MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Ngay từ khi mới ra đời, thơ dân tộc thiểu số nói riêng và văn học
nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung đã là một bộ phận
không thể tách rời của nền văn học nghệ thuật Việt Nam, góp phần làm nên
một tiếng nói độc đáo, giàu bản sắc. Trong đó, với bốn thế hệ tiếp nối nhau,
có thể thấy đội ngũ các nhà thơ dân tộc Tày vẫn chiếm số lượng đông đảo
nhất và cũng là dân tộc có nhiều thành tựu nhất so với các dân tộc thiểu số
khác. Một tín hiệu đáng mừng là dân tộc Tày cũng là dân tộc có được đội
ngũ kế cận tương đối nhiều và đồng đều để tiếp bước thế hệ trước.
1.2. Thực trạng nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số nói chung, thơ dân
tộc thiểu số nói riêng hiện nay còn nhiều hạn chế. Các công trình đã có
phần nhiều dành cho việc tổng kết theo giai đoạn hoặc từng dân tộc nhưng
còn thiếu sự chuyên sâu. Bên cạnh đó là những công trình phác thảo diện
mạo theo hướng tập trung những gương mặt tiêu biểu Bởi vậy, việc nghiên
cứu một cách hệ thống, toàn diện về thơ ca các dân tộc thiểu số, trong đó
không thể thiếu thơ dân tộc Tày là một công việc có ý nghĩa thiết thực. Xuất
phát từ những lí do đó, chúng tôi lựa chọn Thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
làm đề tài nghiên cứu cho luận án.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Việc tìm hiểu, nghiên cứu những đặc điểm của thơ ca dân tộc Tày từ
năm 1945 đến nay góp phần tìm hiểu, soi sáng một bộ phận quan trọng
trong bức tranh văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, từ đó có cái nhìn
tương đối đầy đủ, toàn diện về những đặc điểm nổi bật, độc đáo của thơ ca
dân tộc Tày trên các bình diện đội ngũ, nội dung và hình thức nghệ thuật,
những phong cách sáng tạo độc đáo.
- Luận án với mục tiêu phác hoạ lại diện mạo thơ của dân tộc Tày từ
1945 đến nay nhưng đặc biệt nhấn mạnh vào sự ảnh hưởng của văn hóa
1
vùng đến những sáng tác. Trong mỗi phần giải quyết những luận điểm cụ
thể, chúng tôi luôn có ý thức phân tích theo hướng đối chiếu, so sánh để nhận
Tày từ 1945 đến nay; sự thay đổi cảm hứng trong hai giai đoạn phát triển;
những đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật thể hiện và một số phong cách
sáng tạo của thơ dân tộc Tày qua hơn nửa thế kỷ phát triển.
5.2. Khi nghiên cứu những tác phẩm thơ dân tộc Tày không chỉ dưới
góc độ nghiên cứu văn học mà còn từ góc độ văn hóa học, chúng tôi chỉ rõ
những kế thừa từ mạch nguồn văn hóa dân gian, sự cách tân ở từng tác giả,
tác phẩm và những dấu vết của sự sáng tạo để đổi mới ngôn ngữ, thể
loại ; khảo sát hệ thống biểu tượng để thấy được sức sống bền bỉ của văn
hóa dân tộc Tày lưu truyền đến thời kỳ hiện đại.
6. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án được sắp xếp thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Hiện thực đời sống trong thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
Chương 3: Các phương diện nghệ thuật cơ bản của thơ dân tộc Tày từ
1945 đến nay
Chương 4: Một số phong cách sáng tạo trong thơ dân tộc Tày từ
1945 đến nay.
3
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
1.1.1. Tình hình nghiên cứu thơ dân tộc thiểu số từ 1945 đến nay
Dù đã dành được sự đầu tư nhất định nhưng do nhiều yếu tố khách quan
và chủ quan nên việc nghiên cứu thơ dân tộc thiểu số vẫn còn trong tình
trạng sơ lược. Các công trình đã có tập trung theo ba hướng:
- Nghiên cứu về đội ngũ: Đội ngũ những người sáng tác thơ dân tộc
thiểu số ngày càng gia tăng về số lượng, có mặt trên nhiều vùng miền dân
tộc và được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau. Bàn đến vấn đề đội ngũ
người dân tộc có thể kể đến những bài viết của Hoàng Tuấn Cư với Văn
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay
1.1.2.1. Những công trình khái quát, tổng kết
- Nghiên cứu thơ Tày hiện đại trước 1986 tiêu biểu có Nông Quốc
Chấn với ba công trình phê bình tiểu luận: Đường ta đi (1970), Một vườn
hoa nhiều hương sắc (1977), Chặng đường mới (1985).
- Các tác giả người Kinh có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu văn học
dân tộc Tày như Tô Hoài, Phạm Quang Trung, Nguyễn Trọng Hoàn, Trinh
Đường với nhiều bài viết có giá trị.
- Liên quan trực tiếp đến luận án là những công trình đánh giá về diện
mạo chung của thơ Tày có Bản sắc dân tộc trong thơ ca các dân tộc
thiểu số Việt Nam hiện đại - Khu vực phía Bắc Việt Nam (Nxb. Đại học
Thái Nguyên, 2010). Các tác giả dành một chương để khái quát về tính
chất “dòng riêng giữa nguồn chung” của thơ Tày hiện đại và một số
gương mặt tiêu biểu. Tuy nhiên một số nhận định vẫn còn sơ lược và
thiên về thế hệ thứ nhất và thứ hai của thơ Tày hiện đại, chưa bao quát
được những chuyển động mạnh mẽ của thơ Tày giai đoạn sau. Bên cạnh
đó là một số bài viết như Dương Thuấn, Nhìn lại văn học dân tộc Tày
trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9-2006; Đỗ Thị Thu Huyền, Thơ ca
Tày hiện đại qua một số gương mặt tiêu biểu trên tạp chí Nghiên cứu văn
học, số 5-2008
1.1.2.2. Những công trình về các tác giả, tác phẩm cụ thể
Ngoài số lượng lớn các bài phê bình trên các báo, tạp chí về những tác
phẩm tiêu biểu cụ thể của thơ dân tộc Tày, số lượng bài viết về thơ của
từng tác giả cũng chiếm số lượng đáng kể (tập trung vào những tác giả có
phong cách độc đáo). Tuy nhiên, những bài viết này cũng phần nào làm
hiện lên diện mạo chung của thơ dân tộc Tày hiện đại. Có thể kể đến: Nhà
văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại giới thiệu về 7 tác Triều Ân, Vi
Thị Kim Bình, Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Hoàng Hạc, Vi Hồng
và Nông Viết Toại; Tuyển tập văn học dân tộc miền núi của Nxb. Giáo dục
5
nước, gác và gác bếp, sàn phơi.
Bộ y phục cổ truyền của người Tày làm từ sợi vải bông tự dệt, nhuộm
chàm. Nhìn chung, trang phục của cả nam và nữ giới dân tộc Tày tương
đối giản dị chân phương về màu sắc, cách tạo hình, kiểu cách và hầu như
không có hoa văn trang trí.
6
1.2.3. Văn hóa tinh thần
1.2.3.1. Tiếng nói, chữ viết
Tiếng nói của dân tộc Tày cũng như những dân tộc thuộc cùng nhóm
ngôn ngữ đã phát triển khá cao, hệ thống từ vựng của các thứ tiếng này rất
phong phú, đủ sức phản ánh những nội dung liên quan đến các vấn đề về
kinh tế - văn hóa - xã hội.
Chữ Nôm Tày xây dựng trên mẫu tự tượng hình, gần giống chữ Nôm
Việt ra đời khoảng thế kỷ XV nhưng không được thông dụng. Sau Cách
mạng tháng Tám, dân tộc Tày cũng như các dân tộc thiểu số khác đã dùng
chữ quốc ngữ (từ chữ cái latinh) ghi âm tiếng nói dân tộc mình, nhiều nhà
thơ, nhà văn cũng dùng chữ này để sáng tác.
1.2.3.2. Tín ngưỡng, lễ hội
Hình thức thờ cúng quan trọng nhất trong đời sống tâm linh của
người Tày là thờ cúng tổ tiên. Bên cạnh đó, người Tày còn thờ các vị
thần che chở bảo vệ cho gia đình, làng bản: mẹ Hoa (bà Mụ - vị thần cai
quản và bảo hộ cho trẻ em), thờ vua bếp (đặt ngay trong bếp), thờ thần
tài, thờ thổ công
Để cầu mong sự bảo vệ, che chở và phù hộ của thần linh, hàng
năm đồng bào Tày tổ chức rất nhiều nghi lễ cúng (hội lồng tồng, hội
Nàng Hai…).
1.2.3.3. Văn học dân gian
Điểm đặc biệt đáng chú ý trong văn học dân gian Tày là kho tàng
truyện thơ Nôm truyền miệng, với nội dung rất phong phú. Bên cạnh đó,
các loại hình ca dao, bài lượn, then, tục ngữ, câu đố của người Tày hết sức
Thế hệ thứ tư là những nhà thơ tuổi đời còn rất trẻ, tuy vậy cũng đã có
một số tác giả thành danh từ khá lâu và một số mới bắt đầu sự nghiệp cầm
bút của mình, có thể kể đến: Bế Phương Mai (1972), Nông Thị Tô Hường
(1978), Nông Văn Lập, Đinh Thị Mai Lan (1979), Vi Thùy Linh (1980),
Hoàng Chiến Thắng (1980), Phạm Văn Vũ (1982), Ngô Bá Hòa (1985)
1.3.2.2. Ba xu hướng biến đổi của thơ Tày từ 1945 đến nay
- Xu hướng truyền thống: Ở xu hướng này, đầu tiên cần chú ý đặc biệt
tới các nhà thơ thuộc thế hệ thứ nhất. Những tác giả này có sự gần gũi với
những người cách mạng, những văn nghệ sĩ cách mạng và được họ dìu dắt
cả trên con đường đấu tranh lẫn con đường sáng tạo nghệ thuật buổi đầu.
Những sáng tác thời kỳ này mang nét hồn nhiên, chân thành, thô mộc của
những người miền núi lần đầu tiên được tiếp xúc với những điều mới mẻ
của miền xuôi. Ta thấy được cái phong cách truyền thống đậm nét trong
những sáng tác của Hoàng Văn Thụ, Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu,
Nông Viết Toại, Ma Trường Nguyên Có thể thấy, qua thơ họ truyền
thống của văn học dân gian Tày được kế thừa một cách xuất sắc.
- Xu hướng dân tộc và hiện đại: tiêu biểu có Y Phương, Mai Liễu,
8
Dương Thuấn, Dương Khâu Luông thế hệ trẻ có Nông Thị Tô Hường,
Hoàng Chiến Thắng, Phạm Văn Vũ… Trong thơ của họ, ảnh hưởng của
văn hóa Tày rất rõ, họ ý thức được vai trò của nguồn cội, truyền thống
trong sáng tạo nghệ thuật và thiên chức cao cả của những người cầm bút,
và thường lấy cảm hứng sáng tác từ những tiết tấu trong cuộc sống đời
thường của con người miền núi.
- Xu hướng hiện đại hóa: Xu hướng hiện đại hóa bao gồm sáng tác của
các tác giả thực sự vươn tới sự đổi mới trên tinh thần thời đại, mang yếu tố
hiện đại, không mang ảnh hưởng sâu đậm của văn học dân gian Tày. Nhiều
khi chúng ta khó nhận ra dấu ấn Tày trong đó, có thể kể đến Bế Thành
Long, Triều Ân, Nông Thị Ngọc Hòa (trong giai đoạn sau của sự nghiệp
sáng tác), Hoàng Kim Dung, Vi Thuỳ Linh… Trong thơ họ cách diễn tả,
hệ trẻ hơn có Dương Khâu Luông với Gọi bò về chuồng, Dám kha cần
ngám điếp, Bản mùa cốm, Co nghịu hưa cần, Lửa ấm bản Hon; Tạ Thu
Huyền với Đầy vơi; Đinh Thị Mai Lan với Tiếng đàn đêm; Bế Phương Mai
với Bài thơ cho cha…
2.2. Đời sống và tâm thế con người dân tộc Tày
2.2.1. Quê hương
- Hình ảnh thiên nhiên trong thơ của các nhà thơ dân tộc Tày nói riêng
và thơ dân tộc thiểu số nói chung hầu hết đều khai thác nét đẹp của những
núi rừng, những dòng sông, dòng thác đổ nghiêng trời hay đèo cao, núi
sâu. Nhưng từ những điểm chung đó, mỗi tác giả lại tìm ra một cách truyền
tải mới lạ để thể hiện cách cảm của riêng mình: Mùa thu dưới lũng - Lương
Định, Về Cao Bằng - Đinh Thị Mai Lan, Tản mạn sông Lô - Mai Liễu
Không chỉ tự hào về những cảnh sắc quê hương, địa danh lịch sử với
núi non hùng vĩ, tươi đẹp… mà thơ dân tộc Tày còn bộc lộ niềm yêu mến,
tự hào bởi đó là miền đất với những con người và phong tục tập quán đặc
sắc. Những nét đẹp ấy đi vào trong thơ với những hình ảnh chân thực,
phong phú, sinh động, cụ thể; gửi gắm qua đó niềm tự hào về đời sống tinh
thần giàu có, ấm áp nghĩa tình của những con người xứ núi. Chính nội
dung này đã góp phần quan trọng trong việc làm nên giá trị độc đáo, đặc
sắc riêng cho những tác phẩm thơ của họ: sự sẻ chia, gắn bó của người Tày
trong Cái bờ ruộng, Của Pang - Dương Khâu Luông, tục ở rể trong thơ
Dương Thuấn, tục kết tồng (kết nghĩa anh em) trong Kết tồng ngày nay -
Nông Minh Châu, hội Lồng tồng trong thơ Nông Thị Ngọc Hòa, tục hát
lượn trong Câu hát chia tay - Ma Phương Tân
Trong thơ những tác giả thuộc thế hệ thứ hai, ba của thơ dân tộc Tày như
Y Phương, Mai Liễu, Ma Trường Nguyên, Lương Định, Triệu Lam Châu,
Dương Thuấn người đọc thấy được những ý thức rất rõ về từng chặng đường
10
mà họ đã đi qua, đã sống, đã yêu thương và trang trải những món nợ với quê
hương mình. Những triết lý trong thơ của họ dường như cũng song hành cùng
nhiều như là sự trở lại với những con người không tên tuổi, nhưng cuộc
đời của họ mãi mãi đọng lại trong tâm hồn mọi niềm cảm thương, sự kính
trọng, lòng yêu thương vô bờ pha lẫn chút xót xa.
11
2.2.2.2. Người lính áo chàm
Những anh bộ đội áo chàm - nét độc đáo riêng của thơ dân tộc Tày
được khắc họa giản dị. Nếu trước 1975, cảm hứng sử thi - ngợi ca là chủ
đạo, thì sau năm 1975 văn học bước sang một thời kỳ mới - thơ dân tộc
Tày bắt đầu có những đổi thay. Vẫn tiếp nối mạch cảm xúc cũ nhưng thơ
viết về người lính, chiến tranh mang dư vị khác trước. Cảm hứng trữ tình
chuyển từ sự tự hào, ngợi ca sang suy tư, chiêm nghiệm; bởi thế cái hào
sảng, hùng tráng nhường chỗ cho sự bình dị, mộc mạc.
Người lính không còn được khai thác nhiều ở tư thế: Gió bão ta không
sợ/ Sấm sét ta không lùi mà trở về với cái thật nhất trong suy nghĩ mỗi
cá nhân. Họ không ngại nói đến sự hi sinh của những người chiến sĩ (Hoa
súng đỏ - Ma Trường Nguyên, Nghĩ về những tấm Huân chương - Nông Thị
Ngọc Hòa), nỗi đau nỗi đau vì hậu họa dai dẳng của chiến tranh (Hạnh
phúc không bình an - Lộc Bích Kiệm, Bốn em bé ở Bắc Ninh - Dương
Thuấn, Đứa con của chiến tranh - Hoàng Chiến Thắng ).
2.2.3. Tình yêu
Mỗi nhà thơ đem đến một tiếng nói mới mẻ riêng trong đề tài tưởng như
quá quen thuộc này. Tình yêu trong thơ Triều Ân thường trực nhất ở trạng thái
hạnh phúc tràn đầy: Băn khoăn, Trái tim , thơ tình yêu của Y Phương lại là
hình ảnh của những đôi trai gái yêu nhau, đậm chất miền núi trong cái hạnh
phúc thơ ngây của dân tộc mình: Để rồi sáng sớm trong rừng/ Lá rụng/ Hoa
rụng/ Quả rụng/ Chim chóc cáo chồn ngơ ngác/ Suối chở đầy hương thơm
nhàu nát…
Đội ngũ các nhà thơ dân tộc Tày có khá nhiều gương mặt nữ. Thơ
tình của Nông Thị Ngọc Hòa, Hoàng Kim Dung, Đinh Thị Mai Lan
phần nhiều gặp nhau ở một điểm là sự thể hiện cái thiên tính nữ, đằm
mới nhưng ít tạo được sự chú ý. Giai đoạn đầu thơ dân tộc thiểu số nói chung
vẫn chịu ảnh hưởng đậm của các thể thơ dân gian (sli của người Nùng, lượn
của người Tày, xường, rang của người Mường, khắp của người Thái, dung
của người Dao ).
Thơ dân tộc Tày giai đoạn đầu phổ biến là những thể thơ theo lối cũ, 7
chữ, 8 chữ hoặc 4 dòng 1 bài, theo các làn điệu sli, lượn, và chủ yếu là theo
phương thức tự sự, kể chuyện, miêu tả, tâm tình. Tác phẩm đầu tiên có ý
thức vươn lên đổi mới là Dọn về làng (Nông Quốc Chấn).
Trong thơ của các tác giả dân tộc Tày có một sự thể nghiệm (ráo riết) tất
cả những thể loại sẵn có, càng về giai đoạn sau thì những biến đổi càng trở
nên bức thiết. Các nhà thơ thuộc thế hệ đầu và thế hệ thứ hai như Nông
Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Triều Ân đa phần trung thành với các cấu
trúc truyền thống, lối kết cấu dài mang tính tự sự kết hợp trữ tình.
13
Sự vận động từ lối trần thuật, phô diễn, kể tả đến lối viết chắt lọc chi tiết,
cô đọng, súc tích là một bước tiến với ý thức chủ động mạnh mẽ của nhiều
nhà thơ hiện đại dân tộc Tày (Y Phương với Tiếng hát tháng Giêng (1987),
Dương Thuấn với Đêm bên sông yên lặng (2004)… rồi những nhà thơ sau
này như Dương Khâu Luông, Đinh Thị Mai Lan, Bế Phương Mai, Nông
Thị Tô Hường, Hoàng Chiến Thắng…
Trong nỗ lực đổi mới các thể thơ cũ, các tác giả dân tộc Tày cũng tìm
đến thơ tự do như một lựa chọn tất yếu trong quá trình vận động văn học
(Y Phương, Mai Liễu, Hà Lâm Kỳ, Dương Thuấn, Ma Phương Tân…).
Các nhà thơ dân tộc thiểu số nói chung và dân tộc Tày nói riêng cũng
tìm đến lục bát như một sự thử sức. Thơ dân tộc Tày cũng có nhiều nhà
thơ thành công với thể lục bát nhưng đa phần khai thác âm điệu thiết tha
và giàu hình ảnh.
Bên cạnh xu hướng dung lượng bài thơ ngắn lại, trường ca xuất hiện như
một nỗ lực đáng ghi nhận. Bắt đầu với Nông Quốc Chấn (Cần Phja Bjooc -
Người núi Hoa), Nông Minh Châu (Cưa khửn đông - Muối lên rừng) tiếp
Hoàng Kim Dung, Dương Khâu Luông, Nông Thị Tô Hường… với
những tập thơ được đánh giá cao: Lục pjạ hết lúa, Trăng Mã Pí lèng, Slíp
nhỉ tua khoăn của Dương Thuấn, Thất tàng lồm - Ngược gió của Y
Phương, Cằm bâư ngản rọong tói - Tiếng lá rừng gọi đôi của Ma Trường
Nguyên, Co nghịu hưa cần - Cây gạo giúp người, Dám kha cần ngám
điếp - Bước chân người đang yêu của Dương Khâu Luông, Tềnh pù -
Trên núi của Nông Thị Tô Hường…
Từ 1945 đến nay, ngôn ngữ thơ dân tộc Tày tồn tại song song nhiều
phong cách, có sự giản dị, tự nhiên, mộc mạc, trong sáng, thuần khiết,
giọng điệu bộc bạch chân tình, nhưng cũng có những ngôn ngữ được chọn
lọc kỹ lưỡng, tạo được những ẩn ngữ, giàu màu sắc triết lý. So với các dân
tộc thiểu số khác, dân tộc Tày bởi có đội ngũ sung sức hơn, tác phẩm nhiều
hơn và trong đó có một số tác giả có phong cách độc đáo, vì thế tạo thành
một diện mạo tương đối phong phú cho thơ dân tộc Tày nói chung và
mang đến những cách thể hiện nhiều tìm tòi, khám phá.
Cùng với phong slư, người Tày còn có một hình thức giao lưu ngôn
ngữ bước đầu có mang sắc thái thẩm mỹ là phuối pác (còn gọi là phuối rọi),
một kiểu nói có vần trong giao lưu nam - nữ hàng ngày, hoặc trong các sinh
hoạt lễ hội của cộng đồng. Lối nói vần này có ảnh hưởng sâu sắc đến cách
viết của các nhà thơ hiện đại. Trong thơ Tày hiện đại ta thường xuyên bắt gặp
lối “nói thơ” một cách rất tự nhiên (thơ Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu,
Nông Viết Toại).
Trong thơ của các tác giả dân tộc Tày đôi khi vẫn chú trọng vào nội
dung, ý tứ được thể hiện là gì, nhiều khi chưa đề cao cách thể hiện. Có thể
thấy, sự quan tâm của thơ Triều Ân, Triệu Đức Xuân, Ma Phương Tân,
15
Nông Thị Ngọc Hòa, Hoàng Kim Dung, Hoàng Diệu Tuyết thiên về cái
được biểu đạt chứ không phải là cái biểu đạt. Điều này dẫn đến một xu
hướng nổi trội trong thơ họ là ngôn từ mang tính chất kể rất rõ. Ở xu
hướng khác, ta thấy thơ Mai Liễu, Bế Thành Long, Y Phương, Lương
được tri nhận.
16
Trong một “kho tàng” đồ sộ và phong phú các biểu tượng văn hóa của
dân tộc Tày như thế, chúng tôi chọn ra một số biểu tượng tiêu biểu: Mẹ
Hoa, lúa, đàn tính, ngựa. Khảo sát quá trình phát triển và biến đổi của
những biểu tượng đó trong thơ ca Tày thời kỳ hiện đại để từ đó thấy được sự
tiếp thu và kế thừa văn hóa như thế nào trước sự “xâm lăng” của văn minh
hiện đại.
3.3.2. Hệ thống biểu tượng trong thơ Tày từ 1945 đến nay
3.3.2.1.Biểu tượng Mẹ Hoa
Mẹ Hoa trong quan niệm của người Tày là vị thần bản mệnh, chăm sóc
thế giới tinh thần cho con người. Mẹ Hoa có quyền ban phát hoa để sinh ra
con trai, con gái. Trải qua một thời gian dài, đến nay tục thờ mẹ Hoa vẫn
được người Tày duy trì và mẹ Hoa đã trở thành một biểu tượng mang những
ý nghĩa thiêng liêng trong đời sống tinh thần dân tộc Tày.
Qua sáng tác các nhà thơ dân tộc Tày, ý thức hướng về nguồn cội được
thể hiện rất rõ. Biểu tượng mẹ Hoa xuất hiện như là một sự trở về nguồn,
tìm về lưu giữ bản sắc dân tộc Tày quê mình với niềm tự hào, trân trọng và
đề cao. Tuy nhiên, cái tính chất ứng biến linh hoạt của văn hóa cũng được
thể hiện song hành. Biểu tượng mẹ Hoa vẫn mang ý nghĩa vốn có trong tín
ngưỡng dân gian, tuy nhiên sắc thái thể hiện đã khác đi. Mẹ Hoa vẫn là
một vị thần có sức mạnh vô song, khiến người Tày ngưỡng mộ, thần thánh
nhưng lại đi vào cuộc sống thực tại một cách hồn nhiên, dung dị (tiêu biểu
qua sáng tác của Nông Quốc Chấn, Y Phương, Dương Thuấn, Hoàng
Chiến Thắng…)
3.3.2.2. Biểu tượng lúa
Biểu tượng lúa có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa người Tày.
Trong thơ Tày hiện đại, lúa cũng xuất hiện với nhiều tầng ý nghĩa: là ẩn dụ
cho cuộc sống khó nhọc của con người; là người bạn gần gũi sẻ chia tình
cảm, là sự sống sung túc của con người, là biểu tượng của tình yêu, hạnh
xuất hiện song hành cặp đôi đàn tính - hát then, điều này rất hiếm thấy
trong những sáng tác dân gian. Cây đàn tính cùng với chùm xóc nhạc, quạt
giấy là dụng cụ không thể thiếu trong nghi lễ then. Khi cây đàn tính với
câu hát then xuất hiện cùng nhau - một chỉnh thể hoàn hảo được tạo lập thì
mọi sức mạnh được quy tụ lại. Trong thơ Tày hiện đại, cặp biểu tượng đàn
tính - hát then mang đến những ý nghĩa mới, tầng bậc mới. Đấy là niềm vui
của bản làng, là lời ước hẹn thề nguyền bền chặt, là tình yêu, hạnh phúc
3.3.2.4. Biểu tượng ngựa
Với người Tày nói riêng và người miền núi nói chung, con ngựa được
nhắc tới nhiều trong đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như trong đời sống
văn hóa tinh thần. Giai đoạn hiện đại, ngựa xuất hiện trong những sáng tác
thơ ca đôi lúc vẫn với ý nghĩa quen thuộc, nhưng các tầng nghĩa được thay
đổi một cách đáng kể.
18
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy biểu tượng ngựa trong thơ ca Tày
hiện đại xuất hiện đậm đặc, biểu đạt bốn lớp nghĩa chính. Đầu tiên, ngựa
tượng trưng cho cái đẹp, oai hùng, cái kỳ vĩ. Cái hay, cái đáng nói hơn cả
là những chú ngựa với sức mạnh phi thường, những con ngựa hoang của
đại ngàn chất chứa nhiều khát vọng. Ở lớp nghĩa thứ hai, ngựa xuất hiện khi
thể hiện sự đồng cảm với con người, ngựa là một người bạn gắn bó, ngựa
mang tâm trạng con người, ẩn dụ cho một cuộc sống khác (khi còn áp
bức, khổ đau; khi đất nước được giải phóng ). Ở lớp nghĩa thứ ba, ngựa
là biểu tượng của những khát vọng con người. Ý nghĩa biểu đạt thứ tư,
ngựa là nỗi đau của con người. Đây là một lớp nghĩa đặc biệt. Nó khác
với ý nghĩa vốn có của biểu tượng ngựa cũng như các lớp nghĩa xuất hiện
trong văn hóa/ văn học dân gian Tày. Có thể thấy, con ngựa trong sáng
tác dân gian thiên nhiều về biểu thị đời sống vật chất, sang giai đoạn thơ
hiện đại, con ngựa là hiện thân của một thế giới tinh thần kỳ vĩ, của những
ước vọng lớn lao, của những niềm khát khao vô biên, thậm chí được nâng
đến mức thần thánh.
MỘT SỐ PHONG CÁCH SÁNG TẠO
TRONG THƠ DÂN TỘC TÀY TỪ 1945 ĐẾN NAY
Trong đội ngũ đông đảo các nhà thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay,
Nông Quốc Chấn, Y Phương, Dương Thuấn là ba phong cách độc đáo có
khả năng đại diện cho thành tựu bề thế của thơ dân tộc Tày tính đến thời
điểm hiện tại. Chúng tôi lựa chọn nghiên cứu ba phong cách thơ Nông
Quốc Chấn, Y Phương, Dương Thuấn, thứ nhất vì đó là những tác giả đạt
được thành tựu tiêu biểu, nổi trội; sức viết bền bỉ và những đổi mới không
ngừng trên hành trình sáng tạo; thứ hai, phong cách thơ của ba tác giả này
có sự ảnh hưởng lớn đối với thế hệ sau.
4.1. Thơ Nông Quốc Chấn - sự kết hợp truyền thống và tinh thần
thời đại
Là người dân tộc thiểu số
đầu tiên “mang hơi thở núi rừng Việt Bắc
vào thi ca
”, Nông Quốc Chấn được xem là “cánh chim đầu đàn của
những người làm văn học cách mạng của các dân tộc thiểu số. Tuy những
bài thơ đầu tiên là thơ tình nhưng đặc điểm nổi bật nhất của thơ Nông
Quốc Chấn là thứ thơ ra đời cùng cuộc kháng chiến, cùng những ngày
gian khổ, do đó, cảm xúc hết sức chân thành kết hợp với bút pháp trữ
tình khiến những tác phẩm của ông đến với đông đảo quần chúng nhân
dân, được đồng bào miền núi yêu mến. Nông Quốc Chấn biết phát hiện
những yếu tố mới lạ bằng một cái nhìn tinh tế mang vẻ hồn nhiên, khỏe
khoắn, vui tươi của người miền núi, của dân tộc Tày quê ông.
Khi cả nước dốc toàn lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, thơ Nông
20
Quốc Chấn có sự thay đổi khá nhiều trong cách thể hiện, với một loạt
những tác phẩm thành công như Người núi Hoa (1958), Tiếng ca người
một cách viết khá hiện đại và đậm chất miền núi, ở đó có sự từng trải trong
cuộc sống, có những cách diễn tả hồn nhiên mà sâu lắng; cách quan sát,
bộc lộ cảm xúc cho thấy một lối tư duy hiện đại, vừa chan hòa vừa chế
ngự, điều khiển được tự nhiên xung quanh của ông. Chính cách viết đến
hiện đại từ truyền thống đã giúp ông tiếp tục có những phát hiện rất hay về
21
dân tộc mình.
4.3. Thơ Dương Thuấn - khát vọng hướng về nguồn cội
Từ những tập thơ đầu tiên Cưỡi ngựa đi săn (1991), Đi tìm bóng núi
(1993) đến Soi bóng vào tôi (2009), Tuyển tập Dương Thuấn (song ngữ,
2010), thơ Dương Thuấn thực hiện một hành trình từ bản Hon đến với phố
phường, đến với thế giới, vẫn một phương châm, một tư duy và một lối
nói: Ta là chàng trai của núi - Chỉ biết hát lời cho quả sai
Thơ Dương Thuấn có sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, hình
ảnh nổi bật nhất là những bà mẹ đậm chất vùng cao, những cô gái xứ mây,
những chàng trai xứ núi “chỉ biết hát lời cho quả sai” Nét độc đáo, vẻ
đẹp đời sống tâm hồn, chiều sâu tâm linh người dân tộc thiểu số được nhà
thơ Dương Thuấn thể hiện giản dị mà sâu sắc. Điều quan trọng phía sau
những ngôn từ, giọng điệu, hình ảnh, Dương Thuấn đã tìm ra được một
giọng nói của riêng mình, như anh từng ấp ủ: Người sinh ra trên núi/ Cầm
dao tự phát lối cho riêng mình… Dương Thuấn đã khéo léo dung hòa giữa
cái truyền thống và hiện đại, giữa cái cách tân và những nét đẹp giản dị.
Dương Thuấn vẫn miệt mài viết và dấn thân, viết cho thế hệ mình, cho
cuộc sống giản dị xung quanh như một sự sẻ chia nỗi lòng, một cách đền
ơn. Trải qua hành trình gần 30 năm sáng tác, Dương Thuấn vẫn giữ trong
mình cái khát khao vừa dung dị vừa thiêng liêng, trọn vẹn nghĩa tình: Đi
đâu rồi cũng trở về/ Nước múc gáo/ Gạo vẫn đong bằng đấu/ Bên bếp mắt
lại nhìn đau đáu/ Đêm dài lửa ấm có em…
Có thể nói, ba tác giả Nông Quốc Chấn, Y Phương, Dương Thuấn
mang đến cho độc giả ba giọng điệu, ba cách nhìn cuộc sống, họ giống nhau
3. Ở phương diện nghệ thuật biểu hiện, chúng tôi phân tích những
biểu hiện nghệ thuật của thơ dân tộc Tày trong mối liên hệ biện chứng
giữa kế thừa truyền thống văn học dân gian và sự cách tân đổi mới.
Những biểu tượng mẹ Hoa, đàn tính, lúa, ngựa trong thơ dân tộc Tày từ
1945 đến nay chứng tỏ sức sống của văn hóa dân gian được lưu truyền đậm
nét từ thời kỳ khởi nguyên cho đến thời kỳ hiện đại.
Ở chương cuối cùng của luận án, chúng tôi giới thiệu một cách sâu hơn
về phong cách thơ của ba tác giả Nông Quốc Chấn, Y Phương, Dương
Thuấn. Đây là những tác giả thể hiện thành công một cách có ý thức về vai
trò của nguồn cội, truyền thống trong sáng tạo nghệ thuật và thiên chức cao
cả của những người cầm bút. Thơ của họ đã lưu giữ, truyền tải văn hóa dân
tộc Tày một cách sáng tạo, độc đáo.
4. Thơ dân tộc thiểu số thời kỳ hiện đại đã và đang đạt được nhiều
thành tựu, việc nghiên cứu từng dân tộc, khu vực sẽ hoàn thiện bức tranh
đa dạng sắc màu trong một chỉnh thể của nền văn học Việt Nam. Bên
cạnh việc chỉ ra những thành tựu cũng như hạn chế là cái nhìn khát quát
24
giữa thành tựu thơ dân tộc Tày với thơ dân tộc thiểu số khác và dân tộc
Kinh để thấy rõ sự độc đáo cũng như vị trí thơ dân tộc Tày và đóng góp
của nó trong thơ Việt Nam hiện đại.
Nếu có điều kiện nghiên cứu sâu hơn, chúng tôi sẽ tìm hiểu một số vấn
đề còn đang dang dở như sự chi phối của văn hóa vùng tới thơ của từng tác
giả, những gương mặt thơ nữ của thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay, nghiên
cứu sâu từng thế hệ để nhận thấy sự biến chuyển mạnh mẽ trong quá trình
vận động của thơ dân tộc Tày trong ảnh hưởng của văn học/văn hóa Kinh
Chọn đề tài này chúng tôi không có tham vọng sẽ giải quyết toàn bộ những
vấn đề liên quan đến thơ dân tộc Tày từ 1945 đến nay, bởi do sự hạn chế
về thời gian và tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu. Ngoài ra, sự hạn chế
về trình độ khoa học của người nghiên cứu cũng là một thực tế kh tránh
khỏi. Vì vậy, chúng tôi mong muốn sẽ có những công trình tiếp tục nghiên