ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TĂNG THỊ HOÀN
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG THIỀU
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội - 2012 1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1. Lí do chọn đề tài 3
2. Lịch sử nghiên cứu 4
4. Phương pháp nghiên cứu 7
5. Đóng góp của luận văn 7
6. Cấu trúc của luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
Chương 1: TRUYỆN NGẮN NGUYỄN QUANG THIỀU
TRONG DÒNG MẠCH CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM THỜI KÌ
ĐỔI MỚI 9
1.1 Khái quát chung về truyện ngắnViệt Nam thời kì đổi mới 9
1.1.1 Giới thuyết truyện ngắn 9
1.1.2 Truyện ngắn thời kì đổi mới 11
1.2 Nguyễn Quang Thiều - khát vọng đổi mới truyện ngắn 15
1.2.1 Quá trình sáng tác của Nguyễn Quang Thiều 15
1.2.2 Khát vọng sáng tạo trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 17
Chương 2: CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN QUANG THIỀU 22
2.1 Cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 22
2.1.1 Khái niệm cốt truyện 22
2.1.2 Nghệ thuật xây dựng cốt truyện 22
2.2 Kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều 32
2.2.1 Khái niệm kết cấu 32
2.2.2 Nghệ thuật tạo dựng kết cấu trong truyện ngắn Nguyễn Quang
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Nguyễn Quang Thiều là một gương mặt nổi bật trong nền văn
học Việt Nam đương đại. Với một hành trình sáng tạo không mệt mỏi,
một ý thức cách tân mạnh mẽ, ông đã có những đóng góp nhất định trên
nhiều thể loại: Thơ, trường ca, tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện thiếu nhi,
dịch thuật, tiểu luận và tản văn. Hiện nay, ông đã xuất bản 10 tập thơ, 16
tập văn xuôi, 3 tập sách dịch. Ở thể loại nào ông cũng để lại ấn tượng tốt
đẹp, đặc biệt ở thơ và truyện ngắn. Với thơ, Nguyễn Quang Thiều đã
làm mất ngủ những người yêu thơ và đánh thức đời sống phê bình văn
học bấy lâu vốn trầm lặng và buồn tẻ. Bên cạnh đó, mảng truyện ngắn
của ông cũng đọng lại nhiều dư âm trong lòng độc giả với nhiều giải
thưởng có uy tín.
1.2 Sáng tác của Nguyễn Quang Thiều đã trở thành tâm điểm của
các cuộc tranh luận. Dù tán thành hay phản đối người ta không thể phủ
nhận truyện ngắn của ông góp phần làm mới thể loại. Trong bối cảnh xã
hội hiện nay, xu hướng dân chủ hóa tạo điều kiện cho các giới nghiên
cứu, phê bình có cái nhìn cởi mở hơn, khách quan hơn khi đánh giá về
một hiện tượng văn học. Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều,
chúng tôi mong muốn có cái nhìn khoa học và toàn diện hơn về cuộc đời
và sự nghiệp văn học của ông.
1.3 Thời kì đổi mới có thể coi là thời kỳ hoàng kim của truyện
ngắn. Nhiều tác phẩm đã được đưa vào giảng dạy ở bậc trung học phổ
thông và đại học. Do vậy, qua hiện tượng Nguyễn Quang Thiều, chúng
tôi muốn góp phần tìm hiểu thêm về diện mạo văn học giai đoạn này. Đề
tài này sẽ là sự gợi mở để chúng tôi nghiên cứu sâu hơn dòng mạch vận
động của văn học Việt Nam đương đại nói chung và truyện ngắn nói
5
thơ Việt Nam sau 1975; Quá trình hiện đại hóa thơ Việt Nam đương đại
nhìn từ trường hợp Nguyễn Quang Thiều
Không chỉ đạt được thành tựu ở thể loại thơ, ở truyện ngắn, phong
cách Nguyễn Quang Thiều đã được định hình qua một số bài viết mang
tính tổng quát. Trong bài Ra mắt tuyển thơ Nguyễn Quang Thiều in
trong Tác phẩm và dư luận ngày 26 - 1 - 2011, tác giả Hoài Khánh đã
khẳng định: “Nguyễn Quang Thiều không chỉ là nhà thơ tiên phong với
trào lưu hiện đại mà còn là cây viết văn xuôi giàu cảm xúc. Trong anh
không chỉ có con người bay bổng, ưu tư với những phiền muộn thi ca,
mà còn có một nhà báo linh hoạt và nhạy bén”.
Nhà phê bình Bùi Việt Thắng trong Truyện ngắn - Những vấn đề
lý thuyết và thực tiễn thể loại đã từng nhận định: “Về khía cạnh thi
pháp, truyện ngắn 1986 - 2000 đã trở nên phong phú về hình thức,
phong cách và bút pháp… Hình thức đa dạng có truyền kỳ hiện đại:
“Bến trần gian” của Lưu Sơn Minh, “Hai người đàn bà xóm Trại” của
Nguyễn Quang Thiều”.
Trong bài Những thành tựu của truyện ngắn sau 1975 (TCVH số
9, 1996), nhà nghiên cứu Nguyễn Bích Thu cũng khẳng định “Nguyễn
Quang Thiều cùng với nhiều nhà văn khác như Tạ Duy Anh, Y Ban,
Nguyễn Quang Thân, Nguyễn Thị Thu Huệ… đã tạo nên một diện mạo
mới cho truyện ngắn thời kì đổi mới”.
Khi nghiên cứu: Các kiểu kết thúc của truyện ngắn hôm nay
(TCVH số 4 - 1995), Lê Thị Hường cũng đã khảo sát và đánh giá kết
thúc của truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông của Nguyễn Quang Thiều:
“cách kết thúc của Nguyễn Quang Thiều tiêu biểu cho kiểu kết thúc của
truyện ngắn hôm nay và là mô hình kết thúc phổ biến”.
Học giả Nguyễn Khắc Viện cũng đã đọc và phân tích rất kỹ truyện
ngắn Gió dại trong tập truyện Người đàn bà tóc trắng của Nguyễn
7
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành tập trung khảo sát 29 truyện trong Truyện
ngắn Nguyễn Quang Thiều (Nxb Văn học, 1997). Ngoài ra, truyện ngắn
của Nguyễn Quang Thiều cũng nằm trong tiến trình đổi mới truyện ngắn
Việt Nam nên chúng tôi sẽ tiến hành tìm hiểu truyện ngắn của một số
tác giả có xu hướng cách tân như Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn
Ngọc Tư, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp để so sánh. Bên cạnh đó,
các công trình nghiên cứu lí luận văn học, các chuyên luận, các tạp chí
chuyên ngành có liên quan, các sách, báo của thư viện trường Đại học
Quốc gia Hà Nội, Thư viện Quốc gia Hà Nội, các bản in trên trang web,
tài liệu do tác giả cung cấp được chúng tôi sử dụng như là tài liệu để
tham khảo.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp xã hội học
4.2 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
4.3 Một số thao tác hỗ trợ khác: phân tích, tổng hợp, đánh giá, so
sánh
5. Đóng góp của luận văn
5.1 Về mặt lịch sử văn học: Cung cấp một cái nhìn khách quan,
khoa học, hệ thống và toàn diện về một hiện tượng văn học. Nguyễn
Quang Thiều không chỉ thành công trên lĩnh vực thơ ca mà còn là một
cây bút văn xuôi tài hoa, một tác giả của những truyện ngắn có giá trị
nghệ thuật mang ý nghĩa nhân văn.
5.2 Về mặt lí luận văn học: Giúp người đọc định hình rõ hơn về
cách tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ thể loại, nhất là thể loại truyện
ngắn.
TRONG DÒNG MẠCH CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM
THỜI KÌ ĐỔI MỚI
1.1 Khái quát chung về truyện ngắnViệt Nam thời kì đổi mới
1.1.1 Giới thuyết truyện ngắn
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, truyện ngắn được định nghĩa:
“Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ. Nội dung của thể loại truyện ngắn
bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự, hay sử thi,
nhưng cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền
một mạch, đọc một hơi không nghỉ” [21, tr. 162].
Theo 150 thuật ngữ văn học, truyện ngắn là “một thể loại của tác
phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập đến các
phương diện của đời sống con người và xã hội. Nét nổi bật của truyện ngắn
là sự giới hạn về dung lượng, tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người
tiếp nhận đọc nó liền mạch không nghỉ” [2, tr. 142].
Mức độ dài ngắn không phải là đặc điểm chủ yếu để phân biệt truyện
ngắn với các tác phẩm tự sự khác. Trong văn học hiện đại có nhiều tác
phẩm rất ngắn nhưng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại. Thời
trung đại thì truyện ngắn cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa. Các hình
thức kể chuyện dân gian rất ngắn gọn như truyện cổ tích, truyện cười…
không phải là truyện ngắn. Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới,
một cách chiếm lĩnh cuộc sống rất riêng, mang tính chất thể loại. Vì vậy,
truyện ngắn xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học.
Tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đủ
và toàn vẹn của nó, còn truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa hiện 10
tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay thế giới nội
tâm của con người. Cho nên truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện
phức tạp. Mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật của
của văn chương để phù hợp với đời sống xã hội, với nhận thức và tiếp nhận
của người đọc hiện đại. Tuy nhiên, viết cho mới không là mục đích. Viết
cho hay mới là mục đích. Đổi mới được coi như phương tiện, bút pháp để
làm hay văn chương. Đổi mới không đơn thuần chỉ để đổi mới thiên về mặt
hình thức mà cần đổi mới về tư duy nghệ thuật, đổi mới quan niệm nghệ
thuật về con người, đổi mới về nghệ thuật trần thuật.
Quan niệm như vậy khác hẳn với quan niệm thời kỳ trước. Sau khi
cách mạng tháng 8 thành công, đất nước bước vào cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp. Phần lớn nhà văn lên chiến khu theo cách mạng.
Với quan điểm văn nghệ phục vụ công nông binh, phục vụ kháng chiến,
văn chương nói riêng và văn học nghệ thuật nói chung lấy nhiệm vụ phục
vụ chính trị làm mục tiêu hàng đầu nên đã không tránh khỏi chính trị hóa,
báo chí hóa, đơn giản hóa, quần chúng hóa; tác phẩm mang tính nghệ
thuật đích thực có, nhưng không thật nhiều. Kết thúc cuộc kháng chiến
chống Pháp, chúng ta chưa có thời gian định lại những giá trị đích thực
của văn chương, đã phải bước vào cuộc kháng chiến mới, trong đó văn
học có nhiệm vụ phục vụ lợi ích dân tộc, cụ thể là phục vụ lợi ích cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Với quan niệm về văn chương như vậy
tất yếu sẽ dẫn đến có nhiều tác phẩm ra đời nhưng lại đơn giản, tẻ nhạt,
một chiều. Xã hội thay đổi, nhận thức con người đã thay đổi, quan niệm
thẩm mỹ đã khác nhưng quan niệm đối với văn chương gần như không
có gì thay đổi, vẫn bảo thủ trì trệ. Bởi vậy một giai đoạn khá dài sau cuộc 12
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, văn học nước nhà rơi vào trạng huống
bế tắc, người đọc quay lưng lại với văn chương.
May thay, vào những năm giữa của thập niên 80 thế kỷ trước, sau
đại hội VI của Đảng, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Cùng với sự đổi
mới tư duy chính trị, tư duy kinh tế là đổi mới tư duy nghệ thuật, đổi mới
Nguyễn Quang Thân, Lý Biên Cương, Nguyễn Bản, Lê Minh Khuê là
một thế hệ hết sức đa dạng và hùng hậu: Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn
Quang Lập, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị
Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Bão Vũ, Nguyễn
Thị Phước, Lý Lan, Phạm Ngọc Tiến, Trần Đức Tiến, Văn Cầm Hải và
mới đây là Nguyễn Ngọc Tư. Mỗi người tạo nên một phong cách làm cho
truyện ngắn giống một nguồn mạch có nhiều dòng chảy, bởi vậy truyện
ngắn đa chiều và phong phú, không đơn điệu tẻ nhạt. Các tác giả viết
truyện ngắn trong thời kỳ đổi mới đã thổi vào truyện ngắn một luồng gió
mới, trần trụi hơn, thật hơn, đời hơn. Cấu trúc truyện ngắn của họ không
chỉ là mặt phẳng, mà đã có cái gì như thể không gian đa chiều. Đọc
truyện ngắn thời kỳ đổi mới ít nhiều đã thấy các tác giả đang có xu
hướng không còn quá lệ thuộc vào những điều mà thế hệ đi trước, bằng
nhiều nguyên do, phải gánh, đã thấy được sự bứt phá khỏi những ràng
níu của một thời. Bởi vậy truyện ngắn đã có sự khoáng đạt, hồn nhiên,
cởi mở và trí tuệ. Đã có những xoay trở nhằm kéo truyện ngắn về với
phong cách mới, gần với đời thường, trong ý thức rạch ròi, gọi đúng tên
các hiện tượng của đời sống, chỉ đích danh sự vật. Phương cách thể hiện
cũng nhiều chiều, thậm chí mượn sự không có thật, phi lý như phương
tiện dẫn giải để đạt được điều muốn nói nhằm tỏ thái độ với cái xấu, cổ
xuý cho cái tốt, qua đó gợi mở, đánh thức tư duy người đọc. Điều này 14
không mới, song so với những gì đã có trước đây, trong xu hướng thiên
về sự phẳng lặng, rành mạch, có hậu thì có thể coi lối thể hiện này như
một đột phá.
Có thể nói truyện ngắn thời kỳ này mang đậm ý thức cảnh báo, dự
báo. Đó không gì khác hơn chính là ý thức phản tỉnh, phản tư - một trong
những thuộc tính cần có của văn chương. Ý thức phản tỉnh trong tác
nguồn cảm hứng sáng tác vô tận đối với nhà văn.
Trong ký ức của mình, tuổi thơ Nguyễn Quang Thiều gắn liền với
hình ảnh người bà nội phải nằm bất động trong một góc nhà. Bà nằm đó
mà kể cho ông nghe những câu chuyện tưởng tượng, những ký ức huyền
hoặc nhuốm màu ma quái Và chính những điều đó, đã gieo vào trong
ông những cảm thức khác lạ, trở thành một hành trang trong tư duy sáng
tạo sau này. Như chính nhà văn trong Châu thổ, thơ tuyển lần thứ nhất
đã từng nói: “bà tôi - một người nông dân không biết chữ là nhà văn đầu
tiên và vĩ đại của tuổi thơ tôi” [74, tr. 16].
Vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, khi mới ngoài 20
tuổi, Nguyễn Quang Thiều yêu thơ đến kỳ lạ và với sự đòi hỏi của vô
thức, của bản năng, ông đã cho ra đời những bài thơ với những cảm xúc
đẹp đẽ, trong sáng buổi ban đầu mà sau này được tập hợp trong tập thơ
Ngôi nhà 17 tuổi.
Không dừng lại ở đó, Nguyễn Quang Thiều luôn trăn trở ngày
đêm trên từng trang viết của mình, từ thằm sâu réo gọi đã thôi thúc ông
cầm bút và tập thơ Sự mất ngủ của lửa ra đời. Với tập thơ này Nguyễn
Quang Thiều lần đầu tiên mang đến một thứ thơ khác, một thứ thơ khởi
phát từ nội lực mạnh mẽ chất chứa những trầm tích bí mật, những huyền
thoại bị vùi lấp, những gấp khúc của tư duy và sự hoang thẳm của
những cơn mơ Tựa như một cảnh giới kỳ dị, vừa ảo huyền, sương 16
khói, vừa mộng mị lại vừa trần trụi, bộn bừa, không màu mè; vừa đơn
sơ, vừa quen thuộc lại vừa ẩn chứa vẻ xa lạ…Với ông, làm thơ lúc ấy
thật hồn nhiên và nó như một nhu cầu tự thân nhằm giải thoát chính
mình.
Sau khi rời Cu Ba về nước, Nguyễn Quang Thiều công tác tại Bộ
công an và bắt đầu với sự nghiệp báo chí. Khi thì ông phụ trách báo Văn
Và nói đến thành tựu truyện ngắn của nhà văn, không thể không
kể đến hai tác phẩm đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.
Truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông được giải của tạp chí Văn nghệ quân
đội năm (1989 – 1990), sau được chuyển thể thành phim truyền hình Lời
nguyền của dòng sông. Truyện ngắn Hai người đàn bà xóm Trại được
giải tạp chí Văn nghệ quân đội năm (1993 – 1994) sau được chuyển thể
thành phim truyền hình Thời gian của dòng sông. Lúc đương thời cả hai
bộ phim được chuyển thể từ hai truyện ngắn này đều gây được tiếng
vang trong dư luận và công chúng.
1.2.2 Khát vọng sáng tạo trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
Nói đến Nguyễn Quang Thiều người ta thường nói đó là con
người của thi ca. Nguyễn Quang Thiều yêu thơ đến mê mẩn, mụ mị,
chìm đắm và thao thức với thơ, cho thơ, và vì thơ. Nhưng chúng ta cũng
không thể phủ nhận rằng có một Quang Thiều mải miết với truyện ngắn,
mặc dù hành trình sáng tác truyện ngắn không dài nhưng những tác
phẩm của ông đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc như nhận
định của nhà biên tập trong cuốn Mùa hoa cải bên sông/ Nguyễn Quang
Thiều, H. Kim Đồng, 2003: “Nguyễn Quang Thiều là một cây bút truyện
ngắn tài hoa. Anh có lối kể chuyện hư hư thực thực, ẩn hiện, mê 18
hoặc…văn chương và con người anh như một thứ rượu để lâu, uống vào
rất dễ say” [72, tr. 4].
Không ít văn nghệ sĩ thường nghĩ, có một cái gì đó giống như một sự
xung đột hay sự mâu thuẫn giữa các thể loại trong cùng một con người
sáng tạo ra nó. Nhưng đối với Nguyễn Quang Thiều mọi loại hình nghệ
thuật chỉ nhằm đến tự do, bản chất của mọi sáng tạo nghệ thuật là như
nhau, chúng chỉ khác nhau về ngôn ngữ và hình thức thể hiện như ông đã
từng nói: “Tôi yêu tất cả những gì thuộc về vẻ đẹp sự sáng tạo. Làm gì tôi
bay lên của bầy chim, hay khoảnh khắc hạnh phúc khi được nhìn thấy
mái tóc như từ vầng trăng chảy xuống
Với Nguyễn Quang Thiều, vẻ đẹp, sự kỳ diệu nằm ở những điều
bình dị nhất. Khát khao đi tìm cái đẹp, bám lấy cuộc sống, tìm kiếm vẻ
đẹp diệu kỳ trong những gì thân thuộc nhất. Cái đẹp có khi nằm ở một
trạng thái giản dị nhất hay ở một chuyển động thô sơ nhất. Với ông
thiên đường không phải là cái gì cao siêu, huyền bí mà là một đời sống
tinh thần kỳ diệu ở ngay thế gian này Là một chiều chân trần trên cánh
đồng rực vàng của lúa chín với cõi lòng thanh sạch vô cùng, được đắm
chìm trong hương lúa. Từ những con đường đất đỏ với bước chân trần
mẹ đi về sau mỗi chiều vất vả đến những mái ngói, bờ tre của những
thôn quê nghèo khó Khi chúng ta nhận biết được vẻ đẹp của thiên
nhiên và sự sống thì nghĩa là chúng ta biết được thiên đường.
Ông đã từng nói trong nhiều cuộc phỏng vấn rằng: “điều thu hút
tạo cảm hứng cho tôi là tâm hồn và số phận của người phụ nữ chứ
không phải nhan sắc của họ. Trong đời thường, một phụ nữ không nhan
sắc thì tôi không có cách nào làm cho người phụ nữ đó có nhan sắc.
Nhưng trong tác phẩm, tôi có quyền tạo ra một phụ nữ nhan sắc” [6, tr. 20
22]. Có lẽ cái nhan sắc mà nhà văn muốn nói ở đây chính là vẻ đẹp của
sự thành thực, hồn nhiên, mộc mạc, vẻ đẹp tâm hồn tự nó toát ra một
cách tự nhiên nhất.
Có khi nhà văn bày tỏ quan niệm về cái đẹp trực tiếp qua đoạn trữ
tình ngoại đề trong Chạy trốn khỏi vầng trăng: “Bạn ơi! Bạn hãy thử
một đêm nào đó khuya khoắt đứng dưới trăng mười sáu một mình. Bạn
hãy ngửa mặt hứng lấy từng giòng trăng chảy xuống… chỉ một lát sau
thôi bạn không thể bình tĩnh được. Bạn sẽ hoảng hốt, rồi lăn lộn, rồi như
mê sảng. Và đâu đấy trong không gian mênh mang kỳ ảo ánh trăng có ai
kịch bản, hội họa đến văn xuôi, Nguyễn Quang Thiều đều để lại ấn
tượng sâu sắc trong lòng độc giả. Xuất phát từ quan niệm như một tuyên
ngôn trong văn chương: “làm mới lại những gì đã cũ, làm sống lại
những gì đã chết”, Nguyễn Quang Thiều đã đem đến những cách tân
nghệ thuật đáng chú ý cho văn học nước nhà. Có thể khẳng định rằng
cùng với một đội ngũ nhà văn hùng hậu thời kì đổi mới, Nguyễn Quang
Thiều với những truyện ngắn của mình đã làm mới thể loại tự sự cỡ nhỏ,
đáp ứng thị hiếu thẩm mỹ của thời đại và công chúng.
22
Chương 2: CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN QUANG THIỀU
2.1. Cốt truyện trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều
2.1.1 Khái niệm cốt truyện
Theo Lý luận văn học (2003, Nxb Giáo dục) cốt truyện được định
nghĩa: “cốt truyện là hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến của
cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các
tính cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của
chúng nhằm làm sáng tỏ chủ đề và tư tưởng tác phẩm” [17, tr. 137].
được nâng lên cấp độ tượng trưng, có sức ảm ảnh lớn, tư tưởng, chủ đề
được khắc sâu” [56, tr. 33].
Theo như Nguyên Ngọc: “truyện ngắn có thể có cốt truyện, thậm chí
cốt truyện ly kỳ, gay cấn, kể được. Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt
truyện gì cả, không kể được nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết.
Nó sẽ như nước lã” [69, tr. 85].
Chi tiết đắt giá có thể ở đầu truyện, giữa truyện, đỉnh điểm cao trào
hoặc ở đoạn kết. Nhưng thường thì chi tiết đắt giá được giấu kín, chỉ tung
ra ở đoạn kết, tạo sự bất ngờ cho độc giả.
Giữa chủ đề và chi tiết có mối quan hệ mật thiết với nhau. Chủ đề có
tác dụng hướng dẫn người viết chọn chi tiết để tạo dựng cốt truyện và
ngược lại tác phẩm có ý nghĩa thực sự sâu sắc lại nhờ sự phát sáng của các
chi tiết. Nói như vậy không có nghĩa là vơ tuốt mọi chi tiết đưa vào làm
cho tác phẩm thừa hoặc thiếu. Mà quá trình đưa vào phải là sự chọn lọc có
nghĩa là phải đặt được ý, được vấn đề trước thì mới chọn đúng chi tiết nói
như nhà văn Nguyễn Công Hoan: “khi muốn triển khai một ý, một vấn đề