LUẬN VĂN:
Đi tìm bản sắc dân tộc trong
Chèo từ góc nhìn văn hóa
mở đầu
1. Tính cấp thiết của luận văn
Nghệ thuật Chèo đã hiện hữu trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam
không phải một, hai thế hệ mà là lớp lớp thế hệ; không phải một hai thế kỷ mà nhiều thế
kỷ; không phải một hai nơi mà khắp cả vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Nó là kết
tinh những vẻ đẹp tâm hồn của người lao động, là thành quả của trí tuệ dân gian, là công
trình sáng tạo nghệ thuật thẩm mỹ, là khát vọng về tự do, công bằng và lý tưởng nhân
văn hướng tới chân - thiện - mỹ.
bệnh trầm kha của ngành sân khấu nói chung và ngành Chèo nói riêng… Bởi vậy nên
việc tìm hiểu giá trị văn hóa tự thân của nghệ thuật Chèo thực sự trở nên cần thiết. Nó
có thể đánh giá lại (hoặc phát triển thêm) những giá trị văn hóa truyền thống để làm
điểm tựa tinh thần cho sự phát triển.
Trong sự vận động và phát triển không ngừng của xã hội, Chèo cần phải đổi
mới sáng tạo, nhưng để sáng tạo cách tân đạt được hiệu quả mong muốn thì ngoài việc
nhận thức đúng, quan điểm đúng, cần phải có một bản lĩnh văn hóa vững vàng. Là
người đã từng theo dõi thực tế nghệ thuật Chèo nhiều năm, lại đã từng thực hiện một
đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ về Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trên
sân khấu Chèo truyền thống, tôi nhận thấy rất rõ rằng, cần phải tiếp cận hiện tượng
Chèo từ góc nhìn văn hóa mới có khả năng đi sâu thấu hiểu, thâm nhập vào ý nghĩa
bên trong và các giá trị đích thực của đối tượng nghiên cứu (Chèo). Tìm hiểu các hiện
tượng cấu thành của Chèo như những chỉnh thể, đồng thời chỉ ra được mối quan hệ
nhân quả và các chức năng của hiện tượng văn hóa Chèo để từ cơ sở đó đi sâu vào
những tác nhân kích thích sự phát triển của nghệ thuật Chèo trong xã hội hiện đại. Bởi
thế, việc nghiên cứu nghệ thuật Chèo dưới góc nhìn văn hóa là một việc làm hết sức
cần thiết đến cấp thiết.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu của luận văn
2.1. Đề cập đến vấn đề nhân vật Chèo, tuy chưa có công trình nào chuyên sâu
nghiên cứu vấn đề này một cách có hệ thống và toàn diện, nhưng trong hầu hết các
công trình nghiên cứu của các giáo sư, các nhà nghiên cứu đầu ngành của làng Chèo
như: GS. Trần Bảng, PGS. Hà Văn Cầu, nhạc sĩ Hoàng Kiều, TS. Trần Đình Ngôn,
PGS. Trần Trí Trắc đều khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nhân vật Chèo.
2.2. Một số công trình nghiên cứu lý luận có giá trị về Chèo cũng đã có phần
nào đứng từ góc nhìn văn hóa. Đáng kể nhất là các công trình: "Chèo - một hiện tượng
sân khấu dân tộc" của GS. Trần Bảng. Dù là một tác phẩm nghiên cứu mang tính khái
luận về Chèo, về các vấn đề lý luận cơ bản của nghệ thuật Chèo, nhưng khi đề cập đến
vấn đề Chèo - tiếng nói tâm hồn dân tộc - ông cũng khẳng định:
Có thể nói rằng, thuộc về một loại sân khấu tổng thể (theatre total)
cả nước).
- Từ các thư tịch và chứng tích lịch sử liên quan đến sân khấu Chèo qua các
thời kỳ.
- Từ phim ảnh tư liệu (Nhà hát Chèo)
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chọn lựa việc hệ thống hóa, so sánh, đối chiếu làm phương pháp
nghiên cứu chủ yếu. Nhưng trên cơ sở thực tiễn của nghệ thuật Chèo truyền thống,
một nghệ thuật từ xa xưa, vốn là hình thức sân khấu được sáng tạo theo chu trình mở:
thế hệ này nối tiếp thế hệ kia và bổ sung, hoàn chỉnh để rồi lại làm cơ sở cho thế hệ
tiếp theo sáng tạo nên trong quá trình triển khai thực hiện, luận văn sẽ phải kết hợp
cả phương pháp nghiên cứu tiếp cận liên ngành (triết học, mỹ học, lịch sử, dân tộc học,
xã hội học ).
6. Mục đích và đóng góp của luận văn
Từ góc nhìn văn hóa, luận văn đi tìm hiểu một số phương diện cần thiết của
nhân vật Chèo, qua đó để thấy được bản sắc văn hóa tiềm ẩn trong nhân vật Chèo. Đây
thực sự là một vấn đề nghiên cứu vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Là
một vấn đề nghiên cứu rất hay nhưng khó, người viết không hy vọng trong phạm vi
một luận văn thạc sĩ có thể giải quyết được vấn đề ấy. Toàn bộ nội dung cơ bản của
luận văn mới chỉ bước đầu tiếp cận vẻ đẹp, sự độc đáo. dấu ấn văn hóa trong các nhân
vật Chèo truyền thống. Khám phá và cắt nghĩa thế giới văn hóa tinh thần kết tinh trong
các hình tượng nhân vật Chèo, khẳng định vị thế văn hóa của nghệ thuật Chèo trong
đời sống xã hội hiện đại, đưa ra nhận định rằng, Chèo chỉ có thể đạt đến những đỉnh
cao nghệ thuật, những thành tựu nghệ thuật rực rỡ trên cơ sở đạt đến một mặt bằng văn
hóa cao, đó là những nội dung mà tác giả luận văn cố gắng lý giải, chứng minh. Hơn
nữa, mỗi người sáng tạo đồng thời phải là một nhà văn hóa hoặc ít ra là phải đạt được
một vài tiêu chí văn hóa tối thiểu nào đó. ở đây chúng tôi cũng đưa ra một số giải pháp
nhằm góp phần gìn giữ bản sắc nghệ thuật Chèo - niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
nhân loại và cuối cùng bởi cảm quan của mỗi dân tộc về thế giới, cảm quan đó quyết định
mọi ứng xử của mỗi dân tộc. Tất cả các nền văn hóa, Việt Nam cũng như Trung Quốc hay
Pháp, Mỹ, Cuba… đều cho thấy một tổng thể các giá trị duy nhất và không thể thay thế
được, bởi vì chính là nhờ vào văn hóa mà mà mỗi dân tộc có thể biểu lộ một cách trọn
vẹn nhất sự hiện diện của mình trên thế giới. Từ đây có thể phát hiện ra tính cách dân
tộc, khám phá những đặc điểm về tâm lý, tình cảm, tâm thức dân tộc. Vấn đề bản lĩnh,
bản sắc mà chúng ta thường nhắc trong quá trình phát triển và hội nhập của mỗi quốc
gia không phải là vấn đề gì khác, xa lạ với vấn đề nhận thức đầy đủ các giá trị văn hóa
của mỗi dân tộc.
1.2. những đặc điểm của nền văn hóa việt nam
Giá trị văn hóa Việt Nam được hình thành bởi nhiều nhân tố xã hội, địa lý,
lịch sử, vừa đa dạng, vừa lâu dài trên mảnh đất mang hình chữ S.
1.2.1. Khát vọng hòa mình với thiên nhiên và ý thức độc lập dân tộc trong
quá trình tiếp biến văn hóa
Trước hết, bao trùm và thấm đượm trong toàn bộ nền văn hóa dân tộc Việt là
khát vọng chung sống hòa mình với thiên nhiên, khát vọng độc lập, đấu tranh chống
cường quyền đòi tự do, bình đẳng, dân chủ.
Nhìn từ góc địa lý, Việt Nam ở góc bán đảo Đông Nam á trông ra biển Đông
và Thái Bình Dương với trên 3.200 km bờ biển nằm trên các tuyến giao thông đường
biển. Địa thế Việt Nam nối tiếp giữa ba vùng núi - đồng bằng - bờ biển theo các triền
sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đồng thời ở thế "diện hải bối sơn" (mặt
trông ra biển, lưng dựa vào núi), tạo nên một hành lang Bắc - Nam tương đối hẹp.
Phương tiện đi lại phổ biến từ ngàn xưa là đường thủy. Sách Lĩnh Nam chích quái
chép rằng, người Việt cổ "lặn giỏi, bơi tài, thạo thủy chiến, giỏi dùng thuyền".
Khí hậu nhiệt đới gió mùa - nóng ẩm, mưa nhiều, đã từng tồn tại một thảm
thực vật tiền sử lớn Đông Nam á, tạo điều kiện cho một nền nông nghiệp nguyên thủy
từ rất sớm, dẫn đến nền nông nghiệp lúa nước. Tuy nhiên, đất đai canh tác hạn hẹp,
quanh năm chống chọi với thiên tai, bão tố, lụt lội và hạn hán.
năm đã thấm sâu vào mọi hoạt động của người dân Việt.
Thế giới văn hóa người Việt là thế giới của những gì xuất phát từ cuộc sống
thực để vươn lên cái cao cả, cái chí thượng; song cũng chỉ là để trở về với đời sống
thực tế vốn cần được cao đẹp hơn, nhân văn hơn. Khát vọng độc lập dân tộc còn chi
phối trong cả quan điểm tư tưởng của người Việt.
Phương thức tồn tại là lấy thực tiễn dân tộc làm cốt lõi, nền tảng
Từ góc độ tư tưởng, phương thức tồn tại và các biểu hiện văn hóa (kể cả văn
hiến, văn minh) Việt Nam là lấy thực tiễn dân tộc - cộng đồng làm cốt lõi, nền tảng.
ở vị trí ngã tư của các nền văn minh, người Việt Nam tiếp nhận nhiều giá trị
văn hóa nhân loại: tiếp thu văn hóa ấn Độ theo cách của mình, ta có nền văn hóa Chăm
độc đáo và một nền Phật giáo Việt Nam; tiếp thu văn hóa Trung Hoa ta có Nho giáo và
Đạo giáo mang sắc thái Việt Nam; tiếp thu văn hóa phương Tây, ta cũng có Kitô giáo
nhưng cùng với nó là những giá trị vật chất và tinh thần mới mẻ. Đặc trưng nổi bật
trong quá trình giao lưu văn hóa nhiều thế kỷ là tính tổng hợp - chung hợp - tích hợp.
Giai đoạn văn hóa chống Bắc thuộc đã mở đầu cho quá trình giao lưu tiếp
nhận văn hóa Trung Hoa, ấn Độ, cũng chính là mở đầu cho quá trình văn hóa Việt
Nam hội nhập vào văn hóa khu vực.
Trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất, nhân dân Giao Chỉ sống dưới ách đô hộ của
các triều đại phong kiến phương Bắc, những âm mưư đồng hóa mà các thái thú Tích
Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp trực tiếp mở trường dạy học để truyền bá văn hóa
Trung Hoa, thủ tiêu văn tự ngôn ngữ Việt. Thậm chí Mã Viện đem cả quân Mã Lưu
sang cũng khong những không thực hiện được nhiệm vụ đồng hóa người Việt và làm
chỗ dựa cho chính quyền, mà trái lại còn bị người Việt đồng hóa hoàn toàn.
Từ thế kỷ thứ II, người ấn Độ đã sang nước ta buôn bán và truyền giáo. "Luy Lâu
là trung tâm chính trị của chính quyền đô hộ phương Bắc trong nhiều thế kỷ Các nhà
buôn người ấn Độ và người Trung Hoa đến buôn bán ở đây rất sớm và theo sau họ là
các nhà sư đến hành đạo và truyền đạo" [25, tr. 28].
Phật giáo truyền từ ấn Độ song đã đi vào đời sống người Việt và trở thành
quốc giáo trong suốt bốn triều vua liên tiếp: Đinh, Lê, Lý, Trần.
cấm sát sinh". Hoặc có khi là những phạm trù khác nhau, thì những biện pháp khác
nhau đều nhằm đến cùng một mục đích. Cái khác nhau ấy không mâu thuẫn đối chọi
với nhau mà bổ sung hỗ trợ cho nhau: Nho giáo lo tổ chức xã hội sao cho quy củ;
Đạo giáo lo thể xác con người sao cho an khang; Phật giáo lo tâm linh con người sao
cho thoát khổ Tuy nhiên, vào Việt Nam, Tam giáo đồng nguyên không phải là
phép tính cộng mà thực chất là một sự sáng tạo, một sự lựa chọn hòa hợp của người
Việt nhằm phục vụ cho cuộc sống đấu tranh với thiên nhiên và với kẻ thù xâm lược.
Người Việt luôn luôn có khả năng tiếp thu và làm sáng hóa các tư tưởng ngoại
lai. Đúng nhu nhận xét của thiền sư Nguyễn Đăng Thục: "Sáng hóa hay Việt hóa tức là
đứng trước hai, ba hay nhiều trào lưu mâu thuẫn để gây ra xung đột nội bộ, nhân dân
Việt cùng với giới lãnh đạo biết vượt lên trên hình thức cố hữu để hợp hóa vào một
trào lưu mới, thích hợp cho ý chí sinh tồn của một dân tộc" [43, tr. 137].
Trong mối giao lưu đa phương, qua nhiều thế thế kỷ này, người Việt có dịp
tiếp xúc, chọn lọc tiếp thu những tinh hoa nghệ thuật ngoài vào, Việt hóa chúng trở
thành những tài sản nghệ thuật của dân tộc.
Nghệ thuật múa Rối nước, một trong những loại hình sân khấu lâu đời nhất
của nhân loại có thể đã theo chân những người ấn Độ và Trung Quốc du nhập vào
nước ta. Và người Việt vốn quen với sông nước đã sáng tạo ra nghệ thuật múa Rối
nước độc đáo của mình.
Nét hoa tay với những ngón đuổi nhau, cuộn vào và mở ra như cánh ha khép
mở cùng với sự chuyển động uyển chuyển, mềm mại của đôi cánh tay trong múa Chèo
phải chăng là sự biến dạng tài tình và độc đáo của đôi cánh tay và bàn tay trong múa
ấn Độ. Nhưng khác với múa Campuchia và múa Chăm, hoa tay của Việt Nam đã thoát
ra khỏi tính quy ước nghiêm ngặt của múa cổ điển ấn Độ trở nên thanh thoát, tự do.
GS. Trần Bảng đã kể lại rằng trong chuyến đi lưu diễn của Đoàn nghệ thuật Chèo sang
Trung Quốc năm 1960 mà ông làm Trưởng đoàn, báo chí đã nhanh chóng nhận ra tính
độc đáo của múa Chèo Việt Nam. Vương Văn Quyên, nghệ sĩ ưu tú của Đoàn kinh
kịch Thượng Hải đã gọi là đôi tay biết nói vì chúng có khả năng biểu hiện không
những tính cách nhân vật mà còn đủ các dạng khác nhau như trong các nhân vật Súy
ai có gà thì nhốt lại" và sau đó nói với quan: "Quan là quan quan quàn dân, con là dân
con dần quan"
ở thái độ đối với người phụ nữ, đề cao người phụ nữ với tràn ngập tình yêu
thương. Yêu thương con người, yêu thương cuộc sống. Trong lịch sử tồn tại đầy gian
nan, nghiệt ngã của mình, dân tộc Việt đã dùng tiếng cười để cân bằng sinh thái tâm
linh. Nét văn hóa lạc quan yêu đời đó luôn thường trực trong mỗi tâm hồn Việt. Trước
những bất công, phi lý, thiếu minh bạch của cuộc đời, tinh thần lạc quan mang yếu tố
dân chủ trong sự đấu tranh không khoan nhượng với những thói hư tật xấu ấy chẳng kể
vua, quan hay dân thường. Đó chính là ước vọng về một cuộc sống tốt đẹp, lý tưởng
mà người Việt hằng ao ước. Đó cũng chính là lòng bao dung với một cách xử thế mềm
mỏng, cương, nhu hài hòa trong tâm thức người Việt, trong tâm hồn Việt - một biểu
hiện thiên về nữ tính. Người phụ nữ Việt xưa chưa bao giờ có địa vị cá nhân đầy đủ,
nên cũng ít phát triển cá nhân chủ nghĩa cực đoan. Phụ nữ Việt vốn là con người của
trách nhiệm và bổn phận một cách tự giác. Có tinh thần trách nhiệm với tất cả mọi
người, với cả quá khứ, hiện tại lẫn tương lai. Họ thường tự coi mình là một khâu của
cả một dây chuyền, nếu không phải là hệ quả của kiếp luân hồi thì chí ít cũng có thừa
hưởng âm phúc của tổ tiên, cố tránh "ăn mặn" để con cháu sau này không phải "khát
nước" Từ đó có sự gắn bó trong gia đình, coi trọng chữ "hiếu thảo", chữ "thủy
chung", cũng từ đó mà có mối quan hệ khăng khít với gia đình, với bà con làng xóm.
Thước đo giao tiếp xã hội không phải chỉ là lý mà thiên về tình Khát vọng dân chủ
thể hiện rất rõ ở những nhân vật mà chế độ phong kiến gọi là "nghịch nữ". Một Thị
Mầu xuất hiện như một ngọn lửa rừng rực tình yêu, táo báo, thách thức, phá tan mọi
ràng buộc của lễ giáo phong kiến đi tìm quyền tự do yêu đương. Một Súy Vân giả dai
để thoát khỏi cảnh cô đơn lạnh lùng ở sân khấu Chèo. Bên cạnh đó những truyện
cười, truyện sử, những sáng tác của văn học dân gian (đặc biệt là tác phẩm Thiên nam
ngữ lục), các tích trò của múa Rối cũng lên tiếng khá mạnh mẽ đòi quyền tự do dân
chủ đến nỗi ở nhiều nơi chính quyền phong kiến phải sợ hãi ra lệnh cấm mà vẫn
không ngăn nổi.
Bên cạnh cái tình, người Việt còn coi trong cái nghĩa. Cái nghĩa của dân tộc
trường tồn tại của mình đã dần hình thành và bồi đắp cho mình những bản sắc riêng
ngay trong cái nôi chung văn hóa dân tộc. Nếu nghệ thuật Tuồng là khúc tráng ca của
những người anh hùng, là khí phách, là bản lĩnh của dân tộc, là cuộc sống triều
chính… thì nghệ thuật Chèo là tiếng cười hài hước châm biếm, đả kích , là nét văn
hóa, tâm hồn của cư dân nông nghiệp lúa nước làng quê Bắc Bộ. Chèo, Tuồng, hai mặt
của một biểu hiện của một đời sống tinh thần dân tộc: trữ tình, đằm thắm và hào hùng,
bi tráng.
Chèo là một hình thức nghệ thuật biểu diễn dân gian do người nông dân vùng
châu thổ sông Hồng sáng tạo ra. Nó là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp lúa
nước, của nền văn hóa làng xã, và trực tiếp là sản phẩm của nhân sinh quan và vũ trụ
quan nông dân Việt. Một nguồn gốc của Chèo là các trò nhại và hát dân gian, nghi lễ
trong lễ hội nên sau này, khi phát triển thành một loại hình sân khấu kịch hát, thì
không gian thích hợp nhất cho một buổi biểu diễn Chèo vẫn là không gian "hội hè đình
đám" mỗi độ xuân về.
Hình thức tổ chức theo phường, gánh của Chèo cổ là hình thức mang đậm dấu
vết sáng tạo và hưởng thụ văn hóa theo kiểu làng xã. Mỗi phường mỗi gánh thường có
khoảng 11 đến 15 người, phần lớn là những người nông dân say mê nghề ca hát.
Hình thức biểu diễn Chèo xưa, từ rò diễn đến diễn viên, từ khán phòng đến
khán giả đều là sản phẩm, hoặc ít nhất cũng mang bóng dáng của văn hóa làng xã. Sân
khấu biểu diễn Chèo xưa chỉ khoanh trên mấy chiếc chiếu trải trên mặt phẳng như sân
đình, sân miếu, sân nhà Một tấm màn nhỏ ngăn nơi diễn với hậu trường. Khán giả
đứng (hoặc ngồi) xung quanh. Dàn nhạc ngồi ở ngay phần đầu chiếu sát nơi để trống
chầu, ngăn cách người xem và diễn viên đồng thời cũng là người đưa đạo cụ cho diễn
viên khi cần. Các đạo cụ thường để tập trung trên chiếu diễn. Một hòm đồ gỗ để sẵn,
lúc dùng làm ghế ngồi lúc dùng làm bàn tiệc, lúc làm núi non… Trang trí nơi diễn là là
khung cảnh ngày hội: cây nêu, những lá cờ ngũ sắc, những bức cửa vòm sơn son thiếp
vàng.
Nếu như nghệ thuật tuồng thường kể về những nhân vật và sự kiện xảy ra
trong cung đình để bảo vệ một ngai vua, một ngôi chúa, một triều đình đứng đầu sơn
người nông dân nghèo thường bị bóc lột, áp bức và luôn mong muốn một cuộc sống
công bằng (khuyến thiện, trừ ác), no ấm, hạnh phúc
Như thế, một sản phẩm văn hóa đặc thù Việt Nam có hàm lượng văn hóa lớn
mang ý nghĩa đặc sắc, gần như một biểu trưng văn hóa Việt là nghệ thuật Chèo. Đây là
một loại hình mang bản sắc Việt đậm đà do ông cha ta đã nhào nặn những ý tưởng,
những mong ước, những mẫu hình lý tưởng sáng tạo nên. Nó tạo nên một xã hội trong
Chèo, một thế giới riêng biệt để có thể đến đấy mà chia sẻ, cảm thông những cảnh đời,
những nỗi lòng, những éo le, ngang trái để cùng vui, cùng buồn, cùng mong ước Cái
"xã hội" đó, cái thế giới đó được tạo nên bởi vô số các nhân vật trong Chèo. Mỗi nhân
vật một số phận riêng, với những tính cách riêng, mang một "mã số văn hóa" riêng.
1.3.1.1. Tính trào lộng biểu hiện qua hệ thống các vai Hề Chèo
ở Chèo truyền thống các nhân vật được chia thành 5 loại vai rất rõ ràng là:
Đào - Kép - Hề - Mụ - Lão. Như vậy, ở Chèo, loại vai Hề có vị trí rất lớn, rất quan
trọng. Bên cạnh vai Hề ở Chèo còn có những vai Hài - anh em sinh đôi với Hề - mà
nhiều khi ta khó phân biệt người này với người kia. Có thể nói, vai Hề - Hài này làm
thành một hệ thống dày đặc trong Chèo, đôi khi chúng lấn cả 4 loại vai trên, như
trường hợp vở Từ Thức đã chứng tỏ điều này. Vậy là thế nào? Là hệ thống vai Hề -
Hài này từng làm mưa làm gió trên sân khấu Chèo cổ với những trận cười không ngớt
từ chiếu diễn dội xuống phòng khán giả, và từ phòng khán giả dội ngược lên chiếu
diễn. Có thể nói đến một thứ văn hóa trào tiếu, thứ văn hóa rất thịnh hành trong văn
học thế giới trung đại, trong Chèo, một loại hình văn hóa làng xã Việt Nam chăng?
Hề là nhân vật không thể thiếu trong các vở Chèo. Quần chúng lao động mượn
vai Hề để bộc bạch tâm trạng của mình. Khi đả kích, chế giễu thói hư tật xấu của tầng
lớp quan lại, khi thể hiện ước mơ về một cuộc sống công bằng, hạnh phúc…. Hề có
hai loại: Hề áo dài và hề áo ngắn.
* Hề áo ngắn: Là những người nghèo khổ đi hầu hạ người khác. Hề áo ngắn
lại chia ra rất nhiều dạng như: Hề gậy, Hề mồi, Hề hầu phòng, Hề đơn và Hề cặp. Đó
là những nhân vật ngay thẳng, sống có nhân nghĩa, thông minh, hóm hỉnh, lạc quan.
* Hề áo dài: Là những người ở tầng lớp trên, hay có chức sắc như Lý trưởng,
"trung", "nịnh". Nhân vật nữ chín của Chèo luôn là những tấm gương về đạo đức và
việc thể hiện những nhân vật ấy là sự hình tượng hóa những điều khác nhau của đạo
đức xưa, đó là Thị Kính tiêu biểu cho đức tính cam chịu trước những nỗi oan trái của
cuộc đời, đó là Thị Phương tiêu biểu cho đức tính hy sinh trong qua hệ mẹ chồng nàng
dâu, đó là Trinh Nguyên trong quan hệ mẻ ghẻ con chồng… Nói chung các nhân vật
này đều có một mô hình chung là qua một quá trình thử thách họ khẳng định được
phẩm chất tốt đẹp của mình và họ được đền bù xứng đáng hơn.
Loại nhân vật nữ lệch, nữ pha là những con người mà chế độ phong kiến gọi là
nghịch nữ. Đó là Thị Màu xuất hiện trên sân khấu như một ngọn lửa rừng rực tình yêu,
táo bạo thách thức, phá tan mọi ràng buộc của lễ giáo phong kiến đi tìm quyền tự do
yêu đương. Đó là Súy Vân bị người chồng ham mê danh vọng ruồng bỏ, đã giả dại để
thoát khỏi cảnh cô đơn lạnh lùng. Những nhân vật này đã được Chèo ủng hộ, và với tài
năng của nhiều thế hệ nghệ nhân nối tiếp nhau đã gia công bồi đắp sáng tạo để trở
thành những hình tượng nghệ thuật đẹp đẽ tuyệt vời.
Có thể nói, những nhân vật trung tâm này đều là những nhân vật phụ nữ.
Đúng như Vũ Khắc Khoan trong "Tìm hiểu sân khấu Chèo" đã khẳng định:
"Nhân vật chính trong các vở Chèo lớn thường được sáng tác bởi các nhà nho, là người
phụ nữ. quan niệm văn dĩ tải đạo của các nhà họ đã là quan niệm chỉ đạo cho họ sáng tác
ra những mẫu người phụ nữ với những đức tính tốt đẹp đáng noi theo" [24, tr. 136]. Nhà
nghiên cứu Trần Việt Ngữ cũng nhấn mạnh: "Nghiên cứu các vở Chèo cổ, chúng ta thấy
có điều đặc biệt là tư tưởng tiết mục hầu hết đều xoay quanh tập trung vào những nhân
vật phụ nữ" [33, tr. 89]. Và, Giáo sư Trần Bảng khẳng định:
Tích trò của Chèo dành cho cuộc đời của những con người bình
thường, ca ngợi những tấm gương cao cả trong tình bạn, tình yêu chung
thủy, lòng hiếu thảo, lòng khao khát tự do trong tình yêu và cuộc sống. Giữ
vị trí trung tâm trong các tích Chèo là số phận người phụ nữ, tầng lớp chịu
nhiều đau khổ nhất dưới chế độ phong kiến [5, tr. 10].
PGS Tất Thắng trong công trình Di sản sân khấu và đạo đức truyền thống cũng đã
nhận xét rất tinh tế và hóm hỉnh: Một vũ trụ phụ nữ ngự trị trong Chèo cổ và tạo nên ở
để truy tìm các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng "nữ thịnh" trong Chèo cổ. Trước hết
là những biến động xã hội, lịch sử, những thứ luôn luôn là cơ sở thực tiễn dẫn đến
những biến động về văn hóa, trong đó có văn học nghệ thuật, trong đó có Chèo.
Từ thế kỷ XVI, mâu thuẫn giữa các tập đoàn phong kiến trong nước trở nên
quyết liệt và nhanh chóng trở thành xung đột xã hội ác liệt kéo dài đến thế k ỷ XVIII.
Trải qua hai thế kỷ nội chiến, lòng căm thù của nhân dân đối với các tập đoàn phong
kiến đã âm ỉ, chứa chất, để đến thế kỷ VIII, mở đầu thế kỷ XIX nó thổi bùng lên dữ
dội như sóng trào lốc cuốn. Thành quả cao nhất của phong trào đấu tranh nhân dân là
chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn: tiêu diệt sáu vạn quân Xiêm (1785), dẹp các tập
đoàn phong kiến Lê - Trịnh và đánh tan hai mươi vạn quân xâm lược Thanh. Thắng lợi
của Nguyễn Huệ "đã thực hiện một sự thay đổi" quan trọng nhất [30, tr. 21] trong lịch
sử Việt Nam ngày trước và mở ra mở đầu cho những trang sử dân tộc thống nhất sau
hàng trăm năm chia cắt, Truyền thống và khí phách dân tộc đã được phát huy và kết
tinh trọn vẹn trên cả hai bình diện: đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc. Nhưng triều
đại Quang Trung không tồn tại được lâu. Nhà Nguyễn đã thay thế bằng chính sách cai
trị hà khắc của một chế độ mô phỏng theo mô hình Tống - Nho của Trung Quốc. Nhân
dân lại nổi lên chống lại bằng các cuộc khởi nghĩa. Đất nước luôn loạn lạc.
Sự thay đổi nhanh chóng và liên tục kể từ thời kỳ phân tranh Trịnh - Nguyễn
đến Tây Sơn và nhà Nguyễn kéo theo sự xáo động lớn về mọi phương diện của đời
sống xã hội. Những biến động bất ngờ, đầy phức tạp của lịch sử thế kỷ XVIII, nửa đầu
thế kỷ XIX không chỉ tác động đến toàn bộ cơ cấu xã hội mà còn có tác động mạnh mẽ
đến hệ tư tưởng của các thành phần trong xã hội.
Tính chất thối nát của xã hội phong kiến thời kỳ này không chỉ bộc lộ ở cuộc
sống xa hoa, bóc lột dân lành, đàn áp các cuộc khởi nghĩa của quần chúng, bất lực
trước kẻ thù ngoại bang mà còn thể hiện sự lung lay của hệ tư tưởng Nho giáo. Nho
giáo, tư tưởng thống trị xã hội không còn đóng vai trò như trước nữa, mà rạn nứt theo
sự suy tàn của chế độ phong kiến. Ví như "sự học" là nơi lựa chọn nhân tài của Nhà
nước phong kiến, thì nhà Nho Phạm Đình Hổ đã thất vọng thốt lên "huống chi học
thuật đã bất chính, đến khi ứng dụng ra đời thì chỉ làm hại cho thiên hạ" [20, tr. 34].
cạnh hình tượng nổi bật của thời đại: nhà nho ẩn dật, cư sĩ tiết tháo, đã thấy xuất hiện
người phụ nữ trong một số tác phẩm khuyết danh và truyền kỳ. Vấn đề này, Giáo sư
Phan Ngọc đã có nhận xét: "Trong văn học Việt Nam trước thời Lê - Mạc, trong những
tác phẩm được quy định niên đại chính xác, từ Truyền kỳ mạn lục, hầu như không có
đàn bà, chỉ thấy có đàn ông và đàn ông với cương vị xã hội cụ thể -hòa thượng, nho sĩ,
tướng quân, vua chúa" [30, tr. 159].
Đến thế kỷ XVIII, sáng tác văn học nghệ thuật ra đời trong điều kiện Nho giáo
không còn độc tôn, tinh thần duy vật khoa học chừng mực phát triển, văn học không
thể chỉ làm nhiệm vụ "nêu gương" và "giáo huấn". Đã có dấu hiệu coi văn học phải
gần gũi với cuộc sống thực hơn. Nhiều nhà thơ trong giai đoạn này hay nói đến quan
niệm "người cùng thì thơ mới hay", họ đều chống lại thứ văn chương phù hoa trống
rỗng mà cổ xúy cho loại văn chương gắn liền với cuộc sống có quan hệ với "thế nước
tục dân", có tác dụng giúp đời…. Ngô Thì Nhậm nói: "Biết nắm lấy cái thực làm cốt
tử, rồi dùng đẹp đẽ trang sức thêm" [35, tr. 76]. Lê Quý Đôn coi trọng sự chân thực
trong văn chương: "Thơ phát khởi tự lòng người ta. Ba trăm bài thơ trong Kinh Thi,
phần nhiều là của nông dân, phụ nữ làm ra, mà cũng có cả những bài văn sĩ đời sau
không theo kịp được, như thế là vì nó chân thực" [14, tr. 251].
Xu hướng coi văn chương phải hướng tới đời sống thực đã thể hiện qua hàng
loạt các tác phẩm ra đời ở thời kỳ này. Văn học viết nhiều về chiến tranh loạn lạc, về
sự xấu xa độc ác của bè lũ thống trị phong kiến, về nỗi khổ của dân và về thân phận
con người cùng khát vọng về hạnh phúc, tình yêu, nhu cầu muôn thuở của con người.
Và đặc biệt là, "vào thời Lê - Mạc, cái đối tượng mà nền văn học cũ không dám nhắc
đến thì nay trở thành thần tượng của nền văn học mới. Người đàn bà xuất hiện ở mọi
nơi, trở thành những nữ hoàng mà hào quang và uy tín lấn át mọi thần tượng khác"
[30, tr. 77].
Trở thành hình tượng của trung tâm của văn học giai đoạn này là người phụ nữ
mà nét đẹp của họ được khắc họa không chỉ ở công, dung, ngôn, hạnh mà còn ở sự
thông minh trí tuệ, sự ngỗ nghịch bất trị, thách thức với lễ giáo phong kiến, là bản lĩnh
và sự tự ý thức về giá trị giới mình (Nữ tú tài). Lần đầu tiên, trong văn chương bác học