Truyện ngắn sơn nam và bình nguyên lộc từ góc nhìn văn hóa học - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN ĐÔNG

TRUYỆN NGẮN
SƠN NAM VÀ BÌNH NGUYÊN LỘC
TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ HỌC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN ĐÔNG

TRUYỆN NGẮN
SƠN NAM VÀ BÌNH NGUYÊN LỘC
TỪ GÓC NHÌN VĂN HOÁ HỌC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
MÃ SỐ: 62.22.34.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHAN THỊ THU HIỀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013


Lâu nay, đã có khá nhiều bài viết, luận văn viết về Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc
nhưng chưa có công trình nào chuyên sâu về th loại truyện ngắn của hai ông trong quan
hệ với đề tài văn hóa Nam Bộ. Mặt khác, nhiều công trình chỉ mới nghiên cứu tổng quát
các nhà văn Nam Bộ nói chung hoặc riêng lẻ về nhà văn Sơn Nam hay Bình Nguyên
Lộc chứ chưa nghiên cứu hai nhà văn này trong thế liên hợp đối sánh. Việc nghiên cứu


2

chung cả Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc không chỉ nhằm làm sáng tỏ những đi m tương
đồng giữa họ về sự phản ánh văn hóa Nam Bộ mà còn cho thấy phong cách riêng của
mỗi nhà văn trong nội dung cũng như hình thức th hiện văn hóa miền Tây và miền
ông Nam Bộ.
Tiến trình khẩn hoang vùng đất phương Nam góp phần mở ra vận hội mới cho
dân tộc. Những lưu dân thời mở cõi đã đổ biết bao mồ hôi, nước mắt và xương máu đ
biến đất hoang thành ruộng đồng phì nhiêu, rồi chính họ lại tiếp tục dấn thân trong những
cuộc kháng chiến trường kỳ chống ngoại xâm, gìn giữ nền độc lập của Tổ quốc, đ đất
nước được hòa bình, thống nhất, vững vàng đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa như
hôm nay. Do đó, việc nghiên cứu truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc không chỉ
có ý nghĩa về mặt văn chương mà còn cả về mặt văn hóa nữa. Tác phẩm của hai nhà văn
này được dạy ở cấp phổ thông trung học, đại học và được đông đảo độc giả trong và
ngoài nước yêu mến, chắc chắn sẽ góp phần giới thiệu văn hóa Nam Bộ như một phần
quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam.
Từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: Truyện ngắn Sơn
Nam và Bình Nguyên Lộc từ góc nhìn văn hoá học.
2. Lịch sử vấn đề
Trước và sau năm

7 , chủ yếu là ở miền Nam, các nhà nghiên cứu, nhà văn,


của nhà thơ Viễn Phương viết cho tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, ông viết: “Đọc
Hương rừng Cà Mau, đồng bào hiểu thêm được về thiên nhiên, về lịch sử, về đời sống, về
con người của vùng đất xa xôi, huyền bí này. Bàng bạc trong những trang sách này là
một tình yêu quê hương đậm đà, đằm thắm.” [352, tr.2].
Hoàng Phủ Ngọc Tường trong “Lời giới thiệu” tập truyện ngắn Hương rừng Cà
Mau, tái bản năm

8, thì cho rằng: “Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam là một quyển

cảo thơm... viết về những mảnh đời thường của đất, của nước, của rừng, ruộng và của
những số phận con người tưởng chừng rất tầm thường nhưng dưới ngòi bút Sơn Nam đã
vụt hiện thành những điểm sáng, lấp lánh trên bức tranh sơn thuỷ của miền cực Nam Tổ
quốc.” [372, tr.4].
Trong “Lời giới thiệu” quy n Hồi ký của Sơn Nam, nhà xuất bản Trẻ đã khẳng
định: “Gần 60 năm cầm bút, trải qua bao thăng trầm vất vả, ông đã có một số lượng tác
phẩm thật đồ sộ: gần 300 truyện ngắn, hàng chục tập sách biên khảo về người và đất
Nam Bộ. Ông thật xứng đáng với danh hiệu cao quý mà bạn đọc xa gần phong tặng: nhà
Nam Bộ học.” [363, tr.3].
Lê Minh ức trong “Lời giới thiệu” tập 26 truyện ngắn của Sơn Nam, cho rằng:
“Những cuốn sách và những bài báo của Sơn Nam đã giúp người ta đi trở lại những
ngày đầu khai phá tìm hiểu những điều kiện thiên nhiên và xã hội của cuộc sống trong
vùng, có khi cách nay nhiều thế kỷ, về cách thức làm ăn và sinh sống của con người
những thời kỳ ấy.” [323, tr.3].


4

Trong “Lời giới thiệu” cuốn Đồng bằng sông Cửu Long - Nét sinh hoạt xưa &
Văn minh miệt vườn của nhà văn Sơn Nam, có đoạn viết: “Nói đến tác phẩm Sơn Nam là
nói đến chủ đề Nam kỳ Lục tỉnh, về đất, về người, về lịch sử khẩn hoang và phát triển


5

Nguyễn Mạnh Trinh trong “Sơn Nam, ông già Ba Tri của đồng bằng Nam Bộ” đã
khẳng định: “Sinh hoạt một thuở của những người di dân Nam Bộ được sống lại
trong Hương Rừng Cà Mau.” 1
Trong “Sơn Nam, nhà văn, nhà Nam Bộ học (Phỏng vấn người Sài Gòn)”, Phan
Hoàng đã viết: “Tất cả đã tạo nên tên tuổi Sơn Nam, nhà văn, nhà Nam Bộ học mà sự
nghiệp gắn liền với vùng đất mới, trù phú và đầy hào khí. Với ông, đi và viết như một
nhu cầu sinh tồn. Cho đến thời điểm bước vào kỷ niệm 300 Sài Gòn, Sơn Nam đã có
trong tay mấy mươi tác phẩm giá trị về văn minh miệt vườn, về những người đi khai phá
vùng đất mới và sáng tạo ra nền văn hoá truyền thống” [88, tr.59].
Huỳnh Công Tín trong bài viết “Nhà văn Sơn Nam - nhà Nam Bộ học” cho rằng:
“Ông còn làm sống lại quá khứ miền Nam, không chỉ hiện nay mà cả vài trăm năm về
trước, từ chuyện khẩn hoang miền Nam, chuyện thời Đàng Cựu, đến lai lịch của từng
vùng đất cụ thể: Sài Gòn, Gia Định, An Giang, Hà Tiên, Cần Thơ, Hậu Giang, Long Hồ,
Vĩnh Long...” [237, tr.175].
Trần Hữu Dũng trong bài “Sơn Nam - Mấy độ qua đường phố, nghiêng mình
nhớ đất quê” xác quyết: “Ông viết nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết, khảo cứu phong tục tập
quán, hồi ký… nhưng tất cả đều xoay quanh cái trọng tâm muôn thuở – miệt vườn, châu
thổ sông Cửu Long.” [414, tr.8].
Nhà văn Trần Mạnh Hảo trong bài “Sơn Nam - Dề lục bình Nam Bộ” có viết:
“Sơn Nam là một nhà Nam Bộ học, một cuốn từ điển của thời đầu mở đất Đồng Nai.
Ông tiếp tục truyền thống văn chương của những Nguyễn Đình Chiểu, Trương Vĩnh Ký,
Huình Tịnh Của, Hồ Biểu Chánh, Đông Hồ…” 2
Võ Phiến trong bộ Hai mươi năm văn học miền Nam (

) có đánh giá về Sơn

Nam: “Sự nghiệp văn chương của Sơn Nam được gầy dựng nên do chính cái ngộ ấy. Bởi

Văn Giá trong sách Bình văn (Trần Hòa Bình, Lê Duy, Văn Giá), ở bài “Chủ
nhân của rừng tràm” đã nhìn nhận Sơn Nam là nhà văn sáng tác bằng tâm hồn và vốn
kiến thức sành sỏi về “tính nết, thổ ngơi, sản vật, lịch sử và địa bàn cư trú của nhân dân
vùng Đất Mũi.” [21, tr.148].
Gần đây, có một số luận văn nghiên cứu về Sơn Nam, như: Đặc điểm truyện
ngắn Sơn Nam giai đoạn 1954 – 1975 của Lê Thị Thùy Trang (luận văn Thạc sĩ, Trường
ại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) [2 ], Văn hoá và con người Nam Bộ trong
truyện của Sơn Nam của inh Thị Thanh Thuỷ (luận văn Thạc sĩ, Trường ại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh) [233]…
Khi nhà văn Sơn Nam qua đời, có rất nhiều bài viết đăng trên các báo ghi lại cuộc
đời và những quan hệ, những kỷ niệm giữa nhà văn với bạn bè, đồng nghiệp, ngợi ca tác
phẩm của ông. Các bài viết trên đã tái hiện rất rõ chân dung nhà văn: hồn hậu, giản dị,
thanh bần, chân tình và lạc quan.
2.2. Lịch sử nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc
Bình Nguyên Lộc là nhà văn sáng tác rất sớm, từ những năm bốn mươi của thế
kỷ trước. Ở miền Nam trước năm

7 , tác phẩm của Bình Nguyên Lộc được trích giảng

trong các sách Giảng văn ở bậc trung học phổ thông.
Trên các báo và tạp chí thời gian này có một số bài phỏng vấn, bài đi m sách, bài
nghiên cứu về Bình Nguyên Lộc của Nguyễn Ngu Í [ 6, tr.2 7] ghi nhận Bình Nguyên
Lộc sáng tác về quê hương như đ trả món nợ với vùng đất ồng Nai; Nguyễn Hiến Lê
viết bài “ i m sách” của Bình Nguyên Lộc trên tạp chí Bách Khoa số 6 , năm
[113, tr.73-78]; Cô Phương Thảo (Vũ Hạnh) trên tạp chí Bách Khoa số 82, năm

67
68 có



- 7 , có nhắc đến Bình Nguyên Lộc. [ 7, tr.23].

Năm 2002, tác phẩm của Bình Nguyên Lộc được in lại trong Tuyển tập Bình
Nguyên Lộc do Nguyễn Q. Thắng tuy n chọn và giới thiệu [ 33]. Tiếp theo, Nguyễn Q.
Thắng còn giới thiệu cuộc đời và tác phẩm của Bình Nguyên Lộc trong Văn học Việt
Nam nơi miền đất mới, tập 2 [2 2] và trong “Bình Nguyên Lộc với Hương gió Đồng
Nai” (2010) [215].
Trong Từ điển văn học (Bộ mới), tại mục từ “Bình Nguyên Lộc”, T.Khuê có giới
thiệu sơ lược cuộc đời và nêu giá trị một số tác phẩm của Bình Nguyên Lộc như Nhốt
gió, Rừng mắm, Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc… rồi nhận


9

định: “Trước Bình Nguyên Lộc, dường như chưa có một nhà văn Việt Nam nào viết về sự
khai phá đất hoang của dân tộc Việt, về đất và nước một cách bát ngát và sâu xa đến
thế.” [199, tr.133].
Năm 200 , Nguyễn Lương Hải Khôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ: Đặc trưng văn
xuôi nghệ thuật Bình Nguyên Lộc, bảo vệ tại trường ại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh. Luận văn đã chỉ ra những nét riêng trong tác phẩm văn xuôi nghệ thuật của Bình
Nguyên Lộc dưới góc nhìn thi pháp.
Năm 200 , người viết luận án này cũng đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ
với đề tài Văn hoá và con người Nam Bộ trong tác phẩm Bình Nguyên Lộc tại Trường
ại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhìn chung, có th thấy, đa số các bài viết, các công trình thường nhận xét khái
quát về cuộc đời, nội dung tác phẩm của Sơn Nam, của Bình Nguyên Lộc chứ hầu như
chưa có bài viết hay công trình nào tìm hi u thấu đáo về văn hoá và con người Nam Bộ
trong truyện ngắn của hai ông. Từ đó, có th nói, đề tài luận án là mới mẻ, là công trình
đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu về truyện ngắn của Sơn Nam và Bình
Nguyên Lộc từ góc nhìn văn hoá học.

quan hệ tác giả - tác phẩm - thực tại - độc giả; và đến lượt nó, hệ thống văn chương này
lại trở thành một yếu tố trong văn hóa vùng, văn hóa dân tộc như những hệ thống lớn
hơn, bao trùm.
- Phương pháp so sánh:

làm nổi bật đặc trưng văn hoá vùng cũng như phong

cách tác giả trong nội dung cũng như hình thức nghệ thuật th hiện của truyện ngắn Sơn
Nam và Bình Nguyên Lộc, luận án áp dụng phương pháp so sánh: so sánh Sơn Nam và
Bình Nguyên Lộc; so sánh Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc như những nhà văn của Nam Bộ
với một số nhà văn tiêu bi u gắn bó cùng đề tài văn hoá Bắc Bộ hay văn hóa Trung Bộ.
- Phương pháp lịch sử - xã hội: ặt văn học trong mối tương quan với các yếu tố
xã hội và lịch sử, từ đó phân tích truyện ngắn Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc trong quan hệ
với văn hóa Nam Bộ.
5. Đóng góp mới của luận án
5.1. Vận dụng hướng tiếp cận văn hoá học - văn học trong nghiên cứu truyện
ngắn của Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, luận án có đóng góp về văn học sử cũng như về
lý luận, về phương pháp nghiên cứu.
.2. Qua phân tích nội dung và hình thức th hiện không gian văn hoá, thời gian
văn hoá, tính cách văn hoá Nam Bộ trong truyện ngắn của Sơn Nam và Bình Nguyên


11

Lộc, luận án làm rõ những đặc đi m và những đóng góp của hai nhà văn đối với văn học,
văn hoá Nam Bộ nói riêng; văn học, văn hóa Việt Nam nói chung.
6. Kết cấu luận án
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, luận án chia thành bốn chương:
Chương : “Những vấn đề chung”, trình bày cơ sở lý luận của đề tài và khái quát
về truyện ngắn Sơn Nam và Bình Nguyên Lộc trong mối quan hệ với văn hóa Nam Bộ.

Như chúng ta đều biết, văn học là tiếng nói từ trái tim của con người, là sự suy
nghĩ và cảm nhận của con người về cuộc sống. Hơn nữa, văn học còn th hiện khả năng
nhận thức và cách ứng xử của con người trước môi trường thiên nhiên và xã hội, trong
không gian và thời gian.
Còn văn hoá là sản phẩm đặc thù của con người, ra đời và tồn tại cùng với loài
người. Theo nghĩa rộng, văn hoá là những giá trị mà con người tạo ra trong quá trình tác
động vào tự nhiên và xã hội. Văn hoá bộc lộ ở cách thức, trình độ sinh hoạt, tổ chức, ứng
xử; ở quan hệ nhiều mặt của con người với thế giới: tự nhiên, xã hội, bản thân. Văn hoá
là cách sống, quy luật sống của một cộng đồng, là khả năng lựa chọn các ứng xử, các giải


13

pháp của cộng đồng trong những tình huống hệ trọng, có ý nghĩa bước ngoặt của đời
sống, của lịch sử.
Như vậy, có th nói, con người sáng tạo ra văn học, thông qua văn học mà phản
ánh văn hóa. Văn học là công cụ th hiện văn hóa và ghi lại bóng dáng con người qua
các thời đại. Văn học còn góp phần quan trọng trong việc bổ sung những giá trị văn hóa
làm cho cuộc sống ngày càng phong phú hơn. Tác phẩm văn học có th giúp con người
nhận thức rõ hơn về cuộc sống, ý thức về cộng đồng, truyền thống lịch sử. Trong quy
luật phản ánh, văn học không phản ánh toàn bộ đời sống mà phản ánh một cách có chọn
lọc. Chính ở đây, văn học còn có vai trò điều chỉnh và định hướng văn hoá.
Chính vì có sự tác động lẫn nhau nên quan hệ giữa văn học và văn hóa luôn vận
động theo nhịp sống của thời đại; mặt khác, văn học tuy là một bộ phận trong cấu trúc
tổng th của văn hóa, nhưng nó không phải là một bộ phận thụ động, chịu sự tác động
một chiều. Do đó, văn học vừa phản ánh văn hóa, vừa là một nhân tố tích cực trong hệ
thống văn hóa, thúc đẩy văn hoá phát tri n.
Văn học, với vai trò là một nhân tố năng động của văn hóa, sẽ phản kháng những
hiện tượng đi ngược lại văn hóa dân tộc đ từ đó nêu một cách thức phù hợp đối với việc
chọn lựa, phê phán, sáng tạo, thậm chí tiếp biến những hiện tượng văn hóa. Văn học lúc

đã sáng tạo ra văn hoá; đồng thời con người lại là sản phẩm của văn hoá. Con người
kế thừa những thành tựu văn hoá ở thế hệ trước, “Con người là tổng hoà của những mối
quan hệ xã hội” (Mác). Con người luôn mang những giá trị văn hoá, do đó, con người
cũng là đại bi u th hiện giá trị văn hoá do chính mình sáng tạo ra.
Văn học và văn hóa quan hệ chặt chẽ như vậy nên tiếp cận văn học từ góc độ văn
hóa học chắc chắn là một hướng đi hứa hẹn nhiều tri n vọng. Hướng nghiên cứu này
được khá nhiều nhà nghiên cứu văn học trên thế giới cũng như ở nước ta vận dụng với ý
thức tự giác ngày càng rõ nét.
Một trong những lý thuyết nghiên cứu văn hóa sớm được các nhà nghiên cứu văn
học trên thế giới quan tâm là lý thuyết Văn hóa - Lịch sử của Hippolyte Taine ( 828-1893).
Theo Hippolyte Taine, “Ba động lực đầu tiên” có vai trò quyết định đối với đặc đi m một
nền văn hóa cũng như tính cách con người trong nền văn hóa đó, là ( ) chủng tộc, (2) môi
trường và (3) thời đi m. Với ba động lực này, Taine đã nhấn mạnh những đi m quan trọng
về ( ) chủ th văn hóa, (2) không gian văn hóa và (3) môi trường văn hóa.


15

Trường phái Văn hóa và Nhân cách mà đại diện tiêu bi u là Ruth Fulton Benedict
(1887-1948), Margaret Mead… chú ý tới ki u thức (pattern) / cấu hình (configuration)
văn hóa. Theo Benedict, “Một nền văn hóa là một kiểu thức ít nhiều bền vững và nhất
quán, hòa hợp của những tư tưởng và hành động”. Quan đi m lý thuyết này có ảnh
hưởng đến hướng tiếp cận bản sắc văn hóa cũng như đặc đi m tính cách con người được
th hiện trong văn học.
Tiếp tục trong nỗ lực giải mã các nền văn hóa, các nhà Tân Benedict, trong đó có
Clifford Geertz (1926-?), đã phát tri n luận thuyết về Văn hóa với tư cách văn bản
(Culture as text). Theo Geertz, có th và cần thiết “đọc những thực hành văn hóa như
những văn bản”, nhiệm vụ của nhà nghiên cứu văn hóa là cắt nghĩa những “từ vựng”,
“ngữ pháp” quan trọng đặc thù của một nền văn hóa nhất định giúp hi u bản chất của nó.
Từ đây, quan đi m về Văn hóa như văn bản liên quan đến các lý thuyết Cấu trúc luận,

công trình Tiếp cận Truyện Kiều dưới góc nhìn văn hóa. Gần đây,

ỗ Lai Thuý vận

dụng hướng nghiên cứu này đối với văn học trung đại và hiện đại mà tiêu bi u là Từ góc
nhìn văn hoá, Hồ Xuân Hương: hoài niệm phồn thực…
Sự quan tâm đến hướng nghiên cứu này, về mặt lý luận, ở Việt Nam, mới khởi
sắc gần đây, có th thấy qua những bài viết của các tác giả như Trần ình Sử (Chuyển
hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học Trung Quốc), Nguyễn Văn Dân (Tiếp cận văn
học bằng văn hóa học), ỗ Lai Thúy (Mối quan hệ văn hóa - văn học), Trần Lê Bảo
(Giải mã văn hóa trong tác phẩm văn học), Lê Nguyên Cẩn (Tính văn hóa của tác phẩm
văn học), Huỳnh Như Phương (Văn học và văn hóa truyền thống), ỗ Thị Minh Thúy
(Mối quan hệ giữa văn hóa và văn học), Nguyễn Văn Hiệu (Mối quan hệ giữa nghiên
cứu văn học và văn hóa học), Cao Kim Lan (Văn học và ngữ cảnh văn hóa)…
Trong bài “Chuyển hướng văn hóa trong nghiên cứu văn học Trung Quốc”, Trần
ình Sử đã từ kinh nghiệm nước ngoài nhận diện “những hướng nghiên cứu (văn học)
mới trong tầm nhìn văn hóa” với ba định hướng chủ yếu: ( ) nghiên cứu thi pháp văn
hóa; (2) nghiên cứu văn học trong quan hệ với các truyền thống văn hóa, văn học trong
quan hệ với chính trị, với “sinh thái tinh thần” của xã hội; (3) nghiên cứu văn học trong
quan hệ với văn hóa đại chúng. Về phương pháp, đây là hướng nghiên cứu liên ngành,
kết hợp các phương pháp dân tộc học (ethnography), phân tích văn bản (textual
approaches), nghiên cứu tiếp nhận (recepion studies), phương pháp xã hội học…
Vận dụng hướng nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa học trong đề tài luận
án, chúng tôi tập trung vào hai đi m cốt lõi: ( ) phân tích những phương diện văn hóa
Nam Bộ đã được Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc lựa chọn phản ánh (2) lý giải nội dung,
nghệ thuật th hiện trong tác phẩm của họ bằng những yếu tố văn hóa Nam Bộ.


17


ông, phía Bắc và Tây Bắc giáp

Campuchia. Vị trí địa - văn hóa của Nam Bộ tạo cho nó có những đặc đi m riêng, thuận
tiện trong việc tiếp nhận, giao thương với khu vực và thế giới.
Về địa hình, Nam Bộ nằm gọn trong lưu vực của hai con sông: ồng Nai và Cửu
Long, với hai ti u vùng (miền) chính: ông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Miền ông chủ


18

yếu là vùng đất bazan màu mỡ và đất phù sa cổ, thoát nước tốt, thuận lợi cho việc trồng
cây công nghiệp trong khi miền Tây với sông ngòi, kênh rạch chằng chịt thuận lợi cho
việc trồng lúa nước, khai thác thủy hải sản.
Về khí hậu, Nam Bộ có hai mùa rõ rệt: mùa nắng và mùa mưa. Miền Tây Nam
Bộ còn có thêm mùa nước nổi, kéo dài từ ba đến bốn tháng, bắt đầu từ tháng chín. Mùa
nước nổi tuy có những khó khăn nhưng đồng thời cũng đem đến cho người dân nơi đây
nhiều nguồn lợi như tôm cá, phù sa và nguồn nước tưới mát cho những cánh đồng mênh
mông mỗi năm.
iều kiện tự nhiên vừa ưu đãi vừa có những thách thức nói trên đã góp phần quan
trọng tạo nên cách ứng xử hòa hợp với tự nhiên của người Nam Bộ.
1.1.2.2. Chủ thể văn hoá
Nam Bộ là vùng đa văn hóa nhất nước. Ở vùng đất này, người Việt cộng cư cùng
với những tộc người khác như Chăm, Khmer, Hoa, Mạ, Stiêng, Chơro, Mơnông… tạo
nên một bức tranh văn hóa đa dạng với cấu trúc chủ th đa tộc người, trong đó người
Việt chiếm đa số.
Từ xưa đến nay, các dân tộc trên vùng đất Nam Bộ cùng nhau chung sống hoà
bình, tôn trọng nhau và quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc diễn ra liên tục,
không ngừng làm giàu thêm những sắc thái phong phú cho mỗi nền văn hóa…
1.1.2.3. Thời gian văn hoá
Thời gian văn hóa Nam Bộ có th được chia làm ba giai đoạn: ( ) Giai đoạn

bối cảnh đó, văn hoá Nam Bộ được hình thành như một sự dung hợp mà cốt lõi là văn
hoá Việt với những yếu tố tiếp biến từ văn hoá Chăm, Khmer, Hoa... và cả phương Tây
sau này.
Nam tiến là một cuộc chinh phục lâu dài, đầy cam go và thử thách. Nơi đây chính
là miền “đất hứa” với tự do, hạnh phúc và tình người nở hoa. ánh giá về ý nghĩa to lớn
của công cuộc khai phá Nam Bộ đối với sự phát tri n của Việt Nam, nhà văn Nguyên
Ngọc đã viết: “Bằng cuộc đi dài dũng cảm đó của cha ông, Tổ quốc ta đã được nhân lên
gấp đôi về lãnh thổ. Và chắc hẳn không chỉ là về lãnh thổ. Chính trong cuộc đi dài này,
văn hoá Việt Nam đã phát triển bằng biến động và hấp thụ hết sức phong phú, để vừa là
chính nó, thậm chí chính nó sâu sắc hơn, vừa trở nên đa dạng, giàu có hơn rất nhiều, mở
rộng hy vọng cho tương lai.[

, 7]. Li Tana, Giáo sư ại học Quốc gia Australia,

viết: “Đàng Trong trở thành đầu tàu thay đổi mang tính lịch sử, và kéo trọng tâm quốc
gia - dù là được nhìn theo nghĩa chính trị, kinh tế hay thậm chí văn hoá - về hướng Nam
từ thế kỷ XVII cho đến khi người Pháp áp đặt sự cai trị.” [196, tr.179].
Thứ ba là giai đoạn tiếp xúc với Phương Tây và hội nhập quốc tế. Văn hóa
phương Tây đã đến với Nam Bộ sớm nhất, trực tiếp nhất, mạnh mẽ nhất so với cả nước,
nó gắn với cuộc xâm lăng của hai thế lực thực dân, đế quốc lớn là Pháp và Mỹ. Nam Bộ


20

kiên cường trong kháng chiến cũng là Nam Bộ đi đầu trong tiếp thu ảnh hưởng văn minh
phương Tây, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngày nay, Nam Bộ vẫn là nơi
năng động nhất nước trong việc hội nhập toàn cầu.
Về thời gian văn hóa, như vậy, Nam Bộ vừa có bề dày trong diễn trình lịch sử của
văn hóa Việt Nam, lại là vùng đất giàu sức trẻ của cả các tộc người ở đây. Nam Bộ là
vùng văn hóa linh hoạt, năng động, hiện đại hóa mạnh nhất nước.

Xuyên là nguồn tư liệu sống cho các trang viết của Sơn Nam sau này. Chín năm kháng
chiến ở bưng biền, nhà văn Sơn Nam có dịp tìm hi u về thiên nhiên, lịch sử và đời sống
con người vùng châu thổ sông Cửu Long, hi u được tính khẳng khái, ngoan cường đấu
tranh cho sự sinh tồn của con người ở vùng đất mới. Lúc này, ông viết nhiều trên
báo Tiếng súng kháng địch và tạp chí Lá lúa - một tạp chí văn nghệ thời chống Pháp.


21

Ông được hai giải thưởng Văn nghệ Cửu Long vào năm
rừng cù lao Dung (giải Nhất) và năm

3-

-

2 với truyện ngắn Bên

với ký sự Tây đầu đỏ (giải Nhì).

Sau hiệp định Giơnevơ, nhà văn Sơn Nam được tổ chức phân công ở lại Rạch
Giá tiếp tục hoạt động văn nghệ và báo chí trong lòng địch. Sau thời gian bị tạm giam tại
một trung tâm “cải huấn” đặc biệt dành cho những người kháng chiến cũ, ông được
trả tự do, sau đó lên Sài Gòn làm báo, viết văn, hoạt động cùng các nhà văn kháng chiến
khác như Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang... Lúc này, Sơn Nam là ký giả nổi tiếng trong
báo giới, với nhiều bài đăng trên các tờ Công lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống… và
đặc biệt là tờ Nhân loại, một tờ báo đã quy tụ được nhiều cây bút yêu nước, có tinh thần
cách mạng, đặt dưới sự chỉ đạo của Thành uỷ Sài Gòn. Với Luật 0/ , chính quyền họ
Ngô khủng bố phong trào đấu tranh đòi thi hành hiệp định Giơnevơ, thống nhất đất nước
và trả thù những người kháng chiến, Sơn Nam đã bị bắt giam ở nhà tù Phú Lợi ( Bình


các hội thảo về lịch sử văn hóa Sài Gòn. Do làm việc quá nhiều, sau khi hoàn thành hai
tập biên khảo “Sài Gòn lục tỉnh xưa” và “Ấn tượng 300 năm”, nhà văn Sơn Nam ngã
bệnh vì kiệt sức.
Sau một thời gian điều trị trong bệnh viện do bị tai nạn giao thông, nhà văn Sơn
Nam trở về căn nhà thuê ở Gò Vấp, sáng sáng lại ra Nhà truyền thống Gò Vấp hoặc đến
nghiên cứu ở các đình miếu, đêm về lại ngồi gõ lọc cọc bên chiếc máy đánh chữ cũ kỹ
những gì đã nghe, đã thấy trong ngày. Ông sống và viết miệt mài như thế cho đến cuối
cuộc đời.
Nhắc đến phong cách sống của Sơn Nam, người ta thường nghĩ đến một trí thức
lớn nhưng có đời sống giản dị. Sơn Nam được mệnh danh là “ông già đi bộ”. Ông từng
nói: “Tôi là người tạo được chút ít tăm tiếng trong giới văn nghệ nhờ cái nghề đi bộ. Đi
bộ rất có ích cho cái việc gọi là “lao động trừu tượng”. Sơn Nam vừa đi bộ vừa ngẫm
nghĩ đ rồi sau đó cho ra đời những trang văn bình dị mang đậm hơi thở của cuộc sống
đời thường.
Khi trả lời nhà báo phỏng vấn, Sơn Nam khẳng định ông cầm bút vì sinh kế, song
điều thiêng liêng hơn mà ông không nhắc đến, đó là lòng đam mê văn nghệ. Lòng đam
mê ấy đã tạo nên sức sống và góp phần làm nên bút lực sung mãn của ông. Cuộc đời của
Sơn Nam gắn bó thiết tha với vùng đất Nam Bộ, nhất là Sài Gòn và miền Hậu Giang quê
hương ông. Bởi vậy, các công trình biên khảo và sáng tác văn chương, nhất là truyện
ngắn, Sơn Nam thường viết về vùng đất này.
1.2.2. Sự nghiệp sáng tác của Sơn Nam
Tiếp bước các nhà văn lớp trước, Sơn Nam là một trong số rất ít nhà văn thành
công khi viết về văn hoá Nam Bộ. Tác phẩm của ông thường tập trung viết miền Tây
Nam Bộ và Sài Gòn xưa, qua đó th hiện nét đẹp riêng của miền đất này, mà nổi bật nhất
là tái hiện lịch sử khẩn hoang, thiên nhiên và con người nơi đây.
1.2.2.1. Quan điểm sáng tác của Sơn Nam
Khi mới đặt chân lên Sài Gòn, Sơn Nam được Bình Nguyên Lộc, thuộc lớp nhà văn
đàn anh, khuyên nên viết về đất và người vùng Hậu Giang và Sơn Nam đã nghe theo lời
khuyên chân tình ấy. Tác phẩm của ông được các báo chọn đăng và được nhiều người đọc

Sơn Nam “tự chọn cho mình cách viết truyện theo kiểu dã sử hiện đại và khảo
cứu về lịch sử khẩn hoang vùng đất mới Nam Bộ. Cách viết này được nhiều độc giả quan
tâm, lại không khiêu khích chính quyền đương thời. Người đọc tinh tế cũng dễ nhận ra
1

Dương Thanh- “Sơn Nam: Bản sắc nước mắm, cá kho không bao giờ phai”
(http://thoangsaigon.com/2010/05/s%C6%A1n-nam-nha-van-%E1%BB%A7a-vungd%E1%BA%A5t-m%E1%BB%9Bi-nam-b%E1%BB%99/)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status