thơ nguyễn duy từ góc nhìn văn hóa - Pdf 24

B GIO D C V O T O
I H C HU
TR NG I H C S PH M
TRệN THậ L MINH
TH NGUYN DUY
Tặè GOẽC NHầN VN HOẽA
Chuyón ngaỡnh : LYẽ LUN VN HOĩC
Maợ sọỳ : 60 22 32
LU N V N TH C S NG V N

NGặèI HặẽNG DN KHOA HOĩC
PGS.TS. TRệN THAẽI HOĩC
Hu , N m 2013
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các
số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các
đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất
một công trình nào khác.
Huế, tháng 09 năm 2013
Tác giả
Trần Thị Lệ Minh
ii
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện
luận văn tác giả luôn nhận được sự chỉ bảo, động viên và
tạo điều kiện giúp đỡ Ban Giám Hiệu Trường THPT Số 1
Quảng Trạch và các thầy giáo, cô giáo, đồng nghiệp.
Xin trân trọng cảm ơn:
Khoa Ngữ Văn, Phòng Đào tạo Sau đại học, Trường
Đại học Sư phạm Huế, Đại học Huế;
- Các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy và giúp đỡ tôi

KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 15
1.1. Không gian thiên nhiên làng quê 15
1.1.1. Hình ảnh cây tre Việt Nam 15
1.1.2. Hình ảnh ánh trăng gắn với kí ức, kỉ niệm của con người 18
1.1.3. Hình ảnh mảnh đất quê hương- nơi cội nguồn của sự sống 21
1.2. Không gian văn hóa sinh hoạt làng quê 24
1.2.1. Văn hóa lễ hội 24
1.2.2. Văn hóa sinh hoạt, phong tục tập quán 30
1.2.2.1. Phong tục tập quán quê hương 30
1.2.2.2. Cuộc sống sinh hoạt làng quê 35
CHƯƠNG 2 40
DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG THƠ NGUYỄN DUY NHÌN TỪ 40
HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT 40
2.1. Hình tượng con người trong thơ Nguyễn Duy 40
2.1.1. Con người cần cù, chịu thương chịu khó 40
2.1.2. Con người lạc quan, yêu đời 46
2.1.3. Con người thủy chung, tình nghĩa 49
2.2. Hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Duy 55
2.2.1. Cái tôi hồn quê truyền thống 55
2.2.2. Cái tôi hồn phố hiện đại 60
CHƯƠNG 3 64
DẤU ẤN VĂN HÓA TRONG THƠ NGUYỄN DUY NHÌN TỪ 64
PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN 64
3.1. Sự kế thừa và cách tân thể thơ lục bát truyền thống 64
3.1. Bảng thống kê thể thơ trong một số tập thơ của Nguyễn Duy 65
3.1.1. Sự kế thừa 65
1
3.1.2. Sự cách tân 69
3.2. Ngôn ngữ trong thơ Nguyễn Duy 76
3.2.1. Ngôn ngữ đời thường giản dị, tự nhiên 76

rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt nam. Từ đó Nguyễn Duy đã xuất bản nhiều tập thơ
sáng giá trong tiến trình thơ Việt Nam: Cát trắng (1973), Ánh trăng (1984), Mẹ và
em (1987), Đường xa (1989), Về (1994),…Có thể nói, ông đã có những đóng góp
quan trọng cho nền thơ Việt Nam. Những vần thơ của ông tác động mạnh đến trái
tim người đọc, góp phần xây dựng trong tâm hồn người Việt hiện đại tình cảm yêu
mến, quý trọng, nâng niu, gìn giữ bản sắc của dân tộc mình. Trong tình hình xã hội
hiện nay, khi thơ ca Việt Nam luôn phải vận động trong ánh sáng nhập nhòa giữa cũ
và mới, thơ Nguyễn Duy đã có những đóng góp tích cực cho việc giữ gìn và phát
huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
1.3. Trong nhà trường phổ thông hiện nay, việc khám phá đánh giá tác phẩm,
nhìn nhận thành công của nhà thơ từ góc nhìn văn hóa còn mới mẻ. Thơ của
Nguyễn Duy đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường ở bậc phổ thông, đã được
nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá, được công chúng yêu thơ đọc và
bình phẩm. Song phần lớn sự nghiên cứu đó chỉ mới ở mức độ xem xét giá trị hiện
thực, chỉ tập trung khai thác những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật mà chưa
chú ý nhiều đến yếu tố văn hóa thể hiện trong tác phẩm.
3
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Thơ Nguyễn Duy từ góc nhìn văn hóa có một
ý nghĩa thực tiễn quan trọng: Tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa và văn học trong
thơ Nguyễn Duy giúp ta hiểu thêm vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, lịch sử, văn
hóa Việt. Từ đó, góp thêm một cái nhìn khái quát về sự nghiệp thơ ca của nhà thơ
Nguyễn Duy. Thấy được sự đóng góp và vị thế của Nguyễn Duy trong nguồn mạch
phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại. Đặc biệt vận dụng vào việc giảng dạy thơ
Nguyễn Duy ở nhà trường phổ thông: hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức văn
hóa được kết tinh trong tác phẩm văn học, chú ý đến yếu tố văn hóa trong văn học.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Vấn đề mối quan hệ văn hóa – văn học, có nhiều nhà nghiên cứu cả
trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã quan tâm đề cập tới. Có thể kể đến những
công trình sau:
Lê Nin trong Bàn về văn học và nghệ thuật, đã yêu cầu văn nghệ mới của

sáng tạo ấy thể hiện rõ nhất trên bốn phương diện: 1/ Lấy việc sáng tạo, biểu hiện con
người làm đối tượng trung tâm, văn học trước hết phát huy vai trò sáng tạo những mô
hình nhân cách; 2/ Văn học có vai trò “phê phán văn hóa”; 3/ Văn học có vai trò lựa
chọn văn hóa; 4/ Văn học có vai trò sáng tạo văn hóa [75, tr.891-892-893-894].
Đỗ Thị Minh Thúy trong Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học cho rằng:
‘‘Đặt văn học trong văn hóa tức là nhấn mạnh sự tác động tổng thể của văn hóa tới
văn học, như vậy các nhân tố xã hội, kinh tế, chính trị…tác động tới toàn bộ văn
hóa nói chung, thông qua văn hóa mới tác động đến văn học, ở quan hệ đặc biệt
này, văn học trở thành một trong những tiêu điểm của văn hóa, đóng vai trò nhân
tố đại diện cho văn hóa’’ [90, tr.239].
Phan Trọng Thưởng trong bài báo Văn hóa – văn nghệ, cho rằng: “Văn học
là một thành tố chính của văn hóa (…) gắn bó hữu cơ với văn hóa (…); sáng tạo
văn học cũng có nghĩa là sáng tạo văn hóa. Văn học luôn được xem là công cụ
chuyển tải văn hóa, là phương tiện lưu giữ các giá trị văn hóa” [88, tr.76].
Trường Lưu trong Văn học trong hành trình văn hóa, khẳng định: “Sáng
tạo của lĩnh vực nghệ thuật nào cũng là một khâu trong toàn bộ đời sống văn hóa,
nhưng nghệ thuật văn chương bao giờ cũng được xem như một lĩnh vực đặc biệt
của nghệ thuật nói chung” [46, tr.34].
5
Phan Ngọc trong bài viết Về mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, đã so
sánh mối quan hệ văn học – văn hóa của một số nước trên thế giới và đưa ra ý kiến:
“là người Việt Nam trong đó văn hóa thể hiện trước hết ở văn học” [53, tr.12].
Đỗ Lai Thúy trong Từ cái nhìn văn hóa, đã tiến một bước gần hơn với thực
tiễn nghiên cứu khi nhìn nhận, đánh giá một số tác phẩm văn học cũng như phong
cách của một số nhà văn từ góc nhìn văn hóa [89].
Đặng Minh Hằng trong Những vấn đề lí luận và lịch sử văn học khẳng
định: “Văn hóa góp phần tạo nên lịch sử dân tộc. Văn hóa vật chất và văn hóa tinh
thần của dân tộc, tức là đời sống và mọi mặt của dân tộc ấy thì lại đều được phản
ánh trong văn học, và mặt khác, văn học đã góp phần tạo dựng nên nền văn hóa
dân tộc và là tấm gương phản ánh nền văn hóa đó” [58, tr.693].

phim quay chậm” về nỗi gian truân của người bà, khiến độc giả “chỉ đọc thôi đã
muốn trào nước mắt” [73, tr.14]; Đỗ Lai Thúy thì cho là sự “giải cổ tích hóa”, là
“cốt cách hiện đại” [89, tr.379-384]. Trong Ánh trăng, Nguyễn Bùi Vợi đã cảm “nỗi
ăn năn nhân bản, thức tỉnh tâm linh, làm đẹp con người” [67, tr.162]. Ngồi buồn
nhớ mẹ ta xưa, Đặng Hiển cho là “đã động thấu đến những tình cảm thiêng liêng
nhất, sâu xa nhất và thân thương nhất của chúng ta - tình cảm đối với mẹ” [36,
tr.34]. Còn Lê Trí Viễn khi nói về bài Tre Việt Nam đã khẳng định đó là những biểu
hiện của “phẩm chất con người” [96, tr.289].
Tập thơ của Nguyễn Duy được nhiều nhà phê bình chú ý là Ánh trăng- tác
phẩm được nhận giải thưởng của Hội Nhà Văn 1984. Nếu như Lê Quang Trang chú
ý đến sự thống nhất giữa những yếu tố đối lập và sở trường thơ lục bát thì Từ Sơn
lại tâm đắc với chất hiện thực, chất dân tộc và những cảm xúc nồng nàn. Nhận xét
về nội dung tập thơ, Từ Sơn viết: “Ánh trăng chiếm số lượng lớn vẫn là những bài
thơ viết về người lính, về những điều đã cảm nhận trên các nẻo đường chiến tranh”
[74, tr.2]. Cùng ý kiến đó, Lê Quang Hưng đã đưa ra một cái nhìn tổng quát về tập
thơ Ánh trăng: “Ánh trăng trước tiên vẫn là tiếng nói của một người lính, tiếng nói
tìm đến những người lính – những đồng đội để sẻ chia, trò chuyện…Đúng như
Nguyễn Duy tâm sự: anh luôn cảm thấy mình mắc nợ cuộc sống, mắc nợ những
đồng đội…” [40, tr.156]. Trên cơ sở đó, Lê Quang Hưng chỉ ra sức hấp dẫn của tập
thơ: “Ánh trăng được nhiều bạn đọc yêu thích trước hết vì nó thực sự là một phần
của một cuộc đời, là tiếng nói của một cây bút có trách nhiệm trước cuộc sống xây
dựng và chiến đấu sôi động trên đất nước ta những năm qua” [40, tr.158]. Đến với
thơ Nguyễn Duy, nếu như Lại Nguyên Ân tập trung tìm hiểu sự cách tân thể loại và
7
giọng điệu thì Lê Quang Hưng lại đối sánh Ánh trăng với các tập thơ trước đó của
ông để khẳng định đây là “một bước tiến dài” [92, tr.198- 212]. Nhà thơ Tế Hanh
cũng có nhận xét khi đọc tập thơ Ánh trăng: “Đọc thơ Nguyễn Duy trước hết ta thấy
anh là một người lính đã chiến đấu ở nhiều mặt trận. Hiện nay anh không phải là
quân nhân nhưng những câu thơ anh viết về bộ đội, về cuộc đời quân nhân vẫn là
những câu thơ thấm thía nhất” [33, tr.3].

hỉnh, dân dã, sâu sắc hơi chua cay chút chút, Duy quả là thiện nghệ trong cái trò
“6&8” này” [41, tr.204]. Và nếu năm 1986, Lại Nguyên Ân còn e dè khi cho rằng:
“Ngay cả những bài lục bát, ta cũng thấy có cái gì bên trong như muốn cãi lại vẻ êm
nhẹ mượt mà vốn có của câu hát ru truyền thống” [2, tr.11] thì đến năm 1999, Vũ
Văn Sỹ đã mạnh mẽ khẳng định: “Nguyễn Duy đã sử dụng lục bát để thuần hoá
chất liệu cập nhật của đời sống. Lục bát trong tay Nguyễn Duy trở nên vừa êm ái
vừa ngang ngạnh, vừa quen thuộc vừa biến hoá, “cựa quậy”. Làm thơ lục bát đến
như Nguyễn Duy có thể xếp vào bậc tài tình” [77, tr.74]. Trần Đăng Khoa cũng đã
chỉ ra sự đổi mới của Nguyễn Duy: “Câu thơ vừa phóng túng ngang tàng lại vừa
uyển chuyển, chặt chẽ với một bút pháp khá điêu luyện. Nguyễn Duy là người có
công trong việc làm mới thể thơ truyền thống này” [43]. Có thể thấy, mỗi tác giả
đánh giá thơ lục bát của Nguyễn Duy ở một khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung
các ý kiến này đều thống nhất cho rằng thơ lục bát Nguyễn Duy thực sự có vị trí cao
so với các sáng tác lục bát đương thời.
Ngôn ngữ - vốn là một phương diện rất quan trọng trong việc tìm hiểu nghệ
thuật thơ Nguyễn Duy nhưng lại chưa có sự thống nhất cao. Theo Nguyễn Quang
Sáng: “Thơ Nguyễn Duy đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian”
[68, tr.96], Phạm Thu Yến lại có ý kiến khác: thơ Nguyễn Duy là sự kết hợp giữa
“ngôn ngữ đời thường” và ngôn ngữ “đậm màu sắc hiện đại” [100, tr.79]. Còn với
Vương Trí Nhàn, thơ Nguyễn Duy là “bản hợp xướng của những chữ lạ” [56,
tr.283]. Hồ Văn Hải thì khẳng định: “Sáng tạo từ láy là điểm nổi bật nhất trong lục
bát Nguyễn Duy” [30, tr.6 ].
Phương diện giọng điệu, nhìn chung có nhiều ý kiến chưa thống nhất, đặc
biệt là “nụ cười khúc khích”, “sắc giọng thủng thẳng, hơi ngang ngạnh và ương
bướng”, chất “ngang tàng”, “tếu táo”, “bụi” trong thơ Nguyễn Duy từ những năm
tám mươi đến nay. Lại Nguyên Ân tập trung tìm hiểu sự cách tân giọng điệu trong
9
thơ Nguyễn Duy: “Thật ra thơ Nguyễn Duy nhìn chung vẫn nằm trong điệu trữ
tình Thơ Nguyễn Duy gần đây thường có thêm sắc giọng thủng thẳng, hơi ngang
ngạnh và ương bướng”. Với Lại Nguyên Ân, giọng điệu đó làm cho thơ tình “bớt đi

- Trong phạm vi của một đề tài luận văn, chúng tôi giới hạn khảo sát những
tác phẩm thơ của Nguyễn Duy đã được in ở trong các tập thơ: Cát trắng (1973),
Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987), Đường xa (1989), Về (1994), Bụi (1997).
- Ngoài ra, để có cơ sở đối sánh, chúng tôi còn nghiên cứu tác phẩm của các
nhà thơ khác. Qua đó thấy được nét tương đồng và đóng góp riêng của Nguyễn Duy.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp chủ
yếu sau đây:
4.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp
Với phương pháp này, chúng tôi vận dụng để có cách nhìn, cách đánh giá
vừa cụ thể, vừa khái quát những tầng nghĩa tiềm tàng của văn bản tác phẩm.
4.2. Phương pháp cấu trúc- hệ thống
Sử dụng phương pháp này để xem xét những bình diện, những yếu tố và
những biểu hiện của mối quan hệ văn hóa- văn học được vạch ra bên trong hệ thống
những luận điểm, luận cứ.
4.3. Phương pháp so sánh
So sánh thơ Nguyễn Duy với một số tác giả khác để thấy dấu ấn văn hóa nổi
bật trong thơ Nguyễn Duy. Từ đó khẳng định giá trị của yếu tố văn hoá độc đáo đặc
sắc trong thơ ông.
11
4.4. Phương pháp điều tra phân loại
Văn hóa là khái niệm rộng và biểu hiện sinh động, đa dạng trong đời sống
con người. Chúng tôi sử dụng phương pháp này để tìm hiểu những yếu tố văn hóa
được thể hiện qua tác phẩm để từ đó rút ra những nhận xét thỏa đáng.
4.5. Phương pháp liên ngành
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để soi chiếu thơ Nguyễn Duy ở nhiều
góc độ và tìm ra những nét nổi bật nhất trong mối quan hệ văn hóa – văn học.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
5.1. Luận văn chúng tôi là một công trình nghiên cứu có hệ thống về mối
quan hệ giữa văn hóa và văn học thông qua thơ của Nguyễn Duy. Tìm hiểu dấu ấn

nhiên và xã hội” [82, tr.10].
Văn hóa là cơ sở, nền tảng cho văn học ra đời và phát triển. Văn học nghệ
thuật là bộ phận cấu thành và rất quan trọng của văn hóa. Thực tiễn cuộc sống và
nền văn hóa dân tộc là mảnh đất màu mỡ làm nảy sinh và nuôi dưỡng văn học nghệ
thuật. Hiện thực đời sống - nơi tiềm tàng những giá trị văn hóa vô cùng phong phú,
luôn tác động tới nhận thức, tư tưởng nhà văn. Nói cách khác, nhà văn kiếm tìm giá
trị văn hóa từ hiện thực cuộc sống để tái hiện, tái tạo trong tác phẩm văn chương
theo phong cách riêng. Như vậy, một tác phẩm văn học ra đời là kết quả của sự
khúc xạ, chưng cất các giá trị văn hóa. Khi nói tới văn hóa của một dân tộc, người
ta không thể không nghĩ ngay đến nền văn học của dân tộc đó, bởi “văn học là một
bộ phận không thể tách rời khỏi văn hóa”.
Văn học phản ánh, lưu giữ và sáng tạo văn hóa. Thực tế cho thấy, văn học
của bất kì dân tộc nào cũng đều phản ánh và lưu giữ văn hóa dân tộc đó. Văn học
như là tấm gương phản chiếu đời sống xã hội và văn hóa dân tộc. Không chỉ phản
ánh văn hóa, văn học còn là sự hội tụ kết tinh các nguồn văn hóa. Văn học, thông
qua bạn đọc góp phần cải tạo, thúc đẩy văn hóa phát triển. Văn học còn có vai trò
sáng tạo văn hóa, làm phong phú gấp bội những tinh hoa văn hóa vốn có. Văn học
nơi chứa đựng những tư tưởng văn hóa, những nhận thức thẩm mỹ về muôn mặt của
13
đời sống con người của nhà văn. Có thể nói, đằng sau những nhà văn lớn là cả một
nền văn hóa của nhiều thế kỷ. Văn học là một bộ phận của văn hóa, nó chịu sự chi
phối mang tính quyết định của văn hóa.
Như vậy, văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với văn hóa. Có thể nói nhà
văn đích thực là một nhà hoạt động văn hóa, tác phẩm văn học là một sản phẩm văn
hóa và người đọc là một người hưởng thụ văn hóa. Văn hoá là nền tảng tinh thần
của xã hội và sáng tạo văn học nghệ thuật là bộ phận quan trọng, nòng cốt của văn
hoá. Nó có khả năng truyền cảm mạnh mẽ và có sức sống lâu bền khi biết đi sâu
vào tư tưởng đạo đức, đời sống bên trong của con người.
Có thể nói, phương diện văn hoá trong văn học ngày càng được quan tâm bởi
giữa văn hoá và văn học có mối liên hệ mật thiết. Văn học phản ánh đời sống, thực

thuần miêu tả vẻ đẹp bên ngoài của thiên nhiên. Ông trải lòng mình với cảnh vật,
soi chiếu thiên nhiên từ nhiều hoàn cảnh, nhiều chiều kích khác nhau, từ đó mang
đến những ý nghĩa mới mẻ cho những hình ảnh vốn quen thuộc, mở ra cho người
đọc những liên tưởng mới mẻ đầy thú vị. Có thể nói, nền văn hóa Việt Nam với đặc
trưng lớn nhất là văn hóa nông nghiệp đã được Nguyễn Duy phản ánh thông qua
những bức tranh thiên nhiên bằng thơ. Bởi vậy, tiếng thơ Nguyễn Duy đã đưa tâm
hồn người đọc trở về với những giá trị văn hóa đã tỏa bóng hàng ngàn năm trong
tâm hồn dân tộc.
1.1.1. Hình ảnh cây tre Việt Nam
Bức tranh thanh bình của làng quê Việt Nam luôn gắn với những hình ảnh
đặc trưng mang đậm sắc thái dân tộc: mái đình, cây đa, cánh cò, sáo diều, con trâu,
luỹ tre Từ bao đời nay, cây tre đã có mặt hầu khắp các nẻo đường đất nước và gắn
bó máu thịt thủy chung với cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đặc biệt trong tâm thức
người Việt, cây tre trở thành hình ảnh thiêng liêng chiếm vị trí sâu sắc và lâu bền,
15
có sự cộng sinh cộng cảm hơn cả. Cây tre là nét đặc sắc nhất của Làng xã. Lũy tre
mang tính biểu tượng cho tinh thần tự trị, tự quản của làng. Luỹ tre trở thành thành
luỹ kiên cố của làng bất khả xâm phạm “đốt không cháy, trèo không được, đào
không qua”. Bao đời nay, lũy tre làng vẫn tồn tại như một biểu tượng của văn hóa
làng. Cùng với việc bảo vệ chống tai hoạ đến từ bên ngoài, luỹ tre còn là một thứ
ranh giới thiêng liêng của cộng đồng làng xã, một cách biểu thị sự độc lập và bảo vệ
tính riêng biệt độc đáo của làng…Chính vì vậy, hình ảnh lũy tre luôn có một vị trí
nhất định trong đời sống tâm hồn của người dân đất Việt.
Cũng chọn cây tre làm đối tượng phản ánh, Nguyễn Duy đã khai thác và
miêu tả theo cách riêng của mình. Cây Tre Việt Nam trong thi tưởng Nguyễn
Duy biểu tượng cho khí phách con người Việt được chắt lọc, kết tinh trong suốt
chiều dài lịch sử. Đây là một phát hiện độc đáo, một đặc trưng nghệ thuật của
Nguyễn Duy và đã để lại cho người đọc những ấn tượng sâu sắc. Không kiêu hãnh
như tùng bách, không kiêu sa như các loài hoa hương sắc, loài tre mộc mạc, bình dị
mà có sức sống mãnh liệt: “Thân gầy guộc, lá mong manh/Mà sao nên luỹ nên

nhất là tre để lại “cái gốc” cho con, cũng như ý thức về tạo dựng, giữ gìn phát huy
những truyền thống tốt đẹp đã được các thế hệ người Việt Nam vun đắp và truyền
thừa, làm nên sức mạnh dân tộc. Cũng vì thế mà dân tộc Việt Nam luôn kiên cường
chiến thắng, không khuất phục trước kẻ thù ngoại xâm, vượt qua mọi thử thách với
ý chí tự chủ tự lực, tự cường, như loài tre “Không đứng khuất mình bóng râm”,
“Đâu chịu mọc cong”, từ khi sinh ra đã vươn thẳng và “nhọn như chông lạ
thường”. Phải chăng đó là một huyền thoại mà nhà thơ Nguyễn Duy đang kể với
chúng ta. Huyền thoại về cây tre Việt Nam và cũng là huyền thoại về sức sống của
con người Việt Nam từ ngày xửa ngày xưa cho đến hôm nay và mãi mãi về sau.
Cây tre trong thơ Nguyễn Duy vì vậy đã trở thành hình ảnh biểu tượng đẹp về khí
phách kiên cường, bất khuất của người Việt Nam.
Cùng viết về cây tre làng thân thuộc, nhưng nhà thơ Nguyễn Bính lại có một
cách cảm nhận khác với Nguyễn Duy. Trong thơ Nguyễn Bính, lũy tre làng - đó là
nơi gội mát, nuôi dưỡng tâm hồn con người: “Còn nhớ năm xưa đuổi bướm
vàng/Mải vui quên cả nắng chang chang/Tuổi thơ ngây sống trong như
mộng/Trong lũy tre xanh: Giới hạn làng” (Sống lại). Ông đã cảm nhận được từ lũy
tre một vẻ đẹp thanh khiết, một sự bình yên thanh thoát như nếp sống tự ngàn xưa
của chốn làng quê Việt Nam. Như một nguồn sữa của quê hương, lũy tre đã tiếp sức
cho tâm hồn và vẻ đẹp của làng quê, tạo nên sức sống của làng quê thanh bình và
17
thi vị: “Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy /Bắt đầu là cái thắt lưng xanh” (Mùa xuân
xanh). Dẫu được nhìn với cảm quan của người nghệ sĩ lãng mạn giai đoạn 1932-
1945 nhưng hình ảnh lũy tre trong thơ Nguyễn Bính còn mang dấu ấn văn hóa làng
xã dưới ý nghĩa của tính tự trị. Trong khi Nguyễn Duy lại tập trung chú ý về tính
cộng đồng của người Việt từ hình ảnh cây tre. Như vậy, nếu hình ảnh cây tre trong
thơ Nguyễn Bính giúp ta cảm nhận cái đẹp ở cảnh sắc, ở cuộc sống thanh bình chân
chất mộc mạc ở làng quê thì cây tre xuất hiện trong thơ Nguyễn Duy giúp ta hiểu
thêm về khí phách sức sống con người Việt Nam.
1.1.2. Hình ảnh ánh trăng gắn với kí ức, kỉ niệm của con người
Cuộc sống của con người nông nghiệp luôn gắn bó mật thiết với thiên nhiên,

ánh trăng lai láng trên cánh đồng, dòng sông, bãi biển. Trong sự cộng sinh chan hòa
ấy, con người tự nhận xét mình “hồn nhiên như cây cỏ” giữa mẹ tự nhiên, như là
một bộ phận của Tự nhiên.
Trong cảm quan của người nghệ sĩ Nguyễn Duy, thiên nhiên không chỉ là
người bạn cùng chia sẽ buồn vui mà còn là chỗ dựa nâng đỡ tinh thần con người.
Vẻ đẹp của thiên nhiên có khả năng vẫy gọi thiên lương con người. Khi con người
đến với thiên nhiên cũng là thời khắc con người nghiệm ra những bài học của cuộc
sống, về tình người, về đạo đức, về lẽ phải, tìm lại nghĩa tình muôn đời của người
Việt. Bởi vậy, ánh trăng, với lí tính khách quan của nó - là mang đến ánh sáng mát
mẻ huyền diệu cho con người và cuộc đời, khi bước vào địa hạt thơ ca Nguyễn Duy
đã mang tính biểu tượng cho nguồn sáng thanh lọc tâm hồn con người.
Sự ồn ã của phố phường, những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật
chất thường nhật khác đã lôi kéo con người ra khỏi những giá trị tinh thần truyền
thống. Một phần vô tâm đã lấn át lí trí của con người, khiến họ trở thành kẻ quay
lưng với quá khứ. Con người ta khi được sống đầy đủ về mặt vật chất thì thường
hay quên đi những giá trị tinh thần, quên đi cái nền tảng cơ bản của cuộc sống, đó
chính là tình cảm con người. Người lính trong Ánh trăng cũng vậy. Người lính đã
quên đi những năm tháng tưởng chừng không thể nào quên. Đó là những ngày
tháng gian khổ, những năm tháng chiến tranh ác liệt nhưng chan chứa nghĩa tình.
Con người từng một thời chiến đấu, từng ngang dọc trên nhiều chiến trường đã vô
tình lãng quên quá khứ.
Có thể nói, với mỗi chúng ta vầng trăng là một vật thể bình thường mà thiên
nhiên, đất trời ban tặng- nguồn sáng trong đêm. Nhưng với Nguyễn Duy, vầng trăng
19
không những là hình ảnh của quê hương mà nó còn là một quan toà lương tâm trong
tận sâu thẳm tâm hồn nhà thơ. Ánh trăng làm thức tỉnh con người. Tình huống gặp
lại trăng là bước ngoặt tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ trong tình cảm và suy nghĩ
của người lính với vầng trăng: “Vội bật tung cửa sổ/Đột ngột vầng trăng tròn”.
Vầng trăng đến đột ngột đã làm sáng lên cái góc tối ở con người, đánh thức sự ngủ
quên trong điều kiện sống của con người đã hoàn toàn đổi khác. Ánh trăng soi rọi

cho cuộc sống đẹp hơn gấp nhiều lần. Đó có lẽ là thông điệp mà ta có thể nhận ra
đằng sau những vần thơ về thiên nhiên của Nguyễn Duy. Điều đó cũng lí giải vì sao
những dòng viết về thiên nhiên trong thơ Nguyễn Duy là những dòng trĩu nặng tình
cảm ưu ái dành cho thiên nhiên.
1.1.3. Hình ảnh mảnh đất quê hương- nơi cội nguồn của sự sống
Đọc thơ Nguyễn Duy, người yêu thơ nhận ra chất quê mặn mà, đằm thắm
trong những hình ảnh quen thuộc. Trước Nguyễn Duy, đã bao người làm thơ về đất.
Hình ảnh đất xuất hiện trong thơ ca có lẽ vì chất thô mộc giản dị của cuộc sống đời
thường mà nó tạo ra. Nhưng trong thơ Nguyễn Duy, gắn với không gian thiên nhiên
làng quê hình ảnh đất đã xuất hiện với tần số cao và có giá trị, ý nghĩa mang tính
biểu tượng. Chính chất thô mộc, giản dị, gần gũi với cuộc sống của người dân quê
mà hình ảnh đất đã tạo nên một nét riêng trong thơ Nguyễn Duy, thể hiện phong
cách của nhà thơ.
Xuất phát từ nét nghĩa gốc, đất là chất rắn làm thành líp trên cùng của bề mặt
trái đất, hình ảnh đất trong thơ Nguyễn Duy đem đến cho người đọc những cảm
nhận mới mẻ. Đó là thế giới của sự thân quen bình dị, của sự tĩnh tại bất biến. Ở đó,
những giá trị tinh thần đã được ngưng kết lại, trường tồn cùng với thời gian. Trong
thơ Nguyễn Duy, đất là nơi qui tụ những vẻ đẹp đơn sơ mà kỳ diệu của thiên nhiên,
cuộc sống con người. Khi viết về thiên nhiên, ông thường quan tâm đến cây tre, cây
sim, hoa lau, hoa lúa. Những loài cây, loài hoa mọc lên từ những miền đất khô cằn
khô cằn với vẻ đẹp không phô ra rực rỡ mà ẩn chìm trong sắc tím, trong thân gầy
guộc lá mong manh. Nguyễn Duy đã phát hiện đằng sau màu xanh vĩnh cửu
của luỹ tre, sắc tím của hoa và vị thơm mọng của quả sim đều bắt nguồn từ sự chắt
chiu màu mỡ ở những mảnh đất khô cằn. Một dòng nước xanh tuôn lặng lẽ dưới hố
bom sâu kia với Nguyễn Duy là biểu hiện của: “Đau thương mấy vẫn ngọt lành bên
trong” của đất mẹ (Đất đỏ nước xanh). Màu đất của con đường vắt ngang cánh
rừng Hướng Hoá như “cái đầu trọc lóc” vì bị bom dội trong mắt Nguyễn Duy là
“màu đỏ rực vắt ngang mây” (Con đường qua Bến Mới). Nguyễn Duy thấy trong
21
đất là hình ảnh của một nguồn sống dồi dào mãnh liệt:“Đất tân sinh ngỡ ngọt

dân tộc là lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm, bởi vậy “trang sử đất” là
22

Trích đoạn Không gian văn hóa sinh hoạt lăng quí Văn hóa sinh hoạt, phong tục tập quân Con người cần cù, chịu thương chịu khó Con người lạc quan, yíu đời Con người thủy chung, tình nghĩa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status