữ tình trong thơ).
Truyện ngắn giàu tính kịch: Không có vua (Nguyễn Huy Thiệp), Kịch câm
(Phan Thị Vàng Anh),…
Một số truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh được viết dưới hình thức truyện ngắn -
nhật ký, truyện ngắn bức thư. Phù phiếm truyện (Phan Việt) dung chứa nhiều yếu tố
của tùy bút, bút ký. Có thể dễ dàng nhận ra trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp có sự đan xen của các thể loại: truyện kiểu truyện ngắn – tư liệu (Thương cả
cho đời bạc), truyện ngắn - nhật ký (Mưa), truyện ngắn – chân dung (Nguyễn Thị Lộ,
Mưa Nhã Nam). Với nhiều truyện ngắn hiện nay, người đọc sẽ băn khoăn về tính thể
loại của tác phẩm (Phù phiếm truyện của Phan Việt hay Người ăn gió và quả chuông
bay đi của Nhật Chiêu).
Quan sát thực tiễn đời sống thể loại truyện ngắn thời kỳ đổi mới, dễ nhận thấy,
nhiều truyện ngắn đương đại đã được viết với sự phức hợp thể loại. Điều này cho thấy
những thay đổi trong tư duy nghệ thuật của chủ thể sáng tạo, tuy nhiên, không phải với
trường hợp nào sự pha trộn thể loại cũng mang lại hiệu quả nghệ thuật.
2.2.3.3. Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn
Tư duy tiểu thuyết trong truyện ngắn được đặc trưng bởi các yếu tố. Thứ nhất, ở
“sự dài hơi”, (không đơn thuần là dung lượng tác phẩm mà ở khả năng phản ánh, sức
ôm chứa nhiều vấn đề của đời sống). Thứ hai, ở phương diện nghệ thuật trần thuật:
những bút pháp vốn nổi bật trong tiểu thuyết - sự luân chuyển các ngôi kể, đan xen các
điểm nhìn, gia tăng phân tích tâm lý nhân vật, kỹ thuật phân tích tâm lý, độc thoại nội
tâm,…
Trên thực tế, sự tác động qua lại giữa truyện ngắn và tiểu thuyết, ở đây là tư duy
tiểu thuyết trong truyện ngắn đương đại có thể thấy trong nhiều trường hợp như Tướng
về hưu, Giọt máu, Con gái thủy thần (Nguyễn Huy Thiệp), Khách ở quê ra, Phiên chợ
Giát (Nguyễn Minh Châu), Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh), Bóng đè (Đỗ Hoàng
thành một đội ngũ viết mới bên cạnh thế hệ cầm bút đã đi qua chiến tranh. Cái nhìn về
hiện thực xã hội đương đại của các nhà văn hôm nay dĩ nhiên sẽ khác trước: tả thực
không phải phơi bày mà là phân tích, lý giải, chiêm nghiệm đời sống.
Tả thực là bút pháp quan trọng với nhà văn trong quá trình triển khai và thể hiện
ý tưởng. Tuy nhiên, quan niệm về tả thực trong văn học giai đoạn trước và giai đoạn
hiện nay có khác nhau. Trước đây, trong văn học cách mạng, tả thực không chệch ra
ngoài “từ trường” cũng như sự chi phối có tính định hướng. Trong giai đoạn hiện nay,
được sự cỗ vũ của tinh thần dân chủ trong đời sống và trong văn chương, nhu cầu nói
thẳng nói thật, các nhà văn đã hướng tới việc tiếp cận đời sống trong tính đa dạng và
phức tạp của nó.
Sau chiến tranh, trong cảm quan sáng tác của các nhà văn đã có ý thức lật xới lại
những vấn đề của lịch sử, hay nhìn thực tại với giác độ mới gây được phản hồi tích
cực từ phía người đọc: Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Hai người đàn bà xóm
10
Trại (Nguyễn Quang Thiều), Xưa kia chị đẹp nhất làng (Tạ Duy Anh), Người sót lại
của rừng cười (Võ Thị Hảo), Họ đã trở thành đàn ông (Phạm Ngọc Tiến), Cỏ lau
(Nguyễn Minh Châu),
Tả thực theo nguyên tắc nghệ thuật mới cũng là cách thức nhà văn đặt lại quan
niệm về hiện thực: không chỉ dừng lại ở hiện thực bề mặt mà còn là hiện thực lý tính,
hiện thực trực giác, ảo giác, hiện thực của “sự tưởng tượng vô bờ bến”. Theo đó nhà
văn phải có nhiều cách thức trong việc sử dụng ngôn ngữ và bút pháp để diễn tả hiện
thực đa dạng đó.
2.2.4.2. Bút pháp huyền thoại
Bút pháp huyền thoại được sử dụng trong nhiều truyện ngắn của các cây bút Võ
Thị Hảo, Ngô Văn Phú, Phạm Hải Vân, Nguyễn Huy Thiệp, Hoà Vang, Phạm Thị
Hoài, Lý Lan, Nguyễn Thị Ấm, Y Ban, Ngô Tự Lập, Lưu Sơn Minh, Với việc sử
dụng những hình thức nghệ thuật như cổ tích hoá, huyền thoại hoá; các cây bút đã có
một cách thức phù hợp với việc tái tạo hiện thực nhằm đem đến cho người đọc những
không gian hiện thực mới. Thủ pháp kỳ ảo được các tác giả sử dụng có khi dựa trên
nền tảng của những tác phẩm cổ tích, truyền thuyết, thần thoại trong quá khứ (Trương
đoạn trước). Tính nhất quán và hoàn chỉnh của cốt truyện không còn là nguyên tắc tổ
chức tác phẩm. Diễn biến của truyện đôi khi đứt đoạn, không liền mạch. Đồng hiện
thời gian, độc thoại nội tâm, hồi tưởng được xem là những cách triển khai hợp lý nhằm
khắc hoạ đời sống nội tâm của nhân vật cũng như những trạng thái của đời sống.
CHƯƠNG 3
CÁC DẠNG THỨC XÂY DỰNG NHÂN VẬT VÀ TỔ CHỨC KẾT CẤU VĂN
BẢN TRUYỆN NGẮN
3.1. Các dạng thức xây dựng nhân vật
3.1.1. Thay đổi dạng thức nhân vật bất biến
Thời kỳ đổi mới, với ý thức thay đổi mối quan hệ tác giả - nhân vật và người
đọc, với sự đổi mới tư duy nghệ thuật đã dẫn đến sự thay đổi trong cách thức xây dựng
nhân vật. Trong truyện ngắn đương đại, thế giới nhân vật vô cùng phong phú, muôn
hình vạn trạng, mỗi người một tính cách, một hoàn cảnh và thái độ ứng xử độc lập,
khác biệt.
Hình thức xây dựng cốt truyện trên cơ sở người thật việc thật, những nguyên
mẫu trong đời sống vốn phổ biến trong các truyện ký chống Mỹ đến nay trở nên thưa
thớt mà thay vào đó là nhiều kiểu dạng nhân vật mới, đa dạng hóa các loại hình nhân
vật. Chất liệu xây dựng nhân vật trong truyện ngắn đương đại vẫn từ cuộc sống, từ
những con người đang tồn tại xung quanh chúng ta nhưng là những con người cá nhân
với muôn hình vạn trạng hình thức biểu hiện.
• Cái nhìn mới về nhân vật lịch sử:
Cũng có trường hợp nhà văn lựa chọn nhân vật lịch sử để xây dựng nhân vật
văn học nhưng lịch sử được xem như một nguyên cớ để nhà văn tạo nên những sáng
tạo nghệ thuật qua đó thể hiện quan niệm về con người và cuộc đời: Vàng lửa, Kiếm
sắc và Phẩm tiết (Nguyễn Huy Thiệp), Một mình ở Tokyo (Trần Thùy Mai). Đặt Trần
Thùy Mai bên cạnh Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Nguyễn Xuân Khánh, Sương
12
Nguyệt Minh (với truyện ngắn Dị hương) để thấy rằng nhu cầu viết về lịch sử theo
cảm quan mới vẫn là nhu cầu thường trực của nhiều cây bút.
• Giả cổ tích, giả huyền thoại – những sáng tạo mới:
cho một tầng lớp người nào đó trong xã hội trong truyện ngắn hiện nay. Nhà văn có ý
thức khước từ sự định danh, định tính cho nhân vật, “tẩy trắng” hoàn toàn những gì
dính líu tới nhân vật. Với việc sử dụng thủ pháp mờ hóa, nhân vật thường được đặt
trong nhiều trạng thái, đặc điểm tính cách và số phận trở nên mờ nhạt.
3.1.3.1 Mờ hóa và tẩy trắng tên nhân vật
13
Trong nhiều truyện ngắn đương đại, nhân vật có thể bị xóa mờ những đường
viền lịch sử, ngay cả tên nhân vật cũng thường được viết tắt. Trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư, nhiều nhân vật chính không có lý lịch, không tên tuổi: (Cái nhìn
khắc khoải, Dòng nhớ). Nhiều nhân vật trong truyện ngắn Hồ Anh Thái không tên
tuổi, gốc gác mà nhân vật được định danh bởi nghề nghiệp, địa vị. Với những kiểu tên
gọi được ký hiệu hóa (Nhân vật K trong Phù phiếm truyện – Phan Việt) nhân vật
dường như bị thủ tiêu bản sắc cá nhân, nhân vật hiện hữu trong tác phẩm cũng như
trong cuộc đời không cần căn cước.
3.1.3.2. Mờ hóa và trạng thái vô thức
Vô thức vốn là phạm trù mang tính bản nguyên. Tuy nhiên vấn đề này trong văn
học trước đây chưa được nhìn nhận thấu đáo. Khi con người được nhìn nhận và đánh
giá ở nhiều chiều kích thì những vấn đề của vô thức, những vấn đề của đời sống tâm
sinh lý của mỗi cá nhân có cơ hội được bộc lộ. Đây là một biểu hiện của nguyên tắc
mờ hóa nhằm khám phá và biểu hiện con người ở nhiều chiều kích.
• Giấc mơ như một biểu hiện của trạng thái vô thức:
Khảo sát truyện ngắn Việt Nam đương đại có thể thấy giấc mơ được trở đi trở
lại trong nhiều tác phẩm: Lời hứa của thời gian (Nguyễn Quang Thiều), Những người
thợ xẻ, Huyền thoại phố phường, Tâm hồn mẹ (Nguyễn Huy Thiệp); Phiên Chợ Giát
(Nguyễn Minh Châu); Vết son, Người đoán mộng giỏi nhất thế gian, Giấc mơ, (Phạm
Thị Hoài); Người sót lại của rừng cười, Máu của lá, Đêm bướm ma (Võ Thị Hảo);
Người đi tìm giấc mơ, Vào một đời sống khác (Nguyễn Thị Thu Huệ); Cơn mưa hoa
mận trắng (Phạm Duy Nghĩa), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư).
Nếu như trong văn học dân gian, văn học trung đại, giấc mơ xuất hiện gắn liền
với chức năng điềm báo, với quan niệm tín ngưỡng dân gian thì giấc mơ trong truyện
truyện ngắn hôm nay có xu hướng tăng cường kết cấu cốt truyện bên trong, bộc lộ
trạng thái tâm tưởng của nhân vật, phân tích nội tâm trở thành phương tiện nghệ thuật
quan trọng trong cách thức xây dựng kết cấu cốt truyện truyện ngắn đương đại: Người
xưa (Nguyễn Thị Thu Huệ), Sau chớp là giông bão, Người đàn bà và những giấc mơ
(Y Ban),… Các nhà văn không chỉ khai thác tình huống, sự kiện mà còn quan tâm tới
những biến thái bên trong, những xúc cảm, nghĩ suy của nhân vật. Diễn biến của
truyện thường là nương theo tâm trạng của nhân vật và vì thế truyện có có thể có cấu
trúc không đầu, không cuối, không thắt nút, mở nút. Tác giả thiên về bộc lộ những
cảm nghĩ và suy tưởng hơn là bám sát sự kiện và biến cố của đời sống. Theo đó thời
gian trần thuật không trùng khít với thời gian lịch sử mà có sự đan xen, đồng hiện, có
khi là đảo ngược trật tự thời gian quá khứ - hiện tại thông qua sự hồi tưởng của nhân
vật và nghệ thuật tạo lập không thời gian của người viết. Với việc đi sâu vào thế giới
nội tâm của nhân vật, kiểu kết cấu này có sự liên quan chặt chẽ với lối viết dòng ý thức
vẫn được nhiều cây bút truyện ngắn đương đại vận dụng.
• Kết cấu truyện lồng trong truyện:
Trên thực tế thì kiểu kết cấu này là thế mạnh của tiểu thuyết, tuy nhiên, một số
người viết truyện ngắn hiện nay vẫn có thể sử dụng hình thức này, tiêu biểu là Nguyễn
Huy Thiệp ở Con gái thủy thần với bộ ba truyện ngắn: Truyện thứ nhất, Truyện thứ
hai, Truyện thứ ba; Những ngọn gió Hua Tát. Đây là dạng kết cấu tổ hợp theo cách
nhiều truyện cùng hướng về một chủ đề.
• Kết cấu theo hình thức nhật ký, thư từ:
Nhiều truyện ngắn hôm nay được viết dưới dạng bức thư, nhật ký. Hình thức
bức thư, nhật ký nhiều khi được vận dụng trong suốt cả chiều dài văn bản (khác với
15
tiểu thuyết). Đây thực chất là sự kế thừa phương thức nghệ thuật đã có trong truyền
thống nhưng với ý thức của người viết là gia tăng sự khám phá và lý giải chiều sâu của
nhân vật: Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Người đàn bà có ma lực (Y Ban), Mười ngày (Phan
Thị Vàng Anh), Năm ngày (Phạm Thị Hoài),…
3.2.1.2. Đổi mới kết cấu truyện ngắn theo hướng hiện đại
• Kết cấu lắp ghép phân mảnh – sự phi tâm hóa tổ chức trần thuật:
• Các kiểu dạng kết thúc truyện ngắn thường gặp:
Kết thúc mở:
Kết thúc mở là một khuynh hướng thường gặp của truyện ngắn đương đại. Ưu
thế của khuynh hướng này là người đọc có thể lựa chọn cách kết thúc theo khả năng
mình cho là hợp lý. Kết thúc mở đồng nghĩa với việc văn bản truyện đã đọc xong
nhưng dòng vận động của truyện chưa chấm dứt, số phận nhân vật vẫn tiếp tục đựơc
suy đoán. Nhà văn phá vỡ những phán đoán thông thường đã tạo thành nếp nghĩ cũ
mòn trong truyền thống: Con gái thủy thần, Những người thợ xẻ, Những bài học nông
thôn (Nguyễn Huy Thiệp), Si tình, Người có học, Đất đỏ (Phan Thị Vàng Anh), Phiên
chợ Giát (Nguyễn Minh Châu), Ánh trăng (Nguyễn Bản).
Cách kết thúc này cho phép người đọc tham dự vào sự vận động của dòng mạch
tác phẩm và điều này cho thấy những chuyển đổi trong ý thức sáng tạo, trong việc điều
chỉnh mối quan hệ giữa người viết và người đọc, hướng tới việc xóa bỏ khoảng cách
giữa người trần thuật và cái được trần thuật.
Truyện có thể không có kết thúc:
Hình thức truyện không có kết thúc thường gặp trong những truyện ngắn dòng ý
thức. Các tình tiết, chi tiết của truyện được triển khai theo mạch vận động của cảm xúc
suy nghĩ của nhân vật là chủ yếu. Câu chuyện chưa kết thúc mà tác giả chỉ tạm ngưng
vì một lý do nào đó. Truyện có thể không có kết thúc như cách mà Lý Lan đã làm
trong Chơi Hạ Long, trong Stop and go (Nguyễn Vĩnh Nguyên). Truyện có khi chỉ là
một mẩu đối thoại (Mê lộ, Khách), một dòng suy tưởng, triết lý (Kẻ giết ý nghĩ, Người
suy tư), một cảm nghĩ (Hoa sữa) trong truyện ngắn Phạm Thị Hoài. Truyện dường như
không có mở đầu mà cũng ít khi có kết thúc toàn vẹn: Buổi học thêm ở tu viện, Mười
ngày (Phan Thị Vàng Anh).
Tác giả đưa ra nhiều cái kết:
Truyện ngắn những năm gần đây có xu hướng đưa ra nhiều cái kết, tác phẩm để
ngỏ nhiều giả định. Tác giả đưa ra nhiều cách kiến giải cho cuộc đời nhân vật, người
viết không áp đặt một kết cục tất yếu cho câu chuyện. Người sót lại của rừng cười (Võ
Thị Hảo) kết thúc bằng cách đưa ra nhiều kiến giải về chuỗi đời còn lại của nhân vật
qua hình dung của một nhân vật khác. Nguyễn Huy Thiệp trong Vàng lửa đã đưa ra ba
vào một tình thế phải suy đoán, tư duy nhiều hơn ngay khi bắt đầu tiếp xúc với những
ký tự đầu tiên của văn bản truyện ngắn.
Trong bối cảnh hiện nay, việc xuất bản và lưu thông một tác phẩm không chỉ
phụ thuộc vào tác giả - người viết mà là một chu trình của các yếu tố: nhà văn – tác
phẩm – độc giả và cả nhà xuất bản. Bởi vậy, có tác giả đã lựa chọn những tên gọi,
những tiêu đề nhằm gây sự chú ý của độc giả rồi những tiêu đề có phần gây sốc đánh
vào thị hiếu của độc giả trẻ. Nhiều khi người viết và cả những người làm sách đã cố
tình đặt cho tác phẩm một cái tên thật sốc đánh vào tâm lý hiếu kỳ của người đọc mà
chưa chắc tên gọi đã phản ánh đúng tinh thần của tác phẩm.
CHƯƠNG 4
NGÔN NGỮ VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT
4.1 Ngôn ngữ trần thuật
4.1.1. Ý thức đổi mới ngôn ngữ văn chương
Thời kỳ đổi mới, cùng với sự thay đổi tư duy nghệ thuật, ý thức về sức mạnh
của ngôn ngữ và sự đổi mới ngôn ngữ văn chương, cùng với việc đưa ra những quan
18
niệm nghệ thuật, các cây bút truyện ngắn đã trực tiếp đặt vấn đề cách tân ngôn ngữ.
Những quan niệm của mỗi nhà văn đều chi phối việc sử dụng ngôn ngữ trong sáng tác
của chính họ.
4.1.2. Đổi mới thành phần và cấu trúc cú pháp, ngữ đoạn
4.1.2.1 Thay đổi thành phần ngôn ngữ
• Sử dụng lớp ngôn ngữ đời thường, gia tăng thành phần khẩu ngữ:
Thời kỳ đổi mới, cùng với sự thay đổi đề tài, thay đổi cách tiếp cận hiện thực,
nhà văn có ý thức trong việc thay đổi cách thức sử dụng ngôn từ bằng việc đưa vào tác
phẩm những thành phần ngôn ngữ gần với ngôn ngữ đời sống. Ngôn ngữ vì thế bớt đi
vẻ mượt mà, trau chuốt thậm chí thô nhám, trực diện hơn (nhất là trong ngôn ngữ đối
thoại của các nhân vật).
Ngôn ngữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là thứ ngôn ngữ miêu tả đời
sống như chính hiện thực mà nó vốn có. Nguyễn Huy Thiệp đã làm nên một sự cách
tân, một cuộc cách mạng cho ngôn từ văn chương. Sau ông, nhiều cây bút đã mạnh
Anh Thái); những câu văn ngắn gọn, dồn dập, hạn chế tối đa các liên từ (18 tuổi – Lý
Lan),… Ở một thái cực khác, đối lập với sự diễn tả nhịp sống hối hả của đời sống hôm
nay, nhằm tái hiện một trạng thái hỗn mang của cuộc sống hiện đại, nhà văn đã sử
dụng những câu trúc câu dài không tương hợp ngữ pháp truyền thống (ở TiÖm may Sµi
Gßn, ở TruyÖn thµy A.K, kÎ sÜ Hµ Thµnh của Phạm Thị Hoài và các truyện ngắn của
Hồ Anh Thái: Chim anh chim em).
Trong nhiều truyện ngắn đương đại, người viết còn tạo ra những ký hiệu, hình
ảnh, biểu tượng – những yếu tố không thuộc về hệ thống ký hiệu ngôn ngữ thông
thường (Chợ đằng đông - Nhật Chiêu), những ký hiệu khác lạ vốn chưa từng tồn tại
trong các văn bản truyện ngắn trước đây (Sự cố của không gian - Nguyễn Vĩnh
Nguyên). Với hình thức này văn bản được tạo dựng như một trò chơi ngôn ngữ trong
đó mỗi sự bài trí sắp đặt câu chữ được xem như một nước đi có tính toán đòi hỏi người
đọc phải giải mã, cắt nghĩa văn bản.
4.1.3. Tính chất đa thanh của ngôn ngữ trần thuật
4.1.3.1. Ngôn ngữ đối thoại với sự gia tăng tính đa thanh phức điệu
Sự gia tăng ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn xuất phát từ yêu cầu gia tăng
ý thức và khả năng tranh biện, đối thoại. Đây cũng là một biểu hiện của nhu cầu nhận
thức lại, nhu cầu chiêm nghiệm hiện thực trong bối cảnh mới. Trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp ngôn ngữ đối thoại chiếm tỷ lệ lớn và đây cũng là đặc điểm gây ấn
tượng với người đọc. Điều đáng chú ý là câu đối thoại thường ngắn với sự giản lược
tối đa các thành tố trong cấu trúc câu (Tướng về hưu Không có vua). Ở đây không đơn
thuần là lời đối thoại của các nhân vật mà còn là sự đối thoại mang tính tranh luận giữa
những quan điểm tư tưởng khác nhau.
Đối thoại, ở một phương diện khác, lại là cách thức để xóa bỏ khoảng cách trần
thuật, tạo ra một không gian trần thuật gần gũi với đời sống (Cú điện thoại của Phan
Việt, Điện thoại của Nguyễn Danh Lam).
4.1.3.2. Ngôn ngữ độc thoại nội tâm: sự khám phá con người bên trong
Ngôn ngữ độc thoại nội tâm thường được bộc lộ trong những tình huống tự
nhận thức của nhân vật. Đây là loại tình huống nảy sinh khi nhân vật tự phán xét hành
động của mình, là khoảnh khắc tự thức tỉnh với những giằng xé nội tâm quyết liệt.
nhân vật. Người kể chuyện có vai trò điều binh khiển tướng, đôi khi có bộc bộ quan
điểm cá nhân thông qua những luận đề và bình luận.
Ở những truyện ngắn có sự lựa chọn ngôi kể ngôi thứ ba với người kể chuyện
kể theo điểm nhìn của mình chủ thể câu chuyện được đặt ngoài câu chuyện, đứng
ngoài quan sát câu chuyện, đôi lúc người kể chuyện nhập thân vào nhân vật đóng vai
trò như một người biết hết dẫn dắt người đọc: trong các truyện ngắn Không có vua,
Giọt máu, Thương cả cho đời bạc, Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp.
4.2.1.2. Người kể chuyện hàm ẩn kể theo điểm nhìn nhân vật
Trong truyện ngắn thời kỳ đổi mới nhiều nhà văn vẫn lựa chọn hình thức trần
thuật từ ngôi thứ ba nhưng với một cảm quan mới, tâm thế mới, thu hẹp sự nhận xét,
cắt nghĩa từ phía người trần thuật. Với hình thức này, người kể chuyện có một khoảng
21
cách nhất định với nhân vật và toàn bộ sự kiện, tình huống trong tác phẩm, các nhân
vật trong truyện tự khắc họa chân dung, tính cách thông qua sự bộc lộ hành động, lời
nói của họ. Ở hình thức này, người kể chuyện hóa thân vào nhân vật tựa vào điểm nhìn
nhân vật để kể: Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (Y Ban), Tình yêu ơi ở đâu (Nguyễn Thị Thu
Huệ), Kịch câm (Phan Thị Vàng Anh),…
4.2.2. Trần thuật từ ngôi thứ nhất với điểm nhìn bên trong
Trần thuật từ ngôi thứ nhất là người kể chuyện tường minh kể về người khác
hay tự kể chuyện mình (nhân vật xưng tôi – không hẳn là tác giả mà là một nhân vật
trong truyện - viết về những điều mình đã trải qua, đã chứng kiến, nếm trải và chiêm
nghiệm).
Trần thuật từ ngôi thứ nhất với điểm nhìn bên trong là phương thức nghệ thuật
thể hiện nhiều sự cách tân của truyện ngắn Việt Nam đương đại. Ở đó người kể
chuyện thường là nhân vật chính (Người vãi linh hồn – Vũ Bão, Cánh đồng bất tận –
Nguyễn Ngọc Tư, Như gốc gội xù xì – Hà Thị Cẩm Anh, Hoàng hôn màu cỏ úa,
Người đi tìm giấc mơ – Nguyễn Thị Thu Huệ), theo đó nhân vật tự kể về những biến
cố, sự kiện liên quan đến bản thân, bộc lộ suy nghĩ, xúc cảm và các trạng thái tâm lý
nhưng cũng có trường hợp người kể chuyện là nhân chứng (Cún – Nguyễn Huy Thiệp,
Đùa của tạo hóa – Phạm Hoa) theo cách thức đặt độc giả trước một câu chuyện mà
Thực chất đây là sự phi tâm hóa tổ chức trần thuật. Người viết tổ chức cùng một
lúc nhiều điểm nhìn, mỗi điểm nhìn thể hiện những quan điểm khác nhau, những cách
đánh giá hiện thực khác nhau, soi chiếu hiện thực từ nhiều điểm nhìn khác nhau tạo
nên tiếng nói đa âm. Với sự gia tăng và xê dịch điểm nhìn trần thuật, đổi ngôi trần
thuật, người viết đã khắc phục được lối kể chuyện đơn điệu nhuốm màu sắc chủ quan
của chủ thể sáng tạo (Dịch quỷ sứ - Tạ Duy Anh, Bến trần gian - Lưu Sơn Minh, Nhân
sứ - Hòa Vang, Phiên chợ Giát – Nguyễn Minh Châu, Vàng lửa - Nguyễn Huy Thiệp).
Việc tổ chức trần thuật nhiều điểm nhìn đã cho thấy sự sáng tạo của tác giả trong việc
tạo dựng hình tượng người kể chuyện không đáng tin cậy, người kể chuyện không dẫn
dắt người đọc với tư cách là người kể “biết tuốt” mà là sự gợi mở, khơi gợi lối đọc chủ
động cũng như khả năng đồng sáng tạo của người đọc. Với sự di động điểm nhìn trần
thuật, tác phẩm đã có được nhiều tiếng nói, nhiều tông giọng khác nhau. Chính sự cọ
xát trong các quan điểm đã tạo nên tính chất đối thoại trong giọng điệu trần thuật và
điều này khiến cho tác phẩm có tính chất mở, khơi gợi ở người đọc khả năng suy
ngẫm và chiêm nghiệm. Đây được xem là sự đổi mới nghệ thuật trần thuật nhằm đem
đến cho người đọc những hứng thú trong việc khám phá và giải mã tác phẩm.
KẾT LUẬN
Vào khoảng hai thập kỷ cuối thế kỷ XX trở lại đây, đời sống văn học Việt Nam
đã có những chuyển biến mạnh mẽ trên tinh thần đổi mới với xu hướng mở rộng tính
chất dân chủ. Quá trình đổi mới này diễn ra trên cả bề rộng và chiều sâu, ở cả phương
diện thể loại và hướng tiếp cận đời sống. Nằm trong xu hướng chuyển đổi đó, truyện
ngắn với những cách tân và thành tựu trở thành thể loại xung kích và nòng cốt trong
việc góp phần tạo nên thành tựu của văn học giai đoạn này.
1. Qua khảo sát truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay từ góc độ tư duy thể
loại, luận án đã chỉ ra rằng cùng với những chuyển động của văn học Việt Nam thời kỳ
đổi mới, truyện ngắn đã có những biến đổi sâu sắc trên phương diện thể loại. Trước
những tác động của đời sống, của ý thức sáng tạo, khái niệm và ranh giới thể loại đã
23
có sự vận động và biến đổi, điều này tạo nên một khuôn diện mới cho thể loại truyện
ngắn. Người viết truyện ngắn đề cao tính tự do, tính biến hóa, coi đó như một trong
Khó có thể tiên lượng được một tác giả với những tác phẩm xuất sắc trong năm nay,
năm sau họ sẽ viết được những tác phẩm mới và tiếp tục gặt hái được thành tựu. Trong
quá trình thực hiện luận án, chúng tôi cũng ý thức được rằng tiếp cận với truyện ngắn
thời kỳ đổi mới là tiếp cận với “cái đương đại chưa hoàn thành”. Chúng tôi coi đây là
sự nổ lực bước đầu của sự nhìn nhận, đánh giá thể loại truyện ngắn trong tiến trình văn
học Việt Nam hiện đại.
24