Bản sắc dân tộc trong văn xuôi triều ân - Pdf 84

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HOÀNG THỊ VI

BẢN SẮC DÂN TỘC
TRONG VĂN XUÔI TRIỀU ÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN THÁI NGUYÊN - 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Triều Ân đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo và nghiên cứu
khoa học – Quan hệ quốc tế, các thầy cô giáo khoa Ngữ văn trường Đại học
Sư phạm Thái Nguyên, các thầy cô giáo Viện Văn học, Trường Trung học
phổ thông Cao Bình cùng bạn bè và những người thân trong gia đình đã tạo
mọi điều kiện tốt đẹp để giúp đỡ, động viên tôi trong thời gian học tập và
nghiên cứu.

Thái Nguyên, ngày 30 tháng 9 năm 2009
Tác giả Hoàng Thị Vi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài............................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................... 2

2.4. Dấu ấn văn hóa Tày, Dao ở phƣơng diện đời sống văn nghệ,
tín ngƣỡng và tâm hồn ....................................................................... 70
2.4.1. Đời sống văn nghệ .............................................................. 70
2.4.2. Đời sống tín ngưỡng ........................................................... 80
2.4.3. Đời sống tâm hồn ................................................................ 80
Chƣơng 3: MỘT SỐ PHƢƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN BẢN
SẮC DÂN TỘC TRONG VĂN XUÔI TRIỀU ÂN ........................................ 85
3.1. Nghệ thuật tổ chức cốt truyện ..................................................... 85
3.2. Nghệ thuật xây dựng nhân vật .................................................... 97
3.2.1. Đặc tả ngoại hình nhân vật ................................................. 97
3.2.2. Xây đựng nhân vật đa diện ................................................ 101
3.3. Nghệ thuật sử dụng ngôn từ ...................................................... 106
3.3.1. Ngôn ngữ mang đậm dấu ấn miền núi ............................... 107
3.3.2. Ngôn ngữ đậm chất thơ ..................................................... 111
PHẦN KẾT LUẬN ........................................................................................ 115 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ những năm 50, 60 của thế kỷ XX, lớp nhà văn là người dân tộc thiểu
số đã xuất hiện và trưởng thành với nhiều tác phẩm phản ánh hiện thực
cuộc sống ở vùng quê của họ. Một trong các tác giả tiêu biểu đó là nhà văn
Triều Ân. Ông là một trong mười sáu nhà văn dân tộc thiểu số đầu tiên có
mặt trong cuốn Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại (Nxb Văn

cống hiến xứng đáng cho nền văn học nước nhà, đặc biệt với văn học thiểu
số, lại ít được nghiên cứu, giới thiệu rộng rãi. Do vậy việc tìm hiểu nghiên
cứu về văn học miền núi, nhất là với những sáng tác do chính các tác giả
người miền núi viết trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc gia và quốc tế
hiện nay là việc làm có ý nghĩa cấp thiết. Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài:
Bản sắc dân tộc trong văn xuôi Triều Ân.
2. Lịch sử vấn đề
Trong những năm gần đây, văn học dân tộc và miền núi đã được giới
nghiên cứu, phê bình quan tâm chú ý. Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn
học đã có những ý kiến nhận xét, đánh giá về các tác giả văn học hiện đại
người dân tộc thiểu số và mảng văn học miền núi. Trong đó, có khá nhiều
công trình, bài viết đề cập đến sự nghiệp sáng tác cùng những đóng góp của
nhà văn Triều Ân với văn học dân tộc và miền núi nói riêng và văn học
đương đại nói chung. Đặc biệt ở cuộc Hội thảo khoa học về nhà văn
Hoàng Triều Ân được tổ chức tại Cao Bằng ngày 12 tháng 11 năm 2007,
giới nghiên cứu, phê bình văn học đã có những bản tham luận đánh giá xác
đáng về sự nghiệp sáng tác của ông. PGS – TS Đỗ Thị Hảo đã viết: “Thật
khó có thể xếp Hoàng Triều Ân hay gọi ông là “nhà” gì? Vì tác phẩm của
ông quá nhiều; lại cực kỳ phong phú về thể loại” [50, tr.171]. PGS – TS Lã
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Nhâm Thìn lại xác định cụ thể: “Nói đến Hoàng Triều Ân là nói đến “ba
nhà” trong một nhà: nhà văn, nhà thơ, nhà sưu tầm, nghiên cứu văn học. Ở
“nhà” nào Hoàng Triều Ân cũng có những đóng góp, làm phong phú, làm
giàu có thêm nền văn học các dân tộc ít người nói riêng, nền văn học nước
nhà nói chung” [50, tr.104 ]. PGS – TS Mai Hương khẳng định: “Triều Ân
đến với bạn đọc trước hết bằng những trang thơ, và trong tình cảm của độc
giả, anh trước hết là một nhà thơ miền núi ít nhiều có phong cách riêng
(...). Triều Ân đã khẳng định được vị trí của mình trong nền thơ chung của

mới mẻ và thú vị (...). Có thể nói sự xuất hiện khá đậm đặc những phong
tục, tập tục, những nét quen thuộc trong đời sống sinh hoạt trong tác phẩm
cuả Triều Ân, cho thấy công phu đi sâu tìm hiểu và sự thuộc hiểu đời sống,
truyền thống văn hóa lâu đời của cộng đồng các dân tộc vùng cao của
Triều Ân. Chính những điều đó đã mang đến sự sinh sắc cho trang viết của
nhà văn” [50, tr.217,218]. PGS – TS Bích Thu cũng đã ghi nhận: “qua các
trang tiểu thuyết của Triều Ân, miền nước non Cao Bằng đã hiển hiện ngày
càng rõ nét với cảnh sắc, con người, phong tục tập quán, với những buồn
vui, may rủi, tốt xấu, hay dở đan xen trong cộng đồng dân cư, thôn bản các
dân tộc ít người mà suy cho cùng, đó cũng là bức tranh thu nhỏ của xã hội
Việt Nam đương đại” [50, tr.56]. Có thể tổng kết, đánh giá về bản sắc văn
hóa trong sáng tác của Triều Ân bằng ý kiến của GS – TS Mai Quốc Liên:
“đó là những cống hiến vô giá không những cho văn hóa dân tộc ông mà
cho cả văn hóa dân tộc nước nhà. Ông xứng đáng là nhà văn hóa, người
đại diện có thẩm quyền cho văn hóa dân tộc Tày anh em” [22, tr.5,6].
Thế nhưng do nhiều yếu tố khách quan cho đến nay vẫn chưa có một
công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về sáng tác văn học của Triều
Ân, đặc biệt là ở góc độ bản sắc văn hóa. Do vậy chúng tôi tìm được
khoảng trống để thực hiện đề tài. Các ý kiến của người đi trước về sáng tác
của Triều Ân nói chung và văn xuôi nói riêng là những gợi dẫn bổ ích và
quý báu giúp chúng tôi trong quá trình tiếp cận và triển khai đề tài.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn lựa chọn một số truyện ngắn, tiểu thuyết của Triều Ân in trong
tập truyện ngắn Xứ sương mù (Nhà xuất bản Văn học, H.2000) và Tuyển
tập thơ văn Triều Ân (Nhà xuất bản Văn học, H.2006) làm đối tượng
nghiên cứu cho đề tài

Chƣơng ba: Một số phương diện nghệ thuật thể hiện bản sắc dân tộc
trong văn xuôi Triều Ân.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1:
VÀI NÉT VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ SỰ NGHIỆP
SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN TRIỀU ÂN
1.1. Bản sắc văn hóa dân tộc
1.1.1. Văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam
Ở Việt Nam và trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về
khái niệm “Văn hóa”. Nhà nghiên cứu văn hóa Phan Ngọc cho rằng: “Văn
hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một
tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người
này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện
rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy
nhất, biểu hiện thành một kiến thức lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc
người, khác các kiểu lựa chọn của cá nhân hay các tộc người khác” [46,
tr17]. Giáo sư - Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm xác định cụ thể: “Văn hóa là một
hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con
người với môi trường tự nhiên và xã hội” [52, tr10]. Nhà nhân loại học
phương Tây E.B.Taylo lại định nghĩa: “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao
gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục,
những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một
thành viên của xã hội” [61, tr8].
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa nhưng các
định nghĩa đó vẫn xoay quanh vấn đề tương đối thống nhất: Văn hóa là một

được, nhưng nó phải gắn liền với ý thức dân tộc và tự khẳng định qua thử
thách của thời gian, nếu không qua giao lưu và mở rộng văn hóa, bản sắc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
sẽ bị biến đổi, mất đi những gì tinh túy nhất của dân tộc. Do đó các nhà
nghiên cứu trên thế giới đã từng đưa ra những ý kiến thống nhất gọi bản
sắc văn hóa dân tộc là một thứ căn cước, một chứng minh thư của riêng
một dân tộc” [60, tr78]. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng khẳng
định: “Bản sắc là những nét riêng biệt, độc đáo của một dân tộc thể hiện
trong nền văn hóa, nghệ thuật trong phong tục tập quán, trong đời sống
muôn màu của dân tộc ” [26, tr.11]. Chính bởi xác định được vị trí, vai trò
và tầm quan trọng của văn hóa, bản sắc dân tộc nên chủ trương, đường lối
lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là “Xây dựng một nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Việc đề cao bản sắc dân tộc là một hành động thiết thực trong công
cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại hiện
nay. Bản sắc dân tộc vừa có nét chung của cộng đồng vừa có nét riêng của
từng dân tộc. Tất cả sẽ góp lại để tạo thành nền văn hóa Việt Nam đa dân
tộc, đa màu sắc, nằm trong tổng hòa của nền văn hóa khu vực Đông Nam Á
và văn hóa nhân loại. Đúng như nhà thơ Nông Quốc Chấn đã nhận định:
“Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm nhiều nét đặc trưng. Có những nét
chung trong văn hóa người Việt (còn gọi là người Kinh) có những nét riêng
trong văn hóa các dân tộc thiểu số. Những nét ấy biểu hiện trong cách lao
động, cách sống, cách kiến trúc nhà cửa, cách ứng xử giữa người với
người …Những nét riêng ấy không mâu thuẫn với nét chung: Nó đang có
sự hài hòa” [35, tr52].
Dân tộc Việt Nam có lịch sử hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ
nước. Cùng với chiều dài lịch sử của dân tộc là chiều dài và bề sâu của
truyền thống văn hóa. Nền văn hóa Việt Nam được cấu thành bởi bốn thành

đủ sức mạnh đánh bại quân Tần xâm lược và thành lập Vương quốc Âu
Lạc. Âu Lạc chính là nhà nước đầu tiên xuất hiện trên vũ đài lịch sử Việt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Nam. Với tiến trình lịch sử lâu đời của mình, dân tộc Tày chẳng những góp
phần quan trọng vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước mà còn sớm hình
thành một nền văn hóa, làm phong phú thêm nền văn hóa truyền thống của
các dân tộc Việt Nam.
* Văn hóa sản xuất
Từ rất lâu đời người Tày đã sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước.
Do có mặt sớm hơn các dân tộc khác nên người Tày đã khai phá và làm chủ
được những vùng thung lũng bằng phẳng. Việc trồng lúa nước của người
Tày đã được ghi dấu trong truyền thuyết Phú Lương Quân của dân tộc
mình. Truyện kể rằng Sao Cải vợ của Báo Luông thấy bên bờ suối có thứ
cỏ màu xanh, hạt có nhân ăn được nên đêm về trồng. Còn Báo Luông lại
nghĩ cách khuấy đất với nước cho nát, sau đó gieo mạ, rồi cấy.
Vì địa hình đồi núi cao, hệ thống sông, suối thường thấp hơn các
cánh đồng, đám ruộng, nên từ xa xưa người dân đã biết đào mương, đắp
phai, bắc máng, làm cọn lấy nước lên ruộng và lợi dụng sức nước để
giã gạo.
Ngoài lúa nước người Tày còn trồng lúa nương, hoa màu, cây ăn
quả... Nói đến vùng dân tộc Tày không thể không nhớ đến các loại quả đã
trở thành đặc sản nổi tiếng như lê, táo, mận, quýt, hồng , hạt dẻ … Các loại
cây công nghiệp cũng được người dân chú trọng phát triển như thuốc lá,
trẩu, hồi, chè, tre, trúc …
Nhân dân Tày cũng rất chú trọng và phát triển về chăn nuôi. Bởi
ngoài trồng trọt, chăn nuôi cũng đem lại nguồn thu lợi đáng kể cho kinh tế
hộ gia đình. Từ bao đời nay, dân tộc Tày đã có quan niệm “tu mò nhò pỏ
khỏ” (con bò giúp đỡ người nghèo). Cư dân Tày cổ cũng đã biết thuần

làng xóm tắt lửa tối đèn có nhau của các dân tộc khác. Trong quan hệ với
các dân tộc anh em, đồng bào có tập quán kết nghĩa anh em gọi là “lạo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13
tồng”, thương yêu, giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt. Đồng bào Tày rất
mến khách. “Khách đến nhà bao giờ cũng được tiếp đãi chu đáo. Khách
đến làng, tuy không quen biết, nhưng cũng được đồng bào chào hỏi thân
mật” [39, tr.8].
* Văn hóa vật chất
Người Tày ăn cơm tẻ là chính. Mỗi ngày ăn ba bữa gồm ăn sáng, ăn
trưa và tối. Những ngày lễ tết (dù là tết to hay nhỏ), cưới hỏi đồng bào
thường mổ gà, vịt, ngan, lợn và chế biến thành những món ăn mang đậm
phong vị miền núi. Các loại bánh làm trong ngày tết lễ như bánh chưng,
bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh khảo, chè lam, bánh trứng kiến, bánh
cuốn … cũng đã trở thành nét riêng trong văn hóa ẩm thực của dân tộc Tày.
Nước uống chủ yếu của người Tày là nước chè được đun bằng các
loại lá cây rừng có tác dụng y học nhất định do đồng bào hái trên rừng. Từ
lâu người Tày đã biết cất rượu bằng ngô, gạo, sắn ủ với men lá tự chế.
Rượu được uống trong sinh hoạt ngày thường, khi khách đến nhà chơi thể
hiện lòng hiếu khách và những ngày lễ tết.
Từ lâu đời người Tày đã cư trú tập trung thành bản, tên bản thường
gọi theo tên cánh đồng, khúc sông suối hay dốc núi. Ở những nơi đất rộng,
ruộng nhiều có bản tập trung tới hàng trăm nóc nhà, nơi ruộng ít thì cũng
dăm chục nóc nhà. Bản làng thường dựa lưng vào núi, trước mặt trông ra
cánh đồng. Nhà ở của dân tộc Tày thường là nhà sàn và nhà đất, lợp bằng
ngói âm – dương hoặc lá cọ, gianh.
Người Tày có câu nói “Chiêm slao, chiêm tin slửa” (kén gái nhìn tà
áo) để nói về tài nghệ của người phụ nữ Tày trong việc trồng bông, kéo sợi
vải, nhuộm chàm cắt quần áo cho cả gia đình; đồng thời nó cũng nói lên

cưới nhà trai phải mang đến nhà gái rất hậu hĩnh. Việc tiến hành hôn nhân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

15
phải qua rất nhiều khâu: đánh tiếng (đi hỏi), lễ ăn hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt. Lễ
cưới thể hiện rõ nhất nét đẹp văn hóa của người Tày qua việc hát đối đáp
sli lượn trong đám cưới. Đó là tiếng hát của ông quan lang (người chủ đón
dâu) và đại diện nhà gái để được lên nhà gái làm lễ tổ tiên và đón dâu, đưa
dâu về nhà chồng. Tiếng hát “quan lang” mang ý nghĩa cao quý bởi nó thể
hiện tình cảm trân trọng của nhà trai đối với nhà gái và ngược lại; đồng thời
nó cũng thể hiện văn hóa ứng xử của cả gia tộc nói riêng, tộc người nói
chung thông qua đại diện của hai gia đình. Đó còn là tiếng lượn của những
người đến dự đám cưới cất lên để mừng cho cô dâu chú rể, mừng cho gia
chủ có được con dâu, con rể thảo hiền, mừng cho cuộc sống mới … Tất cả
các điệu si lượn đó đã tạo nên một phần quan trọng trong đời sống văn
nghệ của dân tộc Tày.
Người Tày là dân tộc theo tín ngưỡng đa thần. Các thần đều được gọi
là ma (phi), gồm phi phạ ở trên trời, phi đông ở trong rừng, phi pú pẩu là tổ
tiên … Bên cạnh quan niệm về các loại ma như trên, trong tâm thức của
dân tộc này còn có loại ma gà (phi cáy) ngự trị ở một số người. Đây là một
loại ma ác, thường làm hại nên người Tày rất ghét, sợ những ai bị mang
tiếng là ma gà. Mỗi khi gia đình có việc vui, buồn, ốm đau, bệnh tật … dân
tộc Tày đều hay mời thầy mo, thầy tào, bà bụt (pựt) về để hành lễ.
Trong một năm, người Tày có nhiều ngày tết với những ý nghĩa khác
nhau. Những dịp tết dù nhỏ hay to, người Tày đều làm những thứ bánh theo
từng thời điểm. Các loại bánh trái đó luôn biểu hiện cho bản sắc dân tộc
của dân tộc. Ví như mùng 3 tháng 3 là ngày tết ăn xôi ngũ vị, bánh trứng
kiến; rằm tháng bảy là tết bánh gai, bánh dợm và ăn thịt vịt quay … Đặc
biệt nhất là những ngày hội “Lồng Tôồng” ( xuống ruộng) tổ chức vào dịp
đầu xuân ở nhiều địa phương trong vùng với nhiều hình thức văn hóa và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Trước hết là văn hóa sản xuất. Tùy theo mỗi địa bàn cư trú mà đặc
điểm canh tác có khác nhau. “Ở vùng cao, người Dao định canh định cư
luân canh hoặc du canh du cư nương rẫy trên những thửa nương hẹp có
nhiều tảng đá rải rác gọi là nương thổ canh hốc đá… Đây là lối canh tác
của người Dao Đỏ, Dao Quần chẹt.
Người Dao ở vùng giữa có nhiều núi đất xen lẫn núi đá chủ yếu canh
tác du canh du cư. Nương rẫy làm được vài vụ lại bỏ hoang để đi khai thác
nơi khác … Lối canh tác này gắn với người Dao Tiền, Dao Lô Giang.
Người Dao ở vùng thấp canh tác lúa nước ruộng bậc thang kết hợp
với định canh nương bằng phẳng…Về kĩ thuật canh tác, đồng bào đã biết
bón phân, làm thủy lợi mương phai, cọn. Nhóm Dao Quần trắng, Dao Áo
dài, Dao Thanh Y làm ruộng nước” [25, tr.329, 330].
Địa bàn cư trú của người Dao thường sẵn đồi cỏ, thung lũng, khe
suối nên việc chăn nuôi phát triển. “Mỗi gia đình nuôi hàng chục trâu, bò;
gia đình nào nuôi nhiều thì 20 – 30 lợn, ít cũng vài ba con. Gà cũng được
nuôi rất nhiều; sau đó đến vịt, ngỗng … ”[ 25, tr.331].
Dân tộc Dao cũng rất thành thạo trong các nghề thủ công như đan
các đồ đựng trong gia đình bằng tre nứa, giang, mây. Nghề làm đồ trang
sức bằng bạc, bằng đồng là nghề lâu đời gia truyền những người thợ
chuyên môn - người thợ bạc. Họ làm ra các sản phẩm: vòng cổ, vòng tay,
vòng chân, khuyên tai, nhẫn, xây xà tích và các đồ gắn trên váy áo. Các đồ
bạc được chạm chìm nổi các hình hoa văn, hoa lá khá khéo léo, được các
dân tộc Tày, Nùng, Mông ưa thích. Nhóm Dao Đỏ, Dao Tiền còn nổi tiếng
vì có nghề làm ra giấy bản (loại giấy dùng để chép sách cúng, sách truyện,
sách hát, hay dùng để viết sớ, làm tiền ma trong các lễ cúng). Dân tộc Tày,
Nùng rất ưa dùng loại giấy này của người Dao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


19
không thường xuyên, chỉ tranh thủ những ngày không đi nương, những
ngày mưa hoặc những lúc rảnh rỗi. Người con gái Dao từ 9 – 10 tuổi đã
học dệt vải, may vá, thêu thùa cho đến khi lấy chồng, đến già mới ngừng
công việc may vá” [25, tr.332]. Trang phục của đàn ông Dao ở tất cả các
nhóm đều tương tự giống nhau. Họ thường mặc hai loại áo: áo ngắn mặc
hàng ngày may xẻ bụng cài khuy, ống tay hẹp áo có hai túi ở hai vạt trước;
loại áo dài may kiểu năm thân cài khuy cổ, vai, nách, sườn phải mặc khi đi
chợ, đi chơi xa, đi hội, đi đám. Quần là vải để trắng hoặc nhuộm chàm,
may theo kiểu chân què, cạp lá tọa, mặc thắt lưng dây rút bên ngoài. Họ ít
khi để đầu trần mà thường quấn khăn vải chàm theo kiểu đầu rìu. “Phụ nữ
Dao mặc rất đa dạng, thường mặc áo dài, yếm, váy hoặc quần. Y phục thêu
rất sặc sỡ. Họ không thêu theo mẫu vẽ sẵn trên vải mà hoàn toàn dựa vào
trí nhớ, thêu ở mặt trái của vải để hình mẫu nổi lên mặt phải. Nhiều loại
hoa văn như chữ vạn, cây thông, hình chim, người, động vật, lá cây. Cách
in hoa văn trên vải bằng sáp ong ở người Dao rất độc đáo. Muốn hình gì
người ta dùng bút vẽ hay nhúng khuôn in vào sáp ong nóng chảy rồi in lên
vải. Vải sau khi nhuộm chàm sẽ hiện lên hoa văn màu xanh lơ do phủ lớp
sáp ong không bị thấm chàm” [33, tr.50].
Về phương tiện vận chuyển thì nhóm người Dao ở vùng cao quen
dùng gùi đan bằng tre, giang, hai quai đeo hai vai. Nhóm người Dao ở vùng
thấp gánh bằng đôi dậu. Còn các nhóm người Dao khác ưa đeo túi vải hay
túi lưới, ba lô.
Hôn nhân người Dao là do nam nữ tự do tìm hiểu. Nhưng trai gái
muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau. Hôn lễ sẽ
trải qua các bước cơ bản: lễ đánh tiếng (chạm ngõ), lễ ăn hỏi chính thức.
Trong lễ này nhà gái đưa ra một bản hôn thư. Đó là tờ giấy đỏ ghi lễ vật mà
nhà trai phải nộp cho nhà gái gồm: bạc trắng, thịt rượu, gạo, vải, đồ phục
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Trích đoạn Văn hoá Tày, Dao qua lễ hội, chợ phiên Văn hóa Tày, Dao qua hôn nhân Văn hoá Tày, Dao trong tổ chức đời sống cộng đồng Nghề thủ công Vẻ đẹp trang phục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status