DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc được xem là hai nhà văn tiêu biu của Nam Bộ
sau 1945, sau thời kỳ của những nhà văn như Hồ Biu Chánh, Phi Vân Giá trị tác
phẩm của hai nhà văn này được nhiều người nhìn nhận qua việc phần lớn những tác
phẩm đó phản ánh chân thực hình ảnh thiên nhiên và con người nơi đây, hòa nhập làm
thành một gương mặt văn học mới ở vùng đất phương Nam.
Sơn Nam viết về miền Tây Nam Bộ, Bình Nguyên Lộc viết về miền Đông Nam
Bộ, tác phẩm của hai nhà văn này đã đưa người đọc trở về với thời những lưu dân
Việt đi mở đất phương Nam với những nét độc đáo của riêng Nam Bộ.
Xưa nay, có một số công trình nghiên cứu riêng về Sơn Nam và Bình Nguyên
Lộc nhưng chưa đặt chung hai tác giả này dưới góc nhìn văn hóa. Việc nghiên cứu hai
nhà văn này trong thế đối sánh không những chỉ ra phong cách của từng người mà còn
cho thấy sự khác nhau giữa hai vùng văn hóa miền Tây và miền Đông Nam Bộ.
Công trình không những chỉ ra những giá trị văn học đặc sắc của của truyện ngắn
Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn văn hoá mà còn chỉ ra những đóng góp
của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc cho văn học và văn hóa Nam Bộ.
Trong quá trình viết về truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn
văn hoá, người viết có liên hệ các tác phẩm của Nam Cao, Ngô Tất Tố đ qua đó làm
rõ những sắc thái văn hoá Nam Bộ.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về Sơn Nam, trước 1975, chủ yếu là ở miền Nam, có một số bài viết
của những tác giả như Tạ Tỵ, Nguiễn Ngu Í… Sau 1975, Sơn Nam được nghiên cứu
ngày càng nhiều hơn, Hương rừng Cà Mau là tác phẩm được nói đến nhiều nhất (có
truyện Bắt cá sấu rừng U Minh Hạ được đưa vào sách giáo khoa lớp 12).
Phần lớn những bài viết về Sơn Nam là những bài báo đưa tin, cảm nhận, lời giới
thiệu sách hoặc hồi ký của các văn nghệ sĩ. Tiêu biu là các bài viết của Lê Minh Đức
(1987), Võ Phiến (1994), Viễn Phương (1997), Hoàng Phủ Ngọc Tường (1998),
Nguyễn Mạnh Trinh (2008), Trần Hữu Dũng (2009), Nguyễn Trọng Tín (2010),
Nguyễn Trung Quốc (2010)…
Tên tuổi Sơn Nam được nói đến một cách trang trọng trong Từ điển văn học (mục
phẩm văn học.
Phạm vi khảo sát của luận án là những truyện ngắn của Sơn Nam và Bình
Nguyên Lộc, nhất là những tác phẩm viết về thiên nhiên và con người Nam Bộ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận án, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau:
-Phương pháp tiếp cận văn học từ góc độ văn hóa
-Phương pháp thi pháp học
-Phương pháp hệ thống
-Phương pháp so sánh
-Phương pháp lịch sử - xã hội
5. Đóng góp của luận án
Luận án góp phần làm sáng tỏ hơn những giá trị của truyện ngắn Sơn Nam và
Bình Nguyên Lộc dưới góc nhìn văn hoá. Mặt khác, luận án cũng chứng minh những
đóng góp của hai nhà văn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc cho văn học và văn hóa Nam
Bộ.
Việc tiếp cận văn hóa từ tác phẩm văn học và trong cái nhìn so sánh là một vấn
đề tương đối mới mẻ. Hy vọng luận án sẽ đem đến cho người đọc một cái nhìn mới về
truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, qua đó thêm yêu quí và hiu hơn
những tác phẩm của hai tác giả này qua hình ảnh thiên nhiên và con người Nam Bộ
được th hiện trong tác phẩm.
6. Kết cấu luận án
Luận án gồm có 195 trang, ngoài phần Dẫn nhập, Kết luận và Tài liệu tham
khảo, nội dung chính gồm bốn chương:
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương 2. Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc với không gian văn hóa
Nam Bộ
Chương 3. Truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc với thời gian văn hóa
Nam Bộ
Chương 4. Con người Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên
Lộc
người Nam Bộ thích dung hòa, bộc trực, hiếu khách, luôn tiếp thu cái mới đ tiến bộ.
1.2. Nhà văn Sơn Nam với văn hóa Nam Bộ
1.2.1. Vài nét về cuộc đời nhà văn Sơn Nam
Sơn Nam (1926 – 2008), quê Rạch Giá, học trung học ở Cần Thơ, tham gia kháng
chiến chống Pháp, làm cán bộ văn nghệ ở ban Tuyên huấn Xứ ủy Nam Kỳ. Sau 1954,
ông về Sài Gòn làm báo, viết văn, suốt cuộc đời, sống giản dị, được đồng nghiệp quí
mến, bạn đọc đánh giá cao nhân cách và sự nghiệp của ông.
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác của Sơn Nam
Sơn Nam xây dựng một sự nghiệp văn học rất đồ sộ, có khoảng 30 cuốn biên
khảo, 10 cuốn tiu thuyết và khoảng 300 truyện ngắn. Phần lớn tác phẩm của ông nói
về văn hóa và con người Nam Bộ, nổi tiếng nhất là tập truyện ngắn Hương rừng Cà
Mau. Sơn Nam không chỉ là một nhà văn lớn mà còn là là một nhà văn hoá học
chuyên tâm viết về Nam Bộ.
1.3. Nhà văn Bình Nguyên Lộc với văn hóa Nam Bộ
1.3.1. Vài nét về cuộc đời nhà văn Bình Nguyên Lộc
3
Bình Nguyên Lộc (1914 – 1987), quê Biên Hòa, học xong trung học, ông đi làm
nhân viên hành chính nhưng sau đó nghỉ và về dưỡng bệnh ở Bình Dương. Sau đó
chuyn về Sài Gòn làm báo, chủ nhiệm tờ Vui sống và cộng tác chặt chẽ với nhiều
tờ báo lớn. Từ 1985, ông sang định cư ở Hoa Kỳ và mất tại đây.
1.3.2. Sự nghiệp sáng tác của Bình Nguyên Lộc
Bình Nguyên Lộc sáng tác rất sớm, từ trước 1945, và trở thành một trong những
cây bút chủ lực của văn xuôi miền Nam trước 1975. Ông có khoảng 50 tiu thuyết,
hơn 1000 truyện ngắn và 4 cuốn biên khảo. Cuốn Đò dọc được trao giải Nhất văn
chương quốc gia 1959 – 1960. Phần lớn tác phẩm của Bình Nguyên Lộc nói về văn
hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa miền Đông Nam Bộ.
1.4. Sơn Nam – Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn so sánh
Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc là hai nhà văn sống và sáng tác ở Nam Bộ nhưng
bên cạnh những nét giống nhau, họ cũng có nhiều nét khác biệt. Sơn Nam chủ yếu viết
về đất và người miền Tây còn Bình Nguyên Lộc viết rất nhiều về đất và người miền
4
đem lại một nguồn lợi lớn cho người dân nơi đây: “Rừng cao su dày mịt hai bên
đường đuổi cả nắng ở đây không còn sót giọt nào” (Tre phải tàn)
2.1.2. Sơn Nam với Tây Nam Bộ, miền đất xa xôi cuối cùng của đất nước
Sơn Nam chủ yếu miêu tả những khó khăn của đoàn người khai khẩn miền Tây.
Cọp và cá sấu là hai kẻ thù đáng sợ nhất của người dân (Hát bội giữa rừng). Ngoài ra,
muỗi mòng, rắn rít…cũng gây khó khăn không ít. Vào “Mùa len trâu”, đồng bằng
sông Cửu Long ngập nước, đi lại khó khăn, mùa màng thất bát, bệnh dịch phát sinh…
Thiên nhiên rất ưu đãi người dân miền Tây, nhất là khi cuộc sống đã ổn định,
người ta có th “làm chơi, ăn thiệt” “tha hồ ăn xài suốt tháng”. Ruộng đất phì nhiêu,
có sẵn “lúa trời”, rau cỏ cũng nhiều, chim chóc bạt ngàn, cá tôm vô k, quanh năm có
th “ăn rùa, ăn rắn trừ cơm”. Nhờ nguồn lợi “trời cho” rất phong phú, người dân Nam
Bộ cũng sinh ra những cách chế biến thức ăn đ dành khi ăn không hết hoặc bán sang
các vùng khác.
2.2. Hai vùng Tây và Đông Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình
Nguyên Lộc
2.2.1. Sơn Nam với sông nước miền Tây
Trong truyện Sơn Nam, sông rạch mênh mông, người ta cất nhà dọc bờ sông,
chủ yếu đi lại bằng ghe xuồng. “Ngã năm, ngã bảy rộng rãi, ghe xuồng đậu ken nhau
(…) nhiều người bày ra hình thức mua bán lưu động” (Bến Nghé xưa). Sông nước
miền Tây đã làm nảy sinh ra chợ nổi, điệu hò trên sông nước và những mối tình lãng
mạn của khách giang hồ (Con Bảy đưa đò…).
Vào mùa nước nổi ở miền Tây, “nước chạy dài đến chân trời, không bờ bến”.
Người ta đã quen với ứng phó với mùa nước nổi, nước lụt gây nhiều khó khăn nhưng
cũng mang đến nhiều nguồn lợi như lượng phù sa và nhất là cá tôm, thậm chí, làm cho
đất và người sinh sôi nảy nở, trưởng thành hơn sau mùa nước nổi. Mùa khô, người dân
miền Tây cũng ít bị ảnh hưởng, thậm chí, đôi khi còn có lợi: “Mùa khô, đìa cạn nước,
cá gom lại nổi đầu khít rịt như trái mù u rụng” (Cá nước, chim trời).
2.2.2. Bình Nguyên Lộc với đất và nước miền Đông
Truyện của Bình Nguyên Lộc thường đưa ta về những xóm làng heo hút cạnh bờ
cười Bác Ba Phi. Có nhiều chỗ, Sơn Nam không ngại dùng lối nói phóng đại mà người
đọc vẫn tưởng thật do thiên nhiên miền Tây quá phong phú, kỳ lạ. Ta có th thấy nhiều
chi tiết “Nói dóc có căn cứ” trong: Ông già xay lúa, Người mù giăng câu, Hát bội
giữa rừng
Bác Ba Phi và Sơn Nam đều có cách k chuyện mang phong cách dân gian,
hình ảnh thiên nhiên miền Tây Nam Bộ trong tác phẩm đều gây nhiều ấn tượng với
người đọc. Điều đọng lại trong lòng người đọc khi xem, dù truyện cười hay truyện
ngắn, chính là tấm lòng thiết tha của Bác Ba Phi và Sơn Nam với vùng đất cực Nam
này
2.4.2. Cảm quan tinh tế của Bình Nguyên Lộc – người con xứ Đồng Nai
Bình Nguyên Lộc lại đi sâu vào miêu tả phát hiện những sự việc đời thường bằng
một cảm quan tinh tế. Ông khắc họa rất thành công những bức tranh sống động của
rừng miền Đông trên nhiều phương diện âm thanh, mùi vị, màu sắc. Ông có nhiều
truyện miêu tả rất hay cái mùi đất đ cho thấy sự gắn bó máu thịt giữa đất và người
miền Đông (Đất không chết, Thèm mùi đất ).
CHƯƠNG 3
TRUYỆN NGẮN SƠN NAM VÀ BÌNH NGUYÊN LỘC
VỚI THỜI GIAN VĂN HÓA NAM BỘ
3.1. Nam Bộ thời khẩn hoang trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên
Lộc
3.1.1. Trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc: Niềm hoài hương, hoài cổ “bám níu”
“cuống rún chưa lìa”
Chúng ta có th tìm hiu văn hóa Nam Bộ qua dòng thời gian lịch sử, tính từ khi
những lưu dân Việt đầu tiên đặt chân đến miền Đông. Những thế hệ đầu tiên phải tốn
biết bao nhiều mồ hôi, xương máu đ tạo dựng ra những làng mạc trù phú (Tre phải
tàn) Một số tiếp tục dấn thân vào miền Hậu Giang chưa có dấu chân người, chấp nhận
hy sinh làm cây mắm, cây đước ( Rừng mắm ) đ con cháu có trái ngọt mà ăn. Số khác
bỏ quê đi theo tiếng gọi của “Hòn ngọc Viễn Đông”. Truyện của Bình Nguyên Lộc
thường mang tâm sự “bám níu”, “cuống rún chưa lìa”. Họ bám lấy “Những ngôi mả
3.3. Ứng xử của con người Nam Bộ dung hợp với môi trường xã hội qua
truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc
3.3.1. Hòa nhập văn hóa Việt - Khmer - Hoa - Chăm
Tác phẩm Sơn Nam thường nói lên sự gắn bó các dân tộc trên nền tảng những giá
trị văn hóa. Ông thường miêu tả sự giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc Việt – Miên ở
miền Tây. Các tác phẩm Chuyện con mèo, Hát bội giữa rừng… k về việc hợp tác làm
ăn, tương trợ giữa hai dân tộc. Người Việt tiếp thu nhiều từ ngữ và địa danh Khmer
như Cà Mau, Sóc Trăng, Chắc Cà Đao, Mặc Cần Dưng…Họ cũng học hỏi người
Khmer kỹ thuật cấy lúa “lò bom”, sử dụng chiếc nóp, cái cà ràng…trong đời sống
hàng ngày. Cả hai cùng tổ chức nhiều lễ hội văn hóa chung.
Tác phẩm Bình Nguyên Lộc miêu tả từ sự xung đột đến những cảm thông, cộng
tác trong quá trình tiếp xúc giữa những lưu dân Việt đầu tiên với người Hời ở miền
Đông Nam Bộ. Buổi ban đầu, sự va chạm giữa hai dân tộc có nhiều nỗi buồn (Bà Mọi
hú) nhưng về sau lại có nhiều niềm vui (Cô Hời bán thuốc). Ở lưu vực sông Đồng Nai,
người Việt còn chung sống đoàn kết với các dân tộc Mạ, Stiêng, Chu ru…
Cả Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc đều có nhiều tác phẩm hay dựng lên chân dung
của người Hoa ở Nam Bộ: Lữ Bất Vi nguyên tử, Ông Bang cà ròn, Pì pế hán Phần
lớn họ giỏi buôn bán, làm thủ công, mỹ nghệ. Người Hoa cũng mang đến nền văn hóa
độc đáo và “đã tô lên một góc Sài Gòn một biệt sắc riêng”. Sự giao lưu văn hóa Việt –
7
Hoa diễn ra rất tự nhiên và ảnh hưởng qua lại rất sâu sắc, họ sống chung “lai bậy hết,
thét rồi không còn biết ai là Trung Hoa, ai là An Nam nữa” (Lò chén Chòm Sao).
3.3.2. Tiếp biến ảnh hưởng văn minh Phương Tây, đồng thời gìn giữ truyền
thống văn hóa dân tộc
Truyện của Sơn Nam thường viết về các cuộc giao lưu của người miền Tây với
văn hóa Pháp. Nhất là trong tầng lớp trí thức, quan chức và dân thành thị. Người Pháp
đã làm cho bộ mặt vùng sông nước miền Tây có nhiều thay đổi lớn về giao thông vận
tải, khoa học giáo dục, ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục… Nhiều người dân đã biết vận
dụng thành tựu khoa học phương Tây đ chế tạo những sản phẩm mang đặc trưng của
Việt Nam (Bác vật xà bông )
Sơn Nam sinh trưởng ở miền Tây, nơi mảnh đất hoang sơ vẫn còn giữ nguyên
vẹn những giá trị cổ truyền, nhất là văn học dân gian. Bởi vậy, ta thấy bút pháp truyện
Sơn Nam có nhiều nét giống truyện Bác Ba Phi. Bình Nguyên Lộc sinh trưởng
ở miền Đông, nơi chịu nhiều ảnh hưởng của văn minh đô thị hơn. Bởi vậy, văn phong
của ông hiện đại hơn, có sự giao hòa nhiều yếu tố Đông – Tây .
8
CHƯƠNG 4
CON NGƯỜI NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN SƠN NAM VÀ BÌNH
NGUYÊN LỘC
4.1. Tính cách con người Nam Bộ trong truyện ngắn Sơn Nam và Bình
Nguyên Lộc
4.1.1. Con người trọng nghĩa - hào hiệp
Mỗi người Nam Bộ đều có ít nhiều tính cách trọng nghĩa, hào hiệp của Lục Vân
Tiên, Tử Trực, Hớn Minh. Tính cách này được hình thành từ những ngày đầu khai
hoang mở cõi. Do hoàn cảnh khó khăn, nguy him, lưu dân Việt phải nương tựa lẫn
nhau, quý trọng nghĩa tình làng xóm, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau lúc hoạn nạn.
Nhân vật ông Năm Hên, Tư Đức giết cá sấu cứu người mà không đòi hỏi điều gì.
Đến khi “Con sấu cuối cùng” bị hạ cũng là lúc “hiệp sĩ” lẳng lặng ra đi không cần
nhận một lời cảm ơn nào. Cái nghĩa của con người có th hình thành trong gian khó
hoặc do chung sở thích, hai người xa lạ bỗng trở thành tri kỷ qua cuốn Quốc văn giáo
khoa thư.
Trong kháng chiến chống Pháp, có rất nhiều gia đình sẵn sàng giúp đỡ những
người tản cư. Có bà mẹ bỏ ra 4 lượng vàng đ nuôi bộ đội, đến khi hết tiền túng thì đi
vay, mượn rồi buôn thúng bán bưng trả nợ lần hồi (Một bức chân dung). Có ông lão
thà chết chứ không chịu tản cư, bỏ đất mà đi (Đảng Cánh buồm đen). Trong truyện
Đồng đội, Tư Nết thà chết chứ không chịu mang tiếng bội nghĩa với cách mạng.
Tính cách này cũng thấy ở các nhân vật đầu trộm đuôi cướp. Ba Khện (Lương
tâm kẻ trộm) thà mất xe bò vừa cướp được đ làm việc thiện. Hai Tước chỉ dẫn cho
người khác bí quyết đột nhật vào nhà Bà vợ thứ mười của mình đ xé tờ giấy ghi nợ.
nhân vật trốn nợ sang xứ khác làm ăn, bị tra vấn, anh ta thành thật nói thẳng, không úp
mở, che giấu. Hoặc có những người không thích ba hoa mà lấy sự im lặng đ giao
tiếp: Anh quen làm thinh cả ngày, nên chỉ nhìn khách chớ không chào hỏi bằng lời hay
bằng cử chỉ nào hết (???)
4.1.4. Con người bao dung, độ lượng, cởi mở
Sống giữa miền sông nước hoang vu, him trở, người dân Nam Bộ đối đãi nhau
bằng tấm lòng, sẵn sàng cưu mang người khác. Trong Một cuộc bể dâu, cha thằng Kìm
mất trong mùa nước nổi và được ông bà Hai Tích lo mai táng rất chu đáo, mặc
dù trước đó không quen biết. Vì người khác, họ sẵn sàng dám gánh trách nhiệm để
cho kẻ khác vui sướng.
Người Nam Bộ tuy dễ nổi nóng nhưng không đ bụng lâu. Trong truyện Đóng
gông ông thầy Quýt, dân làng sẵn lòng góp gạo nuôi ông Đạo phát cỏ nhưng khi ông
bỏ trốn, dân làng giận dữ nhưng cũng nhanh chóng bỏ qua. Thậm chí, khi biết kẻ trộm
đã ăn năn hối cải thì dân làng giúp đỡ vốn liếng làm ăn: “Tui cho chú em mướn hai
chục công ruộng tốt, hai năm đầu tôi giúp vốn, giúp lúa không ăn lời” (Một vũng máu
tầm thường).
Người Nam Bộ có tấm lòng cởi mở, “tứ hải giai huynh đệ”. Trên sông nước miền
Tây, ta thường thấy cảnh khách đi “quá giang” và được “đối xử bình đẳng, cơm nước
như chủ ghe”. Hoặc giúp kẻ lỡ đường vài bữa cơm, cho ngủ nhờ vài đêm là chuyện
quá dễ dàng. Họ không coi trọng giàu nghèo, không phân biệt thân sơ, cần biết khách
lạ từ đâu tới, miễn khách thật lòng thì họ cũng mở lòng ra với khách.
4.1.5. Con người năng động, sáng tạo
Sống trong một môi trường thiên nhiên mới lạ, đa dạng, người Nam Bộ phải năng
động, sáng tạo đ thích nghi. Bình Nguyên Lộc giới thiệu cho ta những sáng kiến của
người miền Đông về cách thức làm máng xối tre, cái che ép mía, tìm hiu tập quán
sinh hoạt của từng loài cá đ biết cách đánh bắt thích hợp, tận dụng nước sông Đồng
Nai đ buôn bán…
Người dân miền Tây cũng sáng tạo ra nhiều kiu chạy ghe xuồng thích hợp với
mỗi loại địa hình kênh rạch (Ba kiểu chạy buồm, Vẹt lục bình). Ta cũng thấy hình ảnh
những nông dân mưu trí trong Bắt sấu rừng U Minh, Con heo khịt, Cọp Gò
người đọc.
Truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc đưa ta về với vùng đất Nam Bộ
với không gian thiên nhiên hoang sơ đầy thách thức nhưng cũng trù phú, phong nhiêu.
Trong nhiều truyện ngắn của mình, hai nhà văn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc đã
làm sống lại quá khứ phương Nam vài trăm năm về trước, từ chuyện khẩn hoang đến
những thuận lợi và khó khăn của thiên nhiên nơi đây. Từ những câu chuyện đó, hai
nhà văn đã phần nào tái hiện được cuộc khẩn hoang quyết liệt, cam go, phức tạp
nhưng cũng đầy tự hào trong buổi đầu mang gươm đi mở cõi.
Người dân nơi đây đã sớm hình thành một lối ứng xử thích hợp với không gian sông
nước đầy kênh rạch với hai mùa mưa nắng. Do sống gần gũi với thiên nhiên và nương tựa
nhiều vào thiên nhiên, người dân Nam Bộ thường hòa đồng với cây cỏ, muôn thú. Họ cất
nhà gần sông nước, chòi lá tạm bợ, không có rào dậu. Họ thường ăn những thức ăn, rau cỏ có
sẵn trong thiên nhiên. Muông thú khá nhiều, có th ăn cá, ăn rùa quanh năm suốt tháng đ
thay cơm.
Đọc truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc, chúng ta chứng kiến nhiều cuộc
chung đụng văn hóa của lưu dân Việt với các tộc người đã sống từ lâu đời nơi đây. Đó
là cuộc giao lưu có những giọt nước mắt nhưng cũng có cả nụ cười với dân tộc Chăm
trong Bà Mọi hú, Cô Hời bán thuốc…của Bình Nguyên Lộc. Trong khi Sơn Nam thì
thường miêu tả sự giao lưu, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai dân tộc Việt – Khmer. Văn hóa
Việt ở Nam Bộ đã bổ sung thêm nhiều yếu tố Khmer trên các lĩnh vực: trang phục,
ngôn ngữ, hành động, lối sống… (Chuyện con mèo, Hát bội giữa rừng…). Cả hai nhà
văn đều có nhiều tác phẩm viết về người Hoa. Những lưu dân người Hoa đã có mặt ở
Nam Bộ khá sớm và góp phần không nhỏ vào nền kinh tế công – thương ở đây (Ông
Bang cà Ròn, Nước Tàu muôn thuở, Lò chén Chòm Sao…).
Ngoài ra, người Việt Nam Bộ còn còn ảnh hưởng sâu sắc văn hóa phương Tây.
Sơn Nam thường viết về người Pháp (Tây đầu đỏ, Sông Gành Hào…) trong khi Bình
Nguyên Lộc thường viết về nền văn hóa Mỹ (Xe lửa Mỹ bung vành, Săn cọp Đồng
Nai…). Văn hóa phương Tây cũng đã đ lại dấu ấn sâu đậm trong văn hóa Nam Bộ.
11
Trong truyện ngắn Sơn Nam, ta thấy người Việt không chỉ giao lưu với các dân
tạo được cảm tình của đồng bào cả nước. Hơn nữa, nó còn góp phần làm cho miền
Nam có nền kinh tế năng động nhất cả nước. Bởi vậy, truyện ngắn của Sơn Nam và
Bình Nguyên Lộc, không chỉ giúp người đọc thưởng thức văn chương mà còn làm cho
người đọc thấy được bản sắc văn hóa của vùng đất Nam Bộ và vai trò, tiềm năng của
vùng đất này trong vấn đề hội nhập quốc tế hiện nay./.
12